intTypePromotion=1
ADSENSE

Phong trào chống phá Bình Định nông thôn ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ: Phần 1

Chia sẻ: Hoa La Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:58

83
lượt xem
19
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Qua Tài liệu “Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (giai đoạn 1969 – 1972)” người viết muốn thông qua việc dựng lại thực tế diễn biến cuộc kháng chiến giai đoạn này từ góc độ trận tuyến bình định – chống phá bình định ở một chiến trường quan trọng là Nam bộ để phân tích lý giải một số vấn đề về nội dung, vai trò, đặc điểm, cùng ảnh hưởng của trận tuyến ấy đối với sự phát triển của cuộc kháng chiến ở Nam bộ nói riêng, chiến trường miền Nam và cả ba nước Đông Dương nói chung, trong giai đoạn 1969 – 1972. Tài liệu gồm 2 chương. Phần 1 gồm nội dung 2 chương đầu Tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phong trào chống phá Bình Định nông thôn ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ: Phần 1

  1. “ðịch kìm kẹp ta, ta phá thế kìm kẹp, ñịch kìm kẹp ta, ta lại phá. ðịch càn quét, ta chống càn quét, ñịch lại càn quét, ta lại chống càn. ðịch lập ấp chiến lược, ta phá ấp chiến lược, ñịch lại lập, ta lại phá. Qua cuộc ñấu tranh giằng co và quyết liệt ñó, mỗ ngày ta tiến thêm ñược một bước, ñịch suy yếu ñi một bước, tiến tới ta mạnh hơn ñịch và giành thắng lợi hoàn toàn.” (Tổng kết phần xã chiến ñấu chống phá bình ñịnh tại Hội nghị dân quân Nam Bộ năm 1962)
  2. LỜI GIỚI THIỆU Trong toàn bộ cuộc ñấu tranh kéo dài 21 năm (1954 – 1975) trên quy mô rộng lớn, với cường ñộ vô cùng khốc liệt giữa ñế quốc Mỹ xâm lược và nhân dân Việt Nam, “bình ñịnh” và chống phá bình ñịnh là một mặt trận tưởng như âm thầm nhưng thực ra lại cực kỳ nóng bỏng, quyết liệt và ñẫm máu. Với kẻ xâm lược và tay sai của chúng thì “bình ñịnh” là một biện pháp chiến lược cơ bản và gắn bó chặt chẽ với biện pháp “tìm diệt”, nhằm mục tiêu chung là triệt phá cơ sở chính trị và tiêu diệt lực lượng vũ trang ñặng ñè bẹp cách mạng Miền Nam, áp ñặt ách thống trị thực dân kiểu mới ở Miền Nam, chia căt vĩnh viễn nước Việt Nam thành “hai quốc gia” với hai chế ñộ chính trị ñối lập. Thực ra, thời nào cũng vậy, với kẻ xâm lược, ñể thôn tính ñất ñai dưới dạng này hay dạng khác thì bao giờ “bình ñịnh” cũng vừa là biện pháp, vừa là mục tiêu. Có ñiều, trong cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ ở Miền Nam, do tính chất và tầm vóc của nó, “bình ñịnh” ñược Mỹ - ngụy ñưa lên hàng “quốc sách”, là một cuộc chiến nhằm “tranh thủ trái tim và khối óc người nông dân Miền Nam”, “ñâm nhát dao quyết ñịnh vào trái tim Việt cộng”…Bởi vậy, trên thực tế, ñể “bình ñịnh”, Mỹ - ngụy ñã không từ một thủ ñoạn tàn bạo, thâm ñộc nào hòng khuất phục nhân dân ta ở Miền Nam, buộc người dân phải từ bỏ phong tục tập quán, nếp sống văn hóa của người Việt, rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa, mồ mả tổ tiên vào sống trong các trại tập trung ñược mệnh danh bằng những tên gọi “mỹ miều”, như “khu trù mật”, “ấp chiến lược”, “ấp tân sinh”, “ấp ñời mới”…Làm như vậy, Mỹ - ngụy muốn thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ ñối với các tầng lớp nhân dân Miền Nam – chủ yếu là nông dân vùng giáp ranh, vùng nông thôn ñồng bằng, vùng ven ñô thị; tách nhân dân khỏi sự liên hệ với cách mạng, xóa bỏ “hạ tầng cơ sở” của chiến tranh nhân dân bao gồm cơ sở chính trị, căn cứ du kích, vùng làm chủ và vùng giải phóng của cách mạng Miền Nam; thực hiện “tát nước bắt cá, cô lập lực lượng cách mạng Miền Nam. Cuộc ñấu tranh chống phá bình ñịnh của quân ta ở Miền Nam thời ñánh Mỹ, vì vậy, diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt và trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng… Trong cuộc chiến ñấu ñầy gian khổ, hy sinh ñó, cán bộ, chiến sĩ và ñồng bào ta ở Miền Nam, với niềm tin son sắt vào ðảng và Bác Hồ kính yêu; với trí thông minh và lòng dũng cảm ñã bền bỉ thực hiện phương châm “3 bám”, “một tấc không ñi, một li không dời”, với nhiều hình thức và biện pháp ñấu tranh, hết sức tài tình, linh hoạt, sáng tạo, làm thất bại các “kế hoạch” các “chương trình bình ñịnh” tàn bạo và thâm ñộc của Mỹ - ngụy. Với tính chất, vai trò và vị trí của nó trong toàn bộ cuộc chiến giữa ñế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam, “bình ñịnh” và chống phá bình ñịnh ñã, ñang và chắc chắn sẽ còn là chủ ñề lớn có sức thu hút sự quan tâm của tác giả trong và ngoài nước. Nhưng, cho ñến hôm nay, sau gần một phần tư thế kỷ kể từ khi cuộc
  3. chiến kết thúc , quả thực, vẫn còn ít những công trình chuyên khảo ñi sâu vào mảng ñề tài quan trọng và phức tạp này và bởi vậy “Phong trào chống phá bình ñịnh nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (giai ñoạn 1969-1972)” của tác giả Hà Minh Hồng là một nỗ lực của giới sử học Việt Nam nhằm khảo lấp khoảng trống kể trên và vì thế, sự xuất hiện của chuyên khảo này là ñáng ñược trân trọng. Tác giả Hà Minh Hồng từng là người lính cầm súng chiến ñấu trên chiến trường Miền Nam thời ñánh Mỹ. Kỷ niệm những tháng ngày máu lửa năm xưa mà bản thân và biết bao ñồng ñội trải qua chắc chắn là một trong những ñộng lực thôi thúc anh dành công sức ñể viết công trình này. Bạn ñọc ở ñây sẽ tah6y1 cuộc ñấu tranh ñầy cam go, thử thách của quân và dân Nam Bộ thời kỳ 1969- 1972; thấy ở ñây sự lãnh ñạo, chỉ ñạo của các cấp ủy ðảng cũng như sự sáng tạo của quần chúng nhân dân trong cuộc chiến ñấu âm thầm mà dữ dội nhằm ñánh bại các cố gắng bình ñịnh ñiên cuồng của Mỹ - ngụy sau Tết Mậu Thân 1968 ñếnm trước ngày ký Hiệp ñịnh Paris. Trên bình diện khoa học, qua chuyên khảo này, bạn ñọc có thêm cơ sở ñể suy nghĩ sâu hơn về mặt phương pháp khi muốn cắt ngang, bổ dọc các vấn ñề thuộc về lịch sử cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam ( 1954-1975). Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng ñông ñảo bạn ñọc. Hà Nội – Mùa Thu ðộc lập 1999 ðại tá PGS – TS TRỊNH VƯƠNG HỒNG Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
  4. MỞ ðẦU Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ñể giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất ñất nước, quân dân Miền Nam ñã phải ñương ñầu, chống lại nhiều âm mưu, thủ ñoạn, các chiến lược chiến tranh của ñế quốc Mỹ. Từ 1954, sau thất bại của cuộc “chiến tranh một phía”(1) tiếp ñến là chiến lược “chiến tranh ñặc biệt” rồi “chiến tranh cục bộ”, tại Miền Nam giai ñoạn 1969- 1972 ñế quốc Mỹ tiếp tục áp dụng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” lấy bình ñịnh nông thôn làm biện pháp chiến lược, lấy việc giành dân làm mục tiêu ñể kết thúc chiến tranh biến Miền Nam thành thuộc ñịa kiểu mới của Mỹ. Thời gian này, ñịch ñã ñạt ñến ñỉnh cao của cố gắng chiến tranh và tạm thời thu ñược những kết quả ban ñầu về bình ñịnh mà chúng coi là “ chìa khóa” thắng lợi của chiến tranh. Trong khi ñó cũng thời gian này, sau Mậu Thân 1968, các lực lượng của ta bị ñịch ñẩy vào tình thế gặp nhiều khó khăn, phức tạp nhằm bảo tồn, phát triển lực lượng tiếp tục ñưa cách mạng tiến lên. Nhưng tại sao sau bốn năm nỗ lực như vậy, Mỹ lại phải ký Hiệp ñịnh Paris, kết thúc thất bại cuộc chiến tranh xâm lược của họ; còn ta giành ñược thắng lợi quyết ñịnh và mở ra thời cơ chiến lược cho việc kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước? Có thể lý giải như thế nào những nguyên nhân của tình hình diễn tiến ấy ở góc ñộ trận tuyến ñấu tranh chống phá bình ñịnh? Những vấn ñề trên ñây ít nhất cũng ñã ñược một số người nghiên cứu giải ñáp trong những năm chiến tranh cũng như sau khi chiến tranh kết thúc. Thời gian gần ñây giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nhiều ñến ñề tài về chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975. Nhưng ít ai nghiên cứu cuộc chiến ấy dưới góc ñộ trận tuyến chống phá bình ñịnh – một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nghiên cứu phong trào chống phá bình ñịnh ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giai ñoạn từ sau cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ñến trước khi ký Hiệp ñịnh Paris, là nghiên cứu một chiến trường cụ thể với một nhiệm vụ cụ thể, trong một giai ñoạn gay go, ác liệt, phức tạp bậc nhất của cuộc kháng chiến. Phong trào chống phá bính ñịnh ở Nam Bộ giai ñoạn này có ý nghĩa rất quan trọng ñối với việc ñánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, giành thắng lợi quyết ñịnh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với ñề tài “Phong trào chống phá bình ñịnh nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (giai ñoạn 1969 – 1972)”, người viết muốn thông qua việc dựng lại thực tế diễn biến cuộc kháng chiến giai ñoạn này từ góc ñộ trận tuyến bình ñịnh – chống phá bình ñịnh ở một chiến trường quan 1 Còn gọi là cuộc chiến tranh không tuyên bố do Mỹ và chính quyền Ngô ðình Diệm, ñơn phương tiến hành ở Miền Nam (1954-1960) sau Hiệp ñịnh Geneve 1954 về Việt Nam nhằm ñàn áp, dập tắt phong trào ñấu tranh ñòi hòa bình, ñòi thi hành hiệp ñịnh của nhân dân Miền Nam.
