
Phê bình văn học Trung
Quốc thập kỷ90
Trong thếkỷXX này, phê bình văn học không có thập kỷnào như
thập kỷ90, có nhiều sựhoài nghi mình, chất vấn mình và nhìn lại mình đến
vậy, có nhiều sựtìm tòi vềtri thức và phương pháp đến vậy. ởvào thời kỳ
mà các lĩnh vực xã hội, tưtưởng, văn hoá có sựchuyểnđổi mô hình, phê
bình văn học sau khi mấtđi sựquy thuậnđối với truyền thống và đối tượng
phản kháng, dường nhưliên tục tảxung hữuđột chốn không người, phải
đối diện với chính mình giữa chốn không người, từsựhưng khởi và thí
nghiệm của phương pháp phê bình chủnghĩa hậu hiệnđại, từviệcđề xuất
“Phê bình phái Học viện”, đến sựthịnh hành phổbiến của phê bình văn hoá
nhưhiện nay, phê bình văn học luôn ởtrong tình trạng điều chỉnh và kiếm
tìm những góc độ và phương pháp tiếp cận văn học Trung Quốc một cách
hữu hiệu nhất. Những nỗlựcđó không phải không có ý nghĩa, nó không chỉ
đem đến cho phê bình tầm nhìn và cảnh giới mới, mà còn làm cho phê bình
ngày càng đa dạng, phong phú. Đương nhiên, chúng ta cũng phải thấy
rằng, phê bình văn học thập kỷ90 luôn phảiđương đầu với áp lực cực lớn,

từ“Sựvắng mặt của phê bình” đến lời tuyên cáo “Sựcáo chung của phê
bình văn học” đăng trên trang đầu mấy kỳVăn luận báo hồiđầu năm 2000,
tưthái hãi hùng đó,đương nhiên chúng ta bất tất phảiđồng tình, song vấn
đề tảxung hữuđột và thực trạng của phê bình văn học, cầnđược nhìn
nhận một cách thẳng thắn. Phê bình của chúng ta khi đối diện với hiện thực
văn học thập kỷ90, tỏra chưa thật hữu hiệu, chưađủ sức thuyết phục,
chưa chiếmđược sự đồng tình và nhất trí của mọi người, bao gồm cảbản
thân giới phê bình. Chúng ta cần phải suy ngẫm xem những vấnđề này đã
ra đời nhưthếnào? Căn bệnh nằmở đâu? Làm thếnào để xây dựng một
nền phê bình hữu hiệu hơn, tựgiác hơn? Hôm qua chúng ta tụhọp tạiđây
là để thảo luận những vấnđề này. Tôi hy vọng cuộcđối thoại lần này sẽ
đánh giá phê bình văn học thập kỷ90 một cách khoa học, trước tiên thiết
nghĩnên bắtđầu từviệc nhìn lại một chút phê bình văn học thập kỷ80, lấy
đó làm một tham chiếu, tiến tới chỉra những hiện tượng và vấnđề chủyếu
của phê bình văn học thập kỷ90, cuối cùng là sựsuy nghĩlại vềnhững
thành tựu và vấnđề của phê bình văn học gầnđâyđược mọi người quan
tâm.
I - Nhìn lại thập kỷ80
Mạnh Phồn Hoa (Viện Văn học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Trung Quốc): Phải thừa nhận rằng, phê bình văn học thập kỷ90 không sôi
động nhưthập kỷ80, mọi sự đổi thay trong đời sống xã hội thập kỷ80 đều
được phản ánh trong sáng tác, phê bình văn học, cùng với sáng tác văn
học tạo thành mối quan hệ đồng cấu. Thập kỷ80, phê bình văn học và sáng
tác văn học vềcơbảnởvào trạng thái nhất trí , mọi người làm gì, cùng đổ
xô lại làm, nào là văn học Vết thương, văn học Tầm căn, văn học Cải cách,
văn học Thực nghiệm... điềuđó thểhiện một loại trạng thái của sáng tác
văn học, nghiên cứu văn học và phê bình văn học, những vấnđề, xuất phát
điểm mà mọi người suy nghĩ, phương pháp phê bình mà mọi người sử
dụng, vốn tưtưởng chủyếu của mọi người, về đại thểlà giống nhau. Có
điều, phê bình văn học thập kỷ80 tuy sôi động, song đều khá đơn thuần,

khá giảnđơn. Thập kỷ90 đã có bước tiến so với thập kỷ80, đã khắc phục
được sựphù hoa, ồn ào bềngoài. Nó tuy không giống thập kỷ80, đem đến
sựsán lạn, khiến người ta bừng tỉnh, song xét từý nghĩa của khoa học phê
bình, thành tựu mang tính xây dựng đã vượt xa thập kỷ80. Thập kỷ90, đội
quân phê bình chủlực là các nhà nghiên cứu văn học và phê bình văn học
đượcđào tạo từcác học viện, còn có các cá nhân lưu họcởnước ngoài
về, xét từmôi trường lớn, việc giao lưu của giới học thuật trong và ngoài
nước rất nhộn nhịp, học phái khá nhiều, vốn tri thức cũng khá nhiều. Sự
quan tâm củađương thời có thểkhông nhưthập kỷ80, song phê bình trong
thập kỷ90 đã phát triển thành một ngành độc lập, tạo dựng mình bằng
những tri thức khoa học. Phê bình có thể độc lập, không đối diện với văn
học cụthể, bản thân phê bình cũng có thểphát triển.