  5. trọng là Nam Bộ ñể phân tích lý giải một số vấn ñề về nội dung, vai trò, ñặc ñiểm, cùng ảnh hưởng của trận tuyến ấy ñối với sự phát triển của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ nói riêng, chiến trường Miền Nam và cả ba nước ðông Dương nói chung, trong giai ñoạn 1969 – 1972. Trên cơ sở dựng lại bức tranh tổng thể về bình ñịnh và chống phá bình ñịnh trong những năm ñịch tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, người viết cũng muốn góp phần khẳng ñịnh: giai ñoạn 1969 – 1972 là giai ñoạn giành thắng lợi quyết ñịnh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng là giai ñoạn quyết ñịnh số phận cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, trong ñó năm 1972 lại là năm quan trọng nhất, ñánh dấu bước phát triển cao nhất diễn biến chiến tranh của ta và ñịch giai ñoạn này. Chống phá bình ñịnh những năm 1969 – 1972 ở Nam Bộ là một trong những trận tuyến cam go nhất của cách mạng miền Nam; ñồng thời cũng là trận tuyến góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Hơn 20 năm qua sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, ñất nước thống nhất và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, sức mạnh của cuộc kháng chiến chống Mỹ, sức mạnh của chiến tranh nhân dân, ñã và ñang ñược toàn ðảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn lúc nào hết, những bài học về toàn dân ñánh giặc, những kinh nghiệm lãnh ñạo phong trào quần chúng nhân dân kiên trì và sáng tạo chống phá bình ñịnh, những thắng lợi của việc vận dụng dường lối của ðảng trong chiến tranh, tất cả ñang rất cần ñược tổng kết ñầy ñủ. Việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung, trận tuyến chống phá bình ñịnh nông thôn nói riêng, là một việc hết sức cần thiết và cấp bách. Là người ñã tham gia trong những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hiện ñang giảng dạy lịch sử Việt Nam, tôi tự ñặt cho mình nhiệm vụ góp phần vào nghiên cứu giai ñoạn lịch sử ñầy khó khăn, nhưng cũng rất vẻ vang này của dân tộc. Nhân cuốn sách ñược ra mắt bạn ñọc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS Hồ Sĩ Khoách, Thiếu tướng – GS – PTS Huỳnh Nghĩ, cố ðại tá – PGS – PTS Nguyễn Quốc Dũng, PGS – PTS Nguyễn Phan Quang, ðại tá – PGS – PTS Trịnh Vương Hồng, cùng các giáo sư, các nhà khoa học, các anh chị ñã giúp ñỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, biên soạn. Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp ñỡ, tạo ñiều kiện nghiên cứu, xuất bản của các cơ quan: - Khoa Sử trường ðại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ðại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm Lưu trữ quốc gia II tại thành phố Hồ Chí Minh. - Phòng khoa học CN – MT Quân khu 7
  6. - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - Nhà xuất bản Quân ñội nhân dân. Cuối cùng tôi rất mong nhận ñược những ý kiến ñóng góp, phê bình, bổ sung của ñộc giả về những sai sót và khiếm khuyết không tránh khỏi trong cuốn sách này. Xin chân thành cảm ơn! Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 11 năm 1999 TÁC GIẢ
  7. Chương một BỐI CẢNH CỦA PHONG TRÀO CHỐNG PHÁ BÌNH ðỊNH NÔNG THÔN Ở NAM BỘ GIAI ðOẠN 1969 – 1972 I. VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA NAM BỘ Nam Bộ hiện nay gồm các tỉnh, thành: Tây Minh, Bình Dương, Bình Phước, ðồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang (1) Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 – 1975, Nam Bộ chiếm diện tích rộng lớn và quan trọng nhất của chiến trường B2 của ta. ðối với ñịch. Chiến trường Nam Bộ thuộc vùng III/CT và vùng IV/CT gồm ðô thành Sài Gòn, “thù ñô” của chế ñộ ngụy và 28 tỉnh: Biên Hòa, Bình Dương, Bình Long, Bình Tuy, Hậu Nghĩa, Long An, Long Khánh, Phước Long, Phước Tuy, Tây Ninh, Vũng Tàu, Gia ðịnh, An Giang, An Xuyên, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Châu ðốc, Chương Thiện, ðịnh Tường, Gò Công, Kiên Gaing, Kiến Hòa, Kiến Phong, Kiến Tường, Phong Dinh, Sa ðéc, Vĩnh Bình, Vĩnh Long. Tháng Tám năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam bùng nổ. ñã lật nhào ách thống trị hơn 80 năm của thực dân phát xít cùng chế ñộ phong kiến ngàn năm trên ñất nước ta. Lần ñầu tiên ở một nước vốn là thuộc ñịa nửa phong kiến, một chính quyền nhân dân dưới sự lãnh ñạo của ðảng vô sản – ðảng cộng sản Việt Nam ñã ra ñời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập (2 tháng 9 năm 1945), “ñã chặt ñứt một khâu trọng yếu trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa ñế quốc ở ðông Nam Á, báo hiệu nền thống trị của chủ nghĩa ñế quốc ñến ngày sụp ñổ” (2) Hình ảnh “Nước Việt Nam từ máu lửa, rũ bùn ñứng dậy sáng lòa” (3) làm cho chủ nghĩa ñế quốc ñiên cuồng chống lại. Chúng chia phần và giành giật nhau, rồi lại dàn xếp và tạo ñiều kiện cho nhau ñể tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ của ta. Thực dân Pháp tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài chín năm hòng lập lại chế ñộ thuộc ñịa. Còn ñế quốc Mỹ thì nhìn thấy Việt Nam và cả “ðông Dương là phần thưởng ñặt cho một trò chơi lớn” (4) Ngay sau ñó, khi triển khai chiến lược toàn cầu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ dã coi Việt Nam, nhất là Nam Việt Nam, là nơi tập trung nhiều quyền lợi quân sự, chính trị của họ. 1 Các tỉnh, thành thuộc Quân khu 7 và Quân khu 9 hiện nay. Tháng 6 năm 1999, tỉnh Bình Thuận và Lâm ðồng thuộc Quân khu 5 ñược sát nhập về Quân khu . 2 Lịch sử Quân ñội nhân dân Việt Nam - Tập 1 – Nxb Quân ñội nhân dân H.1994 Tập 1 – Tr.131 3 Thơ Nguyễn ðình Thi 4 Nhuận vũ, Những bế tắc của lầu năm góc sau Việt Nam. Nxb Quân ñội nhân dân H.1981, Tr8
  8. Dưới tầm mắt chiến lược của Mỹ, Nam Việt Nam là một ñầu cầu lục ñịa thuận lợi cho việc mở rộng không gian chiến lược ở khu vực này. Biển Việt Nam có thể sử dụng những căn cứ không quân, hải quân ở ðông Nam Á ñể khống chế Nam Thái Bình Dương và eo biển Ma-lắc-ca, con ñường tiếp thức ăn cho nền công nghiệp Nhật Bản. ðất liền Nam Việt Nam nối sang Campuchia, Thái Lan, Miến ðiện, kéo dài sang hàng loạt các nước vùng Nam Á, Trung Cận ðông. ðường bộ, ñường biển, ñường không của Nam Việt Nam ñều có vị trí ñầu mối và nối liền gần nhất với nhiều quốc gia. Có thể nói trên tất cả các phương tiện chính trị, quân sự, kinh tế, trước mắt và lâu dài, Nam Việt Nam là nơi có “quyền lợi sống còn” cần ñược “ưu tiên” trong chiến lược toàn cầu của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương.(1) Nằm giữa vùng chiến lược ấy, Nam Bộ có những ñặc ñiểm rất quan trọng, mà bất cứ bên nào, ta cũng như ñịch trong chiến tranh ñều không thể không quan tâm. Phía Bắc tiếp liền với Tây Nguyên, phía ñông là biển Nam Hải, phía nam là VỊnh Thái Lan, phía tây giáp Campuchia, Nam Bộ như một ñầu cầu nối liền các vùng dất, vùng biển có vị trí số 1 của phía Nam ðông Dương. ðịa hình ñịa thế Nam Bộ chia ra hai bộ phận và có những ñặc ñiểm khác nhau. Miền ðông với những cao nguyên thấp là những ngọn ñồi lượn sóng, ñộ cao trung bình 200 mét so sánh với mặt biển, thoải dần từ tây – bắc xuống dông – nam. Những ngọn núi vừa như Chứa Chan (cao 858 mét), Bà Rá (cao 736 mét), Bà ðen (cao 986 mét) ñứng ở miền ñất thoai thoải phía Nam Trường Sơn có tầm nhìn khá rộng. Miền tây có ñịa thế thấp, nhiều noi chỉ 1 – 2 mét so sánh với mặt biển và bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt. Núi Thất Sơn ở Châu ðốc – Hà Tiên có khả năng khống ch6e1 một vùng rộng lớn. ðặc biệt, Nam Bộ còn có Sài Gòn là ñô thị lớn nhất Miền Nam, một trong những sào huyệt của nền ñô hộ Pháp trước ñây và là sào huyệt lớn nhất của chế ñộ thực dân kiểu mới của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam những năm chiến tranh. Là một ñầu mối giao thông khu vực, Sài Gòn nối ra miền Trung bằng quốc lộ 1, xuống miền Tây bằng quốc lộ 4, lên miền ðông và sang Campuchia bằng quốc lộ 13, ra biển bằng quốc lộ 15, lên cao nguyên bằng quốc lộ 20… Về kinh tế, miền ðông Nam Bộ rộng 27.920 ki-lô-mét vuông, vốn là vùng ñất của những núi lửa ñã tắt và của các thềm sông ñã lùi xa. ðất ñỏ từ phún thạch và ñất xám từ phù sa cổ làm cho rừng và các loại cây công nghiệp lâu niên quanh năm xanh tốt, ñem lại nguồn nông thổ sản phong phú. Còn miền Tây Nam Bộ là miệt ñồng bằng châu thổ rộng 39.950 ki – lô – mét vuông, do hai hệ sông Cửu Long và ðồng Nai bồi ñắp, ñó là sản phẩm của sự lùi dần của biển và sự tiến tới của con người. Dấu tích của kie61nt ạo còn sót lại là Rừng Sác, ðồng Tháp Mười, U Minh. Những sống ñất (giồng ñất) rỗng hàng triệu héc ta dọc sông Tiền, sông Hậu và miền duyên hải, chúng ñược hình thành bởi sự lắng tụ phù sa trong môi trường nước ngọt. ðó chính là vùng lý tưởng nhất của việc cư 1 Xem Nhuận Vũ, Sdd, Tr 10-20
  9. trú và trồng trọt. Sài Gòn rộng hơn 2.000 ki-lô-mét vuông, theo thời gian dần dần ñã trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của các tỉnh phía nam, của Nam Bộ; Sài Gòn cũng sinh dưỡng một tiềm năng kinh tế công, thương nghiệp, xuất, nhập khẩu, dịch vụ mà hai miền ðông – Tây Nam Bộ không thể nào có ñược. Nguồn vật lực của Nam Bộ vì thế rất dồi dào. Về dân số, năm 1954 Nam Bộ có 9,5 triệu người (niền ðông có gần 3 triệu, Sài Gòn có 1,5 triệu, miền Tây có khoảng 5 triệu). Năm 1974 Nam Bộ có 13,3 triệu người dân, chiếm 65,5 phần trăm dân số toàn Miền Nam; trong ñó miền ðông và Sài Gòn có 6,1 triệu dân, chiếm 30 phần trăm toàn Miền Nam và 45,9 phần trăm toàn Nam Bộ; miền Tây có 7,2 triệu dân, chiếm 35,5 phần trăm toàn Miền Nam và 54,1 phần trăm toàn Nam Bộ. Dân số bình quân toàn Nam Bộ trong 21 năm chiến tranh (1954 – 1975) là 11,4 triệu người, chiếm 66,5 phần trăm dân số bình quân toàn Miền Nam. Tốc ñộ tăng dân số bình quân khá lớn, riêng ñồng bằng sông Cửu Long trong vòng 43 năm (1936 – 1979) tăng 7,4 phần trăm/năm. Phân bố dân cư trong chiến tranh ở Sài Gòn là 2.500 người/ki-lô-mét vuông, ở ñồng bằng miền Tây từ 200 – 400 người/ki-lô-mét vuông, ở vùng trung du miền ðông từ 100 – 200 ki-lô-mét vuông, thưa nhất là vùng rừng núi miền ðông và vùng ðồng Tháp Mười, U Minh chỉ khoảng 50 người/ki-lô-mét vuông. Về chính trị và xã hội, Nam Bộ có một số tôn giáo ñịa phương như: dạo Cao ðài có gần 1 triệu tín ñồ (phát triển mạnh ở miền ðông), Hòa Hảo có khoảng 70 vạn tín ñồ (phát triển mạnh ở miền Tây). Trong chiến tranh, Hòa Hảo và Cao ðài ñều có lực lượng vũ trang riêng ñông hàng vạn người. ðạo Phật và ñạo Thiên Chúa, Tin Lành cũng có hàng triệu tín ñồ với hệ thống chùa chiền, nhà thờ khá hoàn chỉnh, mật ñộ khá dày (Sài Gòn có 526 nhà thờ, ñồng bằng miền Tây có 300 ngôi chùa của 8.000 sư sãi người Việt gốc Miên). Thành phần dân tộc ở Nam Bộ, ngoài người Việt là chủ yếu, cũng có một số tộc người khác ñông dân cư như: người hoa có hơn nửa triệu người (chủ yếu ở Sài Gòn, Chợ Lớn), Khơmer có gần 1 triệu người ( chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ), S’tiêng, M’nông…có hàng vạn người (chủ yếu ở miền ðông Nam Bộ). Trong chiến tranh, một số giáo phái, dân tộc ở Nam Bộ bị ñịch lợi dụng, chia rẽ phục vụ cho âm mưu chống phá cách mạng của chúng. ðại bộ phận ñồng bào các tôn giáo, dân tộc ñều hướng về cách mạng, tham gia kháng chiến, xây dựng ñất nước. Mặt khác, những năm 1945 – 1954, sau khi mở ñầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, Nam Bộ chuyển thành chiến trường sau lưng ñịch, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ. Trên ñịa bàn này, chiến tranh du kích ñã phát triển, các lực lượng cách mạng ở Nam Bộ ñã từng bước trưởng thành và ñẩy mạnh kháng chiến, uy tín và ảnh hưởng của cách mạng ñã ăn sâu vào cuộc sống hàng triệu người, nhất là nông dân vùng ñồng bằng sông Cửu Long. Chính sách ruộng ñất và các chính sách kinh tế - xã hội khác của chính phủ kháng chiến ñã sớm ñược thực hiện, ñem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống của nhiều tầng lớp dân cư Nam Bộ. Có thể nói trong cuộc ñấu tranh giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng diễn ra quyết liệt ở Nam Bộ, hàng triệu