Vương Quang Minh: Tôi cảm thấy phê bình văn học thập kỷ80, về
cơbản là phê bình mang tính kinh nghiệm, ta có thểphân thành hai lớp:
Một là lớp các nhà phê bình tuổi khá cao, lớn hơn chúng ta một thếhệ, họ
rất quan tâm đến những kinh nghiệm chung của lịch sửxã hội, họdường
nhưcho rằng thếgiới ngôn từcủa văn học chỉlà sựphản ánh những yêu
cầu “hiện thực” ngoại tại (bên ngoài), do đó những điều mà họ đặt ra đối với
văn học, những tiêu chuẩn mà họdùng để đánh giá văn học là “chân thực”,
là “yêu cầu tất nhiên lịch sử”; lớp kia là những người từng bị đẩy lên núi
xuống làng thời “Cách mạng văn hoá”, từng bịnhập vào tầng đáy xã hội họ,
hiểu sâu trạng thái sinh tồn của quảng đại dân chúng, tin vào những quan
sát và cảm thụcá nhân, sựbiểuđạtđiển hình của họlà “những điều tôi
bình luận chính là tôi”. Tôi cho rằng những phê bình kinh nghiệm nhưvậy
đã cấu thành đặcđiểm chủyếu của phê bình văn học Trung Quốc thập kỷ
80, mà khẩu hiệuhôứng vớiđặcđiểmđó là “bạt loạn phản chính” (dẹp sự
hỗn loạn trởvề đường ngay), “trởvềvới văn học”. Sựphát triển của văn
họcđã đặt ra những thách thứcđối với phê bình lý luận, đó là “phê bình văn
học phải làm gì trước sự đa dạng hoá của sáng tác”. Nhiều nhà phê bình
cảm thấy vốn lý luận, bối cảnh tri thức và phương pháp phê bình của mình
đã không đủ hoặc không còn phù hợp nữa. Phê bình kiểu kinh nghiệm có

cái hay của nó, những cảm thụdo kinh nghiệm dễmang lại tiếng nói chung
cho quảng đạiđộc giả. Song phê bình kiểu kinh nghiệm cũng có điều tệhại
của nó, nếu cựly giữa kinh nghiệm của nhà phê bình với các tác phẩm mà
họphảiđối diện ngày càng lớn, họsẽkhông thểphê bình được. Chẳng hạn
khi tiểu thuyết thực nghiệm Tiên phong (chỉcác sáng tác vận dụng các thủ
pháp sáng tác của văn học hiệnđại phương Tây) xuất hiện, nhiều nhà phê
bình đã mấtđi năng lực ngôn thuyết, đó chính là sựgiới hạn của phê bình
kiểu kinh nghiệm. Do đó, nhà phê bình cùng với kinh nghiệm của mình, cần
phải tìm đến sựtrợgiúp của lý luận và phương pháp, trong nội bộvăn học
tìm kiếm cơchếquan sát của phê bình và phương thức lập luận, có như
vậy mới có thểvừađápứng nhu cầu của mình,vừa có thểxửlý những tác
phẩm văn nghệmà kinh nghiệm trướcđây không thểxửlý nổi, phòng ngừa
sựthành kiếnđối với lịch sửvà lý luận. Tiểu thuyết thực nghiệm Tiên phong
lúc đó sởdĩ đã có được những nhà phê bình của mình, tuyệt nhiên không
phải do họcó nhiều kinh nghiệm, mà do họ đã tiếp thu được lý luận và tri
thức phê bình mới, cho dù giống nhưtiểu thuyết thực nghiệm Tiên phong
tồn tại vấnđề hoà nhập giữa kinh nghiệm bản thổvớiảnh hưởng ngoại lai,
những phê bình đó cũng tồn tại vấnđề kết nối ra sao giữa vốn tri thức phê
bình ngoại lai với các tác phẩm văn nghệcủa Trung Quốc, hiện tượng “đọc
sai” hoặc loại bỏnhau của lý luậnđối với các tác phẩm văn nghệkhông
phải chuyện hiếm, song dù sao, tôi cho rằng đó là lời kêu gọi khẩn thiếtđối
với việc nâng cao tri thức và lý luận trong phê bình văn học.