  10. người dân của Nam Bộ thành ñồng luôn một lòng hướng về ðảng và Bác Hồ. Sau chiến tranh, ñồng bào Nam Bộ ñã và ñang tiếp tục góp phần xứng ñáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. II. CHỐNG PHÁ BÌNH ðỊNH NÔNG THÔN Ở NAM BỘ TRƯỚC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968. Âm mưu và thủ ñoạn bình ñịnh của Mỹ, ngụy ở Nam Bộ. Bình ñịnh trong chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam là bằng mọi cách tiêu diệt các lực lượng (quân sự và chính trị) ñối lập, xây dựng và củng cố ngụy quyền ở cơ sở, giành quyền thống trị trên toàn bộ nhân dân và lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. ðó là một chính sách nhất quán mà trong từng chiến lược chiến tranh, ñịch luôn luôn có bước phát triển mới cả về nhận thức lẫn thực tế hành ñộng. Ngay khi hất cẳng Pháp nhảy vào ðông Dương, Mỹ ñã chú trọng ñến việc thực hiện chính sách bình ñịnh (pacification plan) ở ñây, bằng việc cử Edward Lansdale, người ñã thắng lợi trong việc bình ñịnh ở Philippines, người dọn con ñường chính trị cho Ngô ðình Diệm, một chuyên gia về chống nổi dậy, ñến Nam Việt Nam làm cố vấn bình ñịnh ñầu tiên bên cạnh tổng thống ngụy quyền. Nhiệm vụ của bình ñịnh lúc này là tranh thủ lôi kéo và tổ chức, khống chế kìm kẹp nhân dân dưới mọi hình thức, nhằm làm suy yếu lực lượng cách mạng và giữ sự ổn ñịnh cho chế ñộ tay sai của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Từ năm 1954 – 1968. Mỹ ñã lần lượt tiến hành cuộc chiến tranh một phía, chiến lược chiến tranh ñặc biệt và chiến lược chiến tranh cục bộ mà bối cảnh chung là: từ chủ ñộng, Mỹ, ngụy ñã phải bị ñộng ñối phó với sự pre của cách mạng Miền Nam, thay ñổi chiến lược chiến tranh ñể tăng cường. mở rộng và phải leo thang chiến tranh, nhằm mục tiêu chống phá cách mạng, tiêu diệt lực lượng và phong trào cách mạng, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở Miền Nam. Quá trình ñó, ñịch cũng thường xuyên thay ñổi biện pháp bình ñịnh theo phương thức chung là: không phủ nhận những cách thức cũ, tìm kiếm thêm những cách thức mới và phối hợp lại ñể chống cách mạng với quyết tâm cao hơn, có hiệu quả hơn. Những chương trình chủ yếu sau ñây của chính sách bình ñịnh, cho thấy ñịch ñã nhiều phen thất bại, do vậy kinh nghiệm và quyết tâm bình ñịnh cũng ngày một nhiều hơn. ðầu tiên là chương trình “Tố cộng diệt cộng”, ra ñời ngày 7 tháng 7 năm 1955, khi chính quyền Ngô ðình Diệm vừa tròn một năm chấp chính. Chương trình này nhằm vào năm ñối tượng ñược sắp xếp là: cán bộ cộng sản, cán bộ kháng chến có tham gia chính quyền cách mạng, cán bộ các ñoàn thể quần chúng cách mạng, gia ñình có người ñi tập kết, gia ñình có liên quan ñến cách mạng. Phương châm “Tố cộng” là ñánh triệt ñể, ñánh lâu dài, ñánh từng bước; tiêu diệt cộng sản không thương tiếc, tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh, tiêu diệt cả về con người, cả về tổ chức, cả về tư tưởng, thà giết lầm chứ không ñược bỏ sót, phải tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, ñạp lên oán thù. Hệ thống
  11. chỉ ñạo “Tố cộng, diệt cộng” khá chặt chẽ, ñịch cho tổ chức cùng lúc nhiều hoạt ñộng như: phân loại công dân (làm ba loại: hợp pháp, nửa hợp pháp, bất hợp pháp), càn quét ruồng bố lùng sục, tổ chức học tập tố cộng, tổ chức ly khai, ñầu thú, xé cờ, tổ chức khai báo, tố cáo, tổ chức trại cải huấn… Nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt ñộng ấy, chính quyền ngụy ñưa ra nhiều sắc lệnh, ñạo dụ, như: ðạo dụ số 06 ngày 11 tháng 1 năm 1956 cho phép bắt bất cứ ai xét thấy nguy hiểm cho an ninh quốc gia; Sắc lệnh 5/57 ñặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật… Ở Nam Bộ từ năm 1955 – 1958 có 68.000 ñảng viên cán bộ bị ñịch giết hại, 466.000 người bị bắt, 680.000 người bị tra tấn ñến tàn phế, 400.000 người bị giam cầm… Ở các tỉnh Trung Nam Bộ cuối năm 1954 có 12.000 ñảng viên, ñến cuối năm 1959 chỉ còn 2.000 ñảng viên; các tỉnh Tây Nam Bộ trong thời gian này có 51.950 cán bộ, ñảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt, bị giam cầm và hy sinh, trong ñó có 12.270 cán bộ ñảng viên.(1) ðến năm 1959 toàn Nam Bộ chỉ còn khảng 5.000 ðảng viên, nhiều xã ñồng bằng không còn chi bộ. ðịch hy vọng “ bằng hình thức này cộng sản không thể tổ chức hoạt ñộng trở lại nông thôn Miền Nam”. Kết hợp với chương trình “Tố cộng”, từ năm 1955-1959 chính quyền Diệm cũng ñồng thời ñưa ra các chương trình về kinh tế - xã hội, như: “Cải cách ñiền ñịa” (tháng 2 năm 1955), lập khu ñồn, trại tập trung và ñặc biệt là xây dựng các “Dinh ñiền” (1957 – 1958), “Khu trù mật” (1959 – 1960). Bằng những hình thức ñó, chính quyền Diệm muốn sử dụng các vấn ñề ñiền ñịa, tổ chức chính trị, khai hoang lập ấp, ñịnh cư, ñồng tiến xã hội… ñể giành lấy người dân và ñẩy lùi ảnh hưởng của cách mạng trong dân chúng ở Miền Nam. Từ giữa năm 1961, Mỹ, ngụy bắt ñầu triển khai ở Miền Nam chiến lược “chiến tranh dưới mức hạn chế, chiến tranh chống lật ñổ, chiến tranh ñặc biệt”. Theo ñó, một kế hoạch ba giai ñoạn ñược bắt ñầu với giai ñoạn 1 là bình ñịnh Miền Nam trong vòng 18 tháng bằng biện pháp chủ yếu nhất là gom dân lập Ấp chiến lược, thực hiện “Tát nước bắt cá”. Thực hiện âm mưu này, tháng 2 năm 1962, bộ tư lệnh quân sự Mỹ ở Miền Nam Việt Nam MACV (2) ñược thành lập thay vào vị trí của Phái bộ viện trợ quân sự Mỹ - MAAG. (3) Quân ngụy ñược tăng cường cả chủ lực và quân ñịa phương theo hướng tập trung chống ñỡ cuộc chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của quần chúng ở nội ñịa Miền Nam. Lực lượng yểm trợ Mỹ tăng cường xuống từng vùng chiến thuật. Các chiến thuật tân kỳ như “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” cùng các lực lượng hỏa lực, phương tiện cơ ñộng ñược sử dụng phổ biến ñể tăng cường hiệu lực chiến ñấu cho quân ngụy. Chuyên gia về chống nổi dậy của quân ñội Hoàng gia Anh là Thompson ñược mời sang Miền Nam Việt Nam (tháng 9 năm 1961) làm cố vấn, theo ñó những kinh nghiệm của 1 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của ñế quốc Mỹ ở Việt Nam , Hà Nội 1991, tr 25-31 2 Military American Command in Vietnam 3 Military Aid and Advisory Group
  12. Malaysia và Philippines về gom dân lập “Làng an toàn” hogn2 tách du kích quân ra khỏi quần chúng nhân dân, ñược chính quyền Diệm học hỏi, nghiên cứu, ứng dụng vào Miền Nam. Những kinh nghiệm của 6 năm bình ñịnh với các hình thức “Dinh ñiền” và “Khu Trù Mật” cũng ñược xem xét ñánh giá ưu khuyết ñiểm và rút ra kết luận ñể thừa kế vào ñịnh hình gom dân quy khu lập ấp kiểu mới. Từ ñó chương trình “Ấp chiến lược” ñược hình thành. Chính Mỹ chứ không phải ngụy quyền Sài Gòn ñã ñề ra yêu cầu của việc lập Ấp chiến lược là: “A. ðưa cuộc cách mạng tiến sâu vào nông thôn: 1- Phát triển các thành quả ñã thâu lượm ñược trong cuộc cách mạng toàn quốc và toàn diện; 2- ðưa cuộc cách mạng tới hạ tầng cơ sở của quốc gia, 3- Thực hiện mục tiêu của cách mạng ở ngay nơi mà dân chúng cư ngụ và sinh hoạt.” “B. Tiêu diệt kẻ thù tận gốc: 1- Chiến thắng Cộng sản ở ngay ñịa bàn hoạt ñộng chính của chúng là nông thôn; 2- Tiêu diệt ñược tình trạng lạc hậu về sinh hoạt tinh thần và vật chất ở ñơn vị căn bản của cộng ñồng quốc gia; 3- ðánh ta những ñộc tố tai hại do thực dân, phong kiến và cộng sản gieo rắc còn lại ở lớp người ñông ñảo và căn bản của quốc gia.” “C. Hoàn thành cơ sở hạ tầng của chế ñộ: 1- Phá vỡ các tập quán cũphản tiến bộ ñể khai nguyên một nền nếp sinh hoạt mới với một nhân sinh quan, một giá trị quan thích hợp với thời ñại mới; 2- Tập trung ñầy ñủ các ñiều kiện vật chất và tinh thần ñể tạo cho mọi người cơ hội ñồng ñều phát triển tài lực, tận dụng sáng kiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ thành quả chung; 3- Làm cho người dân nhìn thấy qua các thực hiện cụ thể của xã thôn, hình ảnh các hiện thực vĩ ñại trong phong vị quốc gia rộng lớn, từ ñó gây cho họ có ý thức trách nhiệm trong bảo vệ và phát triển những thành quả ñã thu lượm ñược. (1)” Mục tiêu tối hậu của ñịch là vấn ñề quân sự, ưu tiên và cấp bách của Ấp chiến lược là vãn hồi và bảo ñảm an ninh trật tự nông thôn. Ấp chiến lược ñược hiểu là một biện pháp chủ yếu tiến hành chiến tranh tổng lực trên nhiều mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý, gián ñiệp… Như vậy chúng xây dựng 1 Theo: Nguyệt san thế giới tự do, Sở thông tin Hoa Kỳ, tập XI số 5 (tiếng Việt), Sài Gòn 1963, Tr.30
  13. ấp chiến lược là chúng xây dựng một xã hội thu hẹp trong ñơn vị ấp – tế bào của quốc gia, là xây dựng những pháo ñài chống cộng. Tiêu chuẩn mà ñịch ñề ra cho một ấp chiến lược là loại trừ ñược du kích, phân loại ñược quần chúng, ñoàn ngũ háo ñược dân chúng, hoàn thành hệ thống phòng thủ, xây dựng ñược lực lượng Thanh niên chiến ñấu, bầu ñược ban trị sự ấp. Trọng ñiểm của chương trình Ấp chiến lược là các tỉnh quanh Sài Gòn và vùng bản lề ở vùng ñồng bằng sông Cửu Long. Trong thực tế, hệ thống ấp chiến lược của ñịch ñược xây dựng ồ ạt từ giữa năm 1962. ðến cuối năm 1962, trên toàn Miền Nam ñịch ñã lập ñược 3.225 ấp, gom ñược khoảng 33.3 phần trăm dân. ðến ngày 11 tháng 4 năm 1963, ñịch ñã hoàn thành 5.917 ấp chiến lược (ñạt 53,10 phần trăm của kế hoạch dự trù 11.143 ấp), gom giữ ñược 8.150.187 người dân (chiếm 59 phần trăm trong tổng số 11.813.066 dân toàn Miền). ðây là giai ñoạn phát triển nhanh nhất và nhiều khả quan nhất của toàn bộ chương trình ñặc biệt. Trong giai ñoạn ñó ở Nam Bộ ñịch ñã hoàn thành 2.896 ấp (ñạt 48,46 phần trăm trong kế hoạch 5.976 ấp) gom ñược 4.912.315 người dân (chiếm 55,07 phần trăm trong tổng số dân 8.920.038 người). Ngoài ra còn co 12.259 ấp ñang xây dựng và sẽ hoàn thành vào khoảng tháng 8 năm 1963. So với Khu 5 và Tây Nguyên, dân số Nam Bộ ñông hơn (8.920.038/4.893.028 người) nhưng số ấp dự kiến không chênh lệch nhau quá nhiều (Nam Bộ = 5.796 ấp, Khu 5 + Tây Nguyên = 5.167 ấp. Tuy vậy số ấp chiến lược ñã hoàn thành ở Nam Bộ lại ít hơn so sánh với vùng ngoài (2.896 ấp/3.021 ấp). Mười tỉnh của miền ðông Nam Bộ ñịch lập ñược 820/1.340 ấp và gom giữ 1.332.206/1.986.049 dân; 13 tỉnh của miền Tây Nam Bộ ñịch lập ñược 1.809/4.206 ấp và gon giữ 2.605.917/5.658.989 dân; quanh Sài Gòn – Gia ðịnh ñịch ñã lập ñược 285/430 ấp và gom giữ 974.192/1.285.000 dân. Theo ñà ñó ñến cuối năm 1963, trên taon2 Miền Nam, ñịch ñã lập ñược 8.544 ấp và kiểm soát 85phần trăm dân số. Sau cuộc ñảo chính lật ñổ, sát hại Diệm, Nhu tháng 11 năm 1963, chế ñộ ngụy ở mìền Nam bước vào giai ñoạn khủng hoảng triền miên. Trước tình hình bỏ ngỏ mặt trận bình ñịnh, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, người duy nhất trong số những người ñứng ñầu chính phủ nguỵ thay lên ñổi xuống trong giai ñoạn này, ñã nhận thấy phải tiếp tục bình ñịnh, bằng việc cải danh chương trình ấp chiến lược cho bớt cảm giác thô bạo thành chương trình “Ấp Tân sinh”. Nhưng Ấp Tân sinh không cải thiện ñược số phận bị phá sản của “quốc sách Ấp chiến lược”, bởi chúng không có gì khác Ấp chiến lược, kể cả nội dung, hình thức, mục tiêu, biện pháp thực hiện. ðầu năm 1964 ñịch kiểm soát 4.672 ấp, cuối 1964 còn 3.300 ấp, ñầu năm 1965 chỉ còn 2.200 ấp; ðồn bót là chỗ dựa của các lực lượng ñịch kềm kẹp ở xã ấp, cuối năm 1963 có khoảng 4000 cái, ñầu năm 1965 chỉ còn 2.900 cái. Số dân trong vùng ñịch kiểm soát tháng 8 năm 1963 khoảng 9.000.000 người, ñến tháng 6 năm 1965 tụt xuống còn 5.300.000 người. ðịch thú nhận trên phạm vi toàn miền Nam có 67 phần trăm ñất ñai ñã nằm dưới quyền kiểm soát hoặc chịu ảnh hưởng của Việt cộng, có 22/43 tỉnh do
  14. Việt Cộng kiểm soát từ 50 phần trăm trở lên. Chương trình Ấp tân sinh ñược ñánh giá là “không ñi ñến ñâu, nhất là không ñề cập nhiều ñến vấn ñề an ninh văn hồi, chính quyền chỉ làm cho có làm nên trương chình bình ñịnh càng ngày càng trở nên suy ñồi… Số ấp xây dựng ñược giảm nhanh chóng và ñã kiểm soát dân số ñi từ sụt giảm ñến không kiểm soát ñược nữa.(1) Nửa ñầu năm 1965, Mỹ ñổ quân viên chinh vào miền Nam, mở những cuộc phản công chiến lược nhằm ngăn chặn chiều hướng thua. Chính phủ Mỹ cử Henry Cabot Lodge làm ñại sứ tại Sài Gòn, E.Lansadale ñặc trách chương trình bình ñịnh, tiếp tục làm cố vấn cho chính phủ ngụy, về chính sách này. Phương châm thực hiện bình ñịnh ñược ñiều chỉnh từ ồ ạt trên toàn miền chuyển sang thí ñiểm và mở rộng dần. Từ cuối năm 1965 ñịch chọn bốn trọng ñiểm ñể tập trung bình ñịnh là: quanh ðà Nẵng, tỉnh Bình ðịnh, quanh Sài Gòn, tỉnh An Giang, trong ñó tỉnh Bình ðịnh ñược ưu tiên số một. Hệ thống chỉ ñạo bình ñịnh ñược hoàn thiện thêm một bước, Mỹ giao cho nguỵ tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là bình ñịnh. Quân nguỵ sẽ ñược tăng cường mọi mặt và ñược quân ñội viễn chinh Mỹ, chư hầu hỗ trợ quân sự ñể làm lực lượng nòng cốt cho các hoạt ñộng bình ñịnh. Trong phương thức bình ñịnh vẫn giữ biện pháp như trước ñây là mở các cuộc hành quân càn quét ñể ñánh phá lực lượng chính trị và vũ trang cách mạng, dồn dân, di dân tập trung về các quận lỵ và xung quanh các căn cứ quân sự, các trục giao thông chiến lược. Các ñoàn “Cán bộ bình ñịnh” (Pacification cadre) 59 người từ Trung tâm huấn luyện Vũng Tàu, trang phục bà ba ñen, ñược sử dụng chuyên trách và có vai trò “như một chất men rải vào nhân dân ñể nhân dân chấp nhận lý tưởng xây dựng nông thôn” và “giữ cho phong trào tiến triển mãi, cũng như chất men phảng phất trong hương rượu làm cho rượu không bao giờ bị hư thối”.(2) Tiếp ñó tháng 10 năm 1966, tại Manila (Philippines), bảy nước ñồng mình của Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ñã nhóm họp, nhằm giúp cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam tìm ra phương thức bình ñịnh chống lại cuộc chiến tranh cách mạng ở ñây. Kết quả là một chương trình “Xây dựng nông thôn mới” ñược áp dụng ngay từ cuối năm 1966, mở ñầu là việc xây dựng “Ấp ñời mới”. Mặc dù còn sơ khởi, nhưng chương trình “Xây dựng nông thôn mới” là một bước tíến quan trọng trong vấn ñề bình ñịnh giành dân. Những mục tiêu sau ñây của chương trình cho thấy Mỹ, nguỵ ñang có những chuyển biến trong nhận thức và hành ñộng. Chúng ñề ra: “Tiêu diệt cộng sản nằm vùng – Tiêu diệt cường hào ác bá – Xoá bỏ hận thù, xây dựng một tình thần mới – Tổ chức các cơ sở dân chủ nhân dân và hành chánh – Tổ chức nhân dân ñấu tranh chống Việt cộng – Thanh toán nạn mũ chữ - Tấn công bệnh tật – Cải cách ruộng ñất – Phát 1 Tạ Ngọc Cường, Công cuộc bình ñịnh xây dựng và phát triển của Việt Nam Cộng hoà, Luận văn ban ñốc sự - Học viện Hành chánh quốc gia Sài Gòn 1973Tr 49 2 Lý Hồng Sơn, Phân tich phê bình csa bình ñịnh và phát triển nông thôn căn bản hiện tại của chính phủ, Luận văn ban ñốc sự - Học viện Hành chánh quốc gia Sài Gòn 1970 Tr 56