Mạnh Phồn Hoa: Thập kỷ80 là một thời kì rấtđặc thù, lớp trí thức
bao gồm các nhà phê bình trong đó, tình cảm thầm kín trong lòng và hình
thái ý thức chủlưu thắm thiết nhưtuần trăng mật. Nghĩa là, tấm bảnđồ văn
hoá của thập kỷ80 chúng ta hiểu rất rõ, nhà vănđang ở đâu, tổquốcđang
kêu gọi chúng ta điều gì, chúng ta đang nằmở đâu, đều hiện lên rất rõ
trong kết cấu bảnđồ văn hoá đó. Sau khi bước sang thập kỷ90, tấm bản
đồ văn hoá của thập kỷ80 đã hết thiêng, phê bình văn học phải phát triển
ra sao, hoặc trong toàn bộkết cấu phê bình văn học, chúng ta nằmở đâu
đều rất tù mù. Do đó một sốvấnđề lại quay vềlúc khởiđiểm: Sáng tác văn

học là để làm gì? Phê bình văn học là để làm gì? Những thứ đó đều trở
thành vấnđề cả. Xét tổng thể, tính tri thức, tính học thuật, tính khoa học
trong phê bình văn học thập kỷ90 đều mạnh hơn thập kỷ80 nhiều. Trong
thập kỷ80, phê bình văn học có nhân vật mang tính tượng trưng, còn trong
thập kỷ90, tình trạng đó đã không tồn tại, mọi người ai nấy có cách đi
riêng, thờiđạiđối thoạiđã qua rồi: sựbiểuđạt của người này và người kia,
bao gồm các phù hiệu, sựmong đợi trong lòng đều rất khác nhau, mọi
người ngồi lại với nhau rất khó thống nhất một vấnđề nào, anh cho rằng có
vấnđề, tôi lại bảo không. Phê bình văn học quá ưhỗn loạn, do đó nhiều
người không bằng lòng với bản thân phê bình văn học. Trong thập kỷ80
các loại lời nói đều có thểkhá dễdàng thống nhất có được tiếng nói chung.
Còn thập kỷ90 lại không nhưvậy, từkhi mấy hình thức phê bình của phê
bình mớiđược du nhập, nhất là sau khi xuất hiện phê bình văn hoá, sự
phân rẽngày càng lớn.
ĐàoĐông Phong (Khoa Trung Văn - Đại học Thủ Đô): Tôi muốn
nhìn nhận vấnđề từgóc độ lý luận xã hội mang tính hiệnđại và nguy cơ
đại tựsựhiệnđại hoá. Phê bình văn học thập kỷ80 sởdĩxuất hiện tình
trạng mang tính cộng đồng hoặc mang tính toàn khối, nguyên nhân căn bản
nhất e là toàn bộthập kỷ80, giới trí thức Trung Quốc bao gồm chủthểgiới
phê bình văn họcđềuđắm chìm trong đại tựsựhiệnđại hoá. Từtrên xuống
dưới, từquan phương đến dân gian đều nhưvậy. Tựsựhiệnđại hoá lúc
đó là loại lời nói lý tưởng hoá, thiếu sắc thái hồn nhiên. Một trong những
đặcđiểm của loại tựsựhiệnđại hoá là thiết lập một seri đối lập nhịnguyên:
Hiệnđại/ truyền thống, cải cách/ phản cải cách, tả/ hữu, hiệnđại hoá/ phản
hiệnđại hoá. Lúc đó dù là sáng tác văn học hay phê bình văn học,vềcơ
bảnđều nằm trong mô thức tựsựhiệnđại hoá nhưvậy. Trong lĩnh vực phê
bình văn học, những ảnh hưởng khá lớn gồm có sự đánh giá lạiđối với Lỗ
Tấn của Vương Phú Nhân, thuyết “xung đột văn minh/ ngu muội” của Quý
Hồng Chân, họ đều thảo luận vấnđề theo mô thứcđối lập nhịnguyên hiện
đại và truyền thống nhưvậy, bao gồm cảphương thứcđặt vấnđề trong
công trình Văn học Trung QuốcthếkỷXX của Hoàng TửBình và một số