  15. triển công nghiệp và tiểu công nghệ - Phát triển hệ thống giao liên…”. Chúng ñề ra bốn tư tưởng chỉ ñạo, 98 bước thực hiện, bảy kỹ thuật công tác ñể tiến hành bình ñịnh, tuy rối rắm nhưng chứa ñựng nhiều nội dung mới của quan niệm “bình ñịnh giành dân”. Khẩu hiệu “Phá ñời cũ, xây ñời mới” không chỉ có tính chất tuyên truyền thuần tuý nữa, mà còn ñi liền với những hành ñộng cụ thể, gắn với ñời sống thiết thực của nhân dân ở xã ấp. Mùa khô 1966 – 1967, tiếp tục phản công chiến lược ở miền Nam, Mỹ ñưa bình ñịnh lên ngang hàng với nhiệm vụ tìm diệt, thực hiện chiến thuật “Hai gọng kìm”, hòng vừa tìm diệt Quân giải phóng và cơ quan ñầu não kháng chiến, vừa ñẩy mạnh bình ñịnh tiêu diệt lực lượng hạ tầng cơ sở cách mạng, củng cố hạ tầng cơ sở của chế ñộ nguỵ. ðiểm khác căn bản của ñịch trong giai ñoạn này là, toàn bộ công tác bình ñịnh do Mỹ trực tiếp ñiều khiển, chỉ huy từ trên xuống dưới (kể cả việc sử dụng ngân sách bình ñịnh). Chúng chia công tác bình ñịnh làm ba khâu thực hiện: hành quân càn quét tào thanh, diệt trừ các lực lượng cách mạng cơ sở ñể giữ trật tự an ninh, xây dựng các lực lượng kìm kẹp. Hai chỗ dựa chính của Mỹ ñể bình ñịnh lúc này là: nguỵ quân (về quân sự) và các ñoàn bình ñịnh (về chính trị). ðặc biệt là sau mùa phản công chiến lược 1966 không thành công, từ năm 1967 trong kế hoạch thực hiện, Mỹ ñã tỏ ra rất quyết tâm, không tiếc tiền, không tiếc sức và rất cố gắng ñể thích ứng với tình hình ñã thay ñổi khác thường. Chúng tập trung 80 phần trăm ñến 90 phần trăm chủ lực nguỵ cùng với 10 phần trăm ñến 20 phần trăm quân viễn chinh Mỹ, chư hầu vào nhiệm vụ “Tảo thanh” và chiếm giữ. Tại ñây chúng bố trí bên trong các môn ấp là các ñoàn bình ñịnh với các cố vấn bình ñịnh Mỹ, có lực lượng cảnh sát, lực lượng bán vũ trang giữ gìn trị an, bên ngoài các thôn ấp ñang bình ñịnh có các ñơn vị chủ lực nguỵ chốt giữ, ngăn chặn tấn công, vòng ngoài xa nữa là lực lượng Mỹ, chư hầu hành quân càn quét. Thế trận vòng trong vòng ngoài với sự phân chia ba vùng (vùng ưu tiên bình ñịnh, vùng ưu tiên hành quân, vùng tảo thanh) là một ñặc ñiểm nổi bật trong bình ñịnh của Mỹ - nguỵ - chư hầu lúc này. ði ñôi với thủ ñoạn ñó, Mỹ, nguỵ cũng tích cực “Tranh thủ trái tim khối óc quần chúng” ở vùng tạm chiếm bằng các biện pháp: tung tiền ra xây trường học, trạm y tế, cung cấp máy móc cho nông nghiệp, giống mới và phân bón hoá học, trạm phát ñiện ở nông thôn… ñồng thời ra sức bành trướng bộ máy chính quyền ñịch ở cơ sở, củng cố chính quyền nguỵ ở trung ương. ðặc biệt công tác chiêu hồi, chiêu hàng cũng bắt ñầu ñược quan tâm với cái gọi là “chính sách hoà hợp dân tộc”. Phương châm bình ñịnh của Mỹ lúc này là “tiến chậm, giữ chắc, phát triển theo thế liên hoàn và vết dầu loang”. Hệ thống chỉ ñạo bình ñịnh cũng có những thay ñổi: Hội ñồng xây dựng nông thôn cải tổ thành “Hội ñồng bình ñịnh phát triển trung ương”; bên cạnh hội ñồng này có “Trung tâm ñiều hợp bình ñịnh phát triển” làm nhiệm vụ một uỷ ban thường trực của hội ñồng; Bộ xây dựng nông thôn ñổi tên thành Bộ phát triển nông thôn… Mỹ cử Poter, chuyên gia về bình ñịnh sang Nam Việt Nam làm phụ tá bình ñịnh cho Cabot Lodge
  16. trong toà ñại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tháng 5 năm 1967, Mỹ còn lập cơ quan chuyên trách bình ñịnh (CORD)(1) và ñưa chương trình bình ñịnh từ sứ quán sang Bộ tư lệnh MACV… Cơ quan hỗn hợp Việt – Mỹ chuyên trách về bình ñịnh cũng ra ñời nhằm tạo ra sự thống nhất hành ñộng. Như vậy bình ñịnh ñã trở thành một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hoạt ñộng chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong thực tế, ñịch ñã giành 41 phần trăm trong số 895 cuộc hành quân của mùa khô phản công lần thứ hai (1966 – 1967) ñể càn quét bình ñịnh. Thuỷ quân lục chiến Mỹ hỗ trợ cho ngụy tiến hành những cuộc càn quét nhỏ quanh các căn cứ chiến lược và dọc các trục ñường giao thông. Còn nguỵ dành một phần ba lực lượng chủ lực (54 tiểu ñoàn) ñể cùng với toàn bộ lực lượng bảo an tiến hành liên tục những cuộc hành quân càn quét bình ñịnh. Từ cuối năm 1967 trở ñi, các vùng chiến thuật ở Nam Bộ trở thành chiến trường ưu tiên số một của chiến thuật “Hai gọng kìm”: vùng III/CT là vùng ưu tiên ñể tìm diệt, còn vùng IV/CT là vùng ưu tiên ñể bình ñịnh. Riêng ở vùng IV/CT, Mỹ, nguỵ còn ñề ra “Kế hoạch gió mùa tây nam” với bốn nội dung lớn, trong ñó quan trọng nhất là “Xây dựng nông thôn” với yêu cầu cơ bản của nội dung này là: “Hỗ trợ quân sự ñúng mức và ñúng lúc ñể chương trình xây dựng nông thôn có thể thực hiện ñược theo ñúng kế hoạch mà Tổng bộ xây dựng ñã ñề ra. Bảo vệ an ninh cho các ñoàn cán bộ xây dựng nông thôn trong suốt thời gian hoạt ñộng tại ñịa phương. Luôn luôn quan niệm công tác hỗ trợ xây dựng nông thôn là vai trò chính yếu của quân lực Việt Nam cộng hoà và phải ñược ñặt lên hàng ñầu của trọng tâm kế hoạch”.(2) Cuộc phản công chiến lược lần thứ ba nhằm thực hiện những trọng ñiểm ưu tiên này chưa kịp tổ chức, thì Mỹ - nguỵ - chư hầu trên toàn miền Nam phải tập trung vào việc chống ñỡ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của ta. Hệ thống ấp chiến lược - ấp ñời mới chưa ñược củng cố ñã bị tan vỡ từng mảng. ðầu năm 1968, ñịch chỉ còn kiểm soát theo lý thuyết ñược 5.400 ấp, nhưng bộ máy kềm kẹp trong các ấp này rất lỏng lẻo. Wheeler, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ nhận xét “Không còn nghi ngờ gì nữa, chưong trình phát triển cách mạng ñã bị ñẩy lùi nghiêm trọng trên một phạm vi lớn, Việt Cộng nắm quyền kiểm soát nông thôn”. Những thắng lợi trên trận tuyến chống phá bình ñịnh nông thôn ở Nam Bộ trước Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Sau hiệp ñịnh Genève 1954, Mỹ - nguỵ câu kết phá hoại hiệp ñịnh, tăng cường ñàn áp, khủng bố những người yêu nước, những người cách mạng. Phong trào ñấu tranh chính trị của quần chúng ngày càng phát triển ñã ñặt ra nhiệm vụ phải gìn giữ, gầy dựng lại lực lượng cách mạng và phong trào quần chúng. ðó là 1 Cooperation for Rural Development Support 2 Theo tài liệu: Kế hoạch “Gió mùa tây nam” (mùa mưa 1967) của vùng IV/CT, Việt Nam cộng hoà, Sài Gòn 1967
  17. nhiệm vụ cấp bách, mang tính quyết ñịnh cho sự phát triển ñi lên của cách mạng miền Nam. Vượt qua những cuộc ruồng bố, truy lùng của cảnh sát và quân ñội Diệm, cán bộ, du kích và các cơ sở cách mạng phải trải qua những năm tháng cực kỳ gian khổ, khó khăn ñề tồn tại và bám trụ phong trào, phát ñộng quần chúng. ðể tránh bớt sự tổn thất ngày càng lớn về lực lượng cán bộ và cơ sở ñảng, từ năm 1957 trở ñi, các tỉnh Nam Bộ rất phổ biến việc phân chia tổ chức ñảng ở cơ sở thành hai bộ phận công khai và bí mật, thường gọi là Chi bộ A và Chi bộ B. Việc phân chia này cùng với lối hoạt ñộng ñơn tuyến, vừa là biện pháp ñể bảo vệ những cán bộ ñảng viên còn lại (kể cả ñã bị lộ hoặc chưa), vừa là sự bố trí lại lực lượng ở xã ấp. Từ năm 1958, các ñịa phương ở miền Tây Nam Bộ còn cho cán bộ ñi “ñiều lắng”. Việc chuyển ñịa bàn hoạt ñộng cho một số cán bộ ñảng viên ở cơ sở xã ấp, nhằm tránh tổn thất và bảo vệ số ñã bị lộ, nhưng cũng làm mất thế trụ bám của họ trong phong trào quần chúng; quá trình ñó còn có một số cán bộ ñã không hoạt ñộng nữa, vì sợ gian khổ hy sinh. Tuy nhiên ña số cán bộ cách mạng còn lại vẫn giữ vững ý chí, trở thành chỗ dựa cho phong trào quần chúng trong cuộc chiến tranh chống các âm mưu thủ ñoạn của ñịch. ðối với các tầng lớp nhân dân ñang bị chính quyền Diệm khống chế, kìm kẹp, quần chúng ñã sử dụng các hình thức ñấu tranh công khai hợp pháp, chống lại những thủ ñoạn của ñịch lùng sục bắt bớ cán bộ cách mạng và những người yêu nước. Các cuộc ñấu tranh chống học tập tố cộng, chống cướp ñất ñuổi nhà, chống ñi dinh ñiền, chống vào khu trù mật… ñã bùng nổ ngay khi các chương trình này của ñịch vừa mới bắt ñầu; phong trào “chống cướp” ở miền Tây Nam Bộ cũng có tác dụng chống ñịch bắt bớ lùng sục, bảo vệ cán bộ cách mạng. Chính quyền Diệm dùng cảnh sát và quân ñội ñàn áp dã man phong trào quần chúng, do ñó quần chúng phải vũ trang tự vệ ñể tiếp tục ñấu tranh. Ở Nam Bộ từ năm 1957, hoạt ñộng ñấu tranh của quần chúng trong các vùng ñịch kềm kẹp ñã từng bước kết hợp ñấu tranh công khai hợp pháp ñòi tự do dân chủ, chống gom dân, cướp ñất, ñuổi nhà, với các hoạt ñộng diệt ác, phá bộ máy tề, ñưa dân trở về ñất cũ làm ăn sinh sống. Cuối năm này, Nam Bộ xuất hiện một số ñơn vị vũ trang. Tiếp ñó những trận ñánh ñịch ở Dầu Tiếng, Biên Hòa, các hoạt ñộng vũ trang tự vệ, vũ trang tuyên truyền, diệt ác, phá kìm, trừ gian, hỗ trợ cho quần chúng ñấu tranh chính trị; các khu căn cứ cách mạng ñược khôi phục lại. Hoạt ñộng vũ trang tuyên truyền từ cuối năm 1958 sang ñầu năm 1959 phát triển ngày một rộng, làm cho “trong 805 xã ñồng bằng sông Cửu Long có ñến 50 phần trăm tề ngụy tan rã” (1) ðến cuối năm 1959 tình hình ở miền Tây Nam Bộ (quân khu 5 của ñịch) như ñịch lo lắng báo ñộng: các hoạt ñộng của Việt Cộng về phục kích và ñột nhập các cơ sở hương thôn, dân vệ, cùng các hoạt ñộng ám sát khác gia tăng… 1 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), tập I, Nxb Sự Thật, H. 1990. Tr 43
  18. nhằm ñáp ứng tình hình, yêu cầu của cách mạng Miền Nam, tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương ðảng về cách mạng Miền Nam ñã ra nghị quyết xác ñịnh: “Con ñường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở Miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Từ năm 1959 trở ñi, từ miền Tây ñến miền ðông Nam Bộ, những trận ñánh mở màn cho cao trào ñấu tranh mới nổ ra ở Xẻo Rô (Rạch Giá, 24-9-1959), Gò Quản Cung (Kiến Phong, 26-9-1959), Tua Hai (Tây Ninh, 25-1-1960)… Tiếp ñó là cuộc nổi dậy khởi nghĩa của quần chúng cách mạng ở Mỏ Cày (Bến Tre) ngày 17 tháng 1 năm 1960, mở ñầu cho quá trình ñồng loạt nổi dậy khởi nghĩa từng phần của nhân dân, dưới sự lãnh ñạo của các ñảng bộ ñịa phương. Từng ñợt, từng cao ñiểm, những cuộc ðồng khởi khắp nông thôn và rừng núi nổ ra kéo dài ñến cuối năm 1960. Không dừng lại ở hình thức công khai hợp pháp có tính chất ôn hòa như trước nữa, quần chúng nhân dân và các lực lượng cách mạng ñịa phương ñã chuyển hẳn sang phương thức kết hợp chính trị và vũ trang ñể chống phá bình ñịnh. ðó là việc ñẩy mạnh diệt ác phá kìm, tấn công vào hệ thống kìm kẹp của Mỹ - Diệm ở xã ấp, giành lại quyền làm chủ cho nhân dân. Cuộc ðồng khởi của nhân dân Miền Nam năm 1960 làm ñảo lộn mọi chương trình giành dân, chiếm ñất, dẹp cho yên, ñặt lại sự cai trị của ñịch ở ñây. Vùng giải phóng, một hình thái mới của thế và lực cách mạng ñã xuất hiện sau 5 năm cách mạng bị ñẩy lùi và tổn thất lớn. Vùng giải phóng Nam Bộ mở rộng trong phạm vi 863 xã, chiếm 72 phần trăm trong tổng số 1.193 xã ấp toàn Nam Bộ(1). Ở ñó bộ máy chính quyền ñịch không còn, dinh ñiền và khu trù mật bị phá tan, ñồn bót bị san phẳng, một hình thức chính quyền nhân dân tự quản ñã ra ñời ñể giải quyết những công việc nội bộ trong quần chúng nhân dân. Nhiều nơi ở Nam Bộ ñã thành lập chính quyền cách mạng, lập ñội vũ trang tự vệ hoặc du kích, xây dựng các ñoàn thể quần chúng, những lớp cán bộ, ñảng viên mới trưởng thành, các chi bộ ñảng lần lượt ra ñời ở xã ấp… Những mục tiêu ñối tượng của các chương trình bình ñịnh của ñịch không những không bị tiêu diệt mà còn có khả năng phát triển nhanh. ðầu năm 1961, cơ quan Trung ương cục Miền Nam ra ñời, Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân ñội nhân dân Việt Nam hình thành, gồm cả ba thứ quân (lúc ñầu có 7.000 du kích, tự vệ, 7.000 bộ ñội tỉnh huyện, một tiểu ñoàn bộ ñội tập trung của Khu). Như vậy những chỗ dựa căn bản của nhân dân trong cuộc chiến ñấu chống xâm lược ñã và ñang ñược xây dựng, chống phá bình ñịnh hình thành trận tuyến phát triển với thế và lực mới. Bước vào giai ñoạn chống chiến lược “chiến tranh ñặc biệt” của ñịch ở miền Nam, ðảng ta, trong Nghị quyết Bộ chính trị tháng 2 năm 1962 về công tác cách mạng miền Nam ñã cho rằng “Phá ấp chiến lược, phá thế kìm kẹp của ñịch… là một nhiệm vụ có tính chất cấp bách, ñồng thời là một nhiệm vụ lâu 1 Lịch sử ðảng cộng sản Việt Nam (1954 – 1975), tập II, Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995. Tr. 109
  19. dài”. Tuy nhiên, việc ñánh giá ñầy ñủ âm mưu thủ ñoạn của ñịch trong việc lập ấp chiến lược cũng còn phải trải qua một quá trình cọ sát với thực tế. Lúc ñầu, do ta chỉ dựa vào hoạt ñộng của các lực lượng vũ trang, nên các ấp chiến lược thường chỉ bị phá lỏng hoặc phá hình thức. Sau ñó ñịch lại bắt dân làm lại và tiếp tục sự kiểm soát của chúng. Trong lực lượng vũ trang của ta, khi thấy ñịch ñưa ra những “chiến thuật tân kỳ”, còn ta vẫn chiến ñấu với vũ khí trang bị thô sơ, không phải không có người, bộ phận có tư tưởng ngán ngại máy bay trực thăng, xe lội nước của ñịch. Nhưng thực tế, những trận chống càn ở Mỹ Tho cuối năm 1962 (từ ngày 13 tháng 9 năm 1962 ñến 5 tháng 10 năm 1962), bộ ñội ñịa phương thuộc ñơn vị d.514 ñã hạ ñược hai máy bay trực thăng và bắn bị thương một số xe lội nước của ñịch. Trên cơ sở này tháng 11 năm 1962 Hội nghị quân sự Khu 8 ñã họp xác ñịnh: lực lượng vũ trang tập trung có thể dựa vào xã chiến ñấu ñể ñứng lại chống càn, kể cả chống các chiến thuật tân kỳ “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” của ñịch. Cũng trong tháng 11 năm 1962, Trung ương Cục mở Hội nghị dân quân du kích Nam Bộ. Kinh nghiệm của 12 xã có phong trào mạnh của Nam Bộ ñược ñưa ra làm cơ sở cho việc xem xét và tìm phương thức chung cho phong trào toàn miền. Những quan ñiểm cơ bản của phong trào ñã thống nhất là: 1. “ðịch tuy hung bạo, quân số vũ khí nhiều, thủ ñoạn thâm ñộc, nhưng căn bản là yếu. Chúng yếu vì phi nghĩa, vì bị toàn dân căm thù ghét bỏ, vì tinh thần của binh lính bạc nhược, vì nội bộ chúng lủng củng… 2. “Mạnh dạn phát ñộng tư tưởng quần chúng, lăn lộn trong quần chúng, cùng quần chúng bám sát ñịch và chiến ñấu với ñịch… thì các chi bộ, các ñội du kích tự vệ xã của ta sẽ vô ñịch, bất kỳ ñịch càn quét thế nào, ta vẫn có ñủ sức ñánh bại âm mưu của ñịch. 3. “Phải tiến hành một cuộc chiến tranh thực sự vì nhân dân, do nhân dân… Xã chiến ñấu là cơ sở của chiến tranh nhân dân, là chiến trưởng chủ yếu của nhân dân và lực lượng vũ trang của nhân dân… Không có xã chiến ñấu rộng rãi thì không thể có chiến tranh du kích rộng rãi. 4. “ðịch kềm kẹp, ta phá thế kềm kẹp, ñịch lại kềm kẹp, ta lại phá. ðịch càn quét, ta chống càn quét, ñịch lại càn quét, ta lại chống càn. ðịch lập ấp chiến lược, ta phá ấp chiến lược, ñịch lại lập, ta lại phá. Qua cuộc ñấu tranh giằng co và quyết liệt ñó mỗi ngày ta tiến thêm một bước, ñịch suy yếu ñi một bước, tiến tới ta mạnh hơn hẳn ñịch và giành thắng lợi hoàn toàn…(1) ðầu năm 1963, ta chia ra hai loại ấp chiến lược: loại có tính chất nông thôn và loại ở ñô thị. Loại thứ nhất, dủ ở vào bất cứ vị trí nào ñều có thể phá tan rã ñược; loại thứ hai là các khóm phường chiến lược, cần phải theo phương châm lâu dài, trước mắt chỉ nên xây dựng cơ sở, phá lỏng bộ máy kềm kẹp, ñẩy mạnh binh tề vận. 1 Quân giải phóng miền Nam, Hội nghị dân quân Nam Bộ tổng kết về phần xã chiến ñấu (1962).
  20. Kinh nghiệm 12 xã chống phá bình ñịnh cho thấy, muốn phá ấp chiến lược phải phá cho ñược kềm kẹp của ñịch ở bên trong, có phá ñược kềm kẹp bên trong mới tạo ñược ñiều kiện ñẩy mạnh phong trào cách mạng quần chúng. Như vậy phá ấp chiến lược trước hết là phá bộ máy kềm kẹp, sau ñó và ñồng thời với quá trình ñó là tích cực xây dựng dựng cơ sở ðảng, ðoàn, du kích, tự vệ, quần chúng nòng cốt trong và ngoài ấp chiến lược. Trong thực tế, ở xã Hanh Thông (Gò Vấp – Gia ðịnh) có 10 ấp chiến lược bị kềm kẹp gắt gao, do khu vực này có nhiều căn cứ kho tàng sân bay và sát ñô thành Sài Gòn của ñịch. Trải qua nhiều khó khăn, ta ñã xây dựng ñược cơ sở quần chúng và du kích bí mật trong một số ấp ñể hướng dẫn quần chúng ñấu tranh chính trị và binh vận với ñịch.(1) Các xã Tân Xuân (Hóc Môn), Phước Vĩnh An (Củ Chi), An Bình (Cần Thơ), Tân Thạnh (Bến Tre), Biên Sơn (Tây Ninh) nằm sát thị trấn và bị kềm kẹp chặt, nhưng ta vẫn có gắng xây dựng cơ sở, ñưa ñược lực lượng vũ trang vào hoạt ñộng, ñịch trong các ấp chiến lược phải co lại, bộ máy kềm kẹp bị lỏng ra… Thậm chí ở xã Tân Xuân (Hóc Môn), cảnh sát và dân vệ còn ñồng tình với quần chúng phá rào ấp chiến lược; ở Phước Vĩnh An (Củ Chi), ta tranh thủ bọn lính dù, hạ uy thế bọn ác ôn. ðến cuối năm 1962 toàn Miền ñã phá 2.665 trong số 4.000 ấp, trong ñó có 484 ấp bị phá hoàn toàn; có 11.000.000 lượt người tham gia các hoạt ñộng phá rào trở về làng cũ; có 115 ấp chiến lược bị phá ñã xây dựng trở thành xã chiến ñấu. ðịch chỉ mới thực hiện ñược 40 phần trăm kế hoạch ñề ra và 60 phần trăm số ấp chiến lược ñược lập ra ñã bị ñánh phá với nhiều mức ñộ khác nhau. Sau trận chống càn ở Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho) ngày 2 tháng 1 năm 1963, ở Nam Bộ phong trào nhân dân tham gia du kích chiến tranh bước vào giai ñoạn mới. Xã ấp chiến ñấu ñược tăng cường hệ thống bố phòng, phong trào du kích bám trụ ñánh ñịch giữ xã ấp, ñã ñem lại hỉệu quả thiết thực cho quá trình chống phá bình ñịnh. Việc tự tìm kiếm, sản xuất vũ khí trở nên phổ biến trong quần chúng và du kích tự vệ các ñịa phương. Phong trào săn máy bay trực thăng, săn xe lội nước M.113 ñược dấy lên; chỗ nào có máy bay ñịch quần ñảo là ở ñó có du kích săn lùng nó; hễ nghe tiếng súng ñịch càn quét là du kích các xã cùng phối hợp với bộ ñội diệt ñịch. Lực lượng ñấu tranh chính trị cũng ñẩy mạnh tác chiến bằng những cách thức riêng của mình. Có trận chống càn mở ñầu bằng việc quần chúng ñấu tranh chính trị kéo ra chặn ñứng một cánh quân của ñịch, làm chậm tốc ñộ hành quân của chúng, tạo ñiều kiện cho lực lượng vũ trang bố trí phục kích tiêu diệt ñịch, bẻ gãy cuộc hành quân của chúng. Có trận chống càn vừa kết thúc, “ðội quân tóc dài” của các mẹ, các chị ñã kéo ñến ñấu tranh với chính quyền ñịch, ñòi bồi thường tính mạng cho những người bị thiệt hại, kể cả binh lính nguỵ, ñồng thời thông qua những hoạt ñộng có tính chất “truy càn” ấy, ta tuyên truyền chiến thắng, làm công tác ñiều tra và binh vận, ly gián ñịch. Lý lẽ sắc bén của quần 1 Quân giải phóng miền Nam. Báo cáo một số kinh nghiệm phong trào nhân dân du kích chiến tranh xã Hanh Thông – Gò Vấp (1962).
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2