intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN

Chia sẻ: Hòa Phát | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
33
lượt xem
3
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm này nhằm: Nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN. Định hướng cho GV trong việc thực hiện tổ chức hoạt động dạy học nhằm khắc phục một số hạn chế, khó khăn của học sinh trong học Tiếng Việt. Học sinh chủ động, tích cực hơn trong các hoạt động học tập, góp phần phát triển được phẩm chất, năng lực toàn diện cho học sinh, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN

  1. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG Mục lục 1 I. Mở đầu 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 4 3. Đối tượng nghiên cứu 4 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 5 II. Nội dung 5 1. Cơ sở lý luận  5 2. Thực trạng 6    2.1. Thuận lợi­ khó khăn 6    2.2. Thành công­ hạn chế 7    2.3. Mặt mạnh­ mặt yếu 7    2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động 8    2.5.  Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề  tài đã  8 đặt ra 3. Giải pháp, biện pháp 9    3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp 9    3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 9    3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp 22    3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 22 Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      1
  2. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN    3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn đề  nghiên  23 cứu 4. Kết quả  thu được qua khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn  24 đề nghiên cứu III. Kết luận, kiến nghị 25 1. Kết luận 25 2. Kiến nghị 25 Nhận xét của hội đồng chấm sáng kiến cấp trường – cấp huyện 26 Tài liệu tham khảo 28 Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      2
  3. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục Tiểu học là một trong các hình thức giáo dục trong hệ thống  giáo dục phổ thông. Xác định mục tiêu Giáo dục Tiểu học, trong điều 27, luật   Giáo dục 2011 đã quy định rõ: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình  thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,  trí tuệ, thể  chất, thẩm mỹ  và các kỹ  năng cơ  bản để  học sinh tiếp tục học   trung học cơ sở”. Tiếng Việt là một trong các môn học có vai trò đặc biệt  ở  bậc Tiểu  học, điều đó được thể hiện qua thời lượng giảng dạy qua từng khối lớp, nó  là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác.  Môn Tiếng Việt  ở  Tiểu học có nhiệm vụ  hình thành năng lực ngôn ngữ  cho   học sinh, thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Cung cấp cho học sinh   những kiến thức sơ  giản về Tiếng Việt và các hiểu biết về  xã hội, tự  nhiên  và con người. Môn Tiếng Việt còn là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động  và giao tiếp ở học sinh, giúp học sinh chủ động, tự tin, mạnh dạn thể hiện ý   kiến của mình. Từ  đó giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ  năng cơ  bản khác. Với mục tiêu cuối cùng là bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình   thành thói quen giữ  gìn sự  trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần  hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy, tôi thấy việc dạy và học môn Tiếng  Việt hiện nay đang gặp những khó khăn: Hạn chế  dễ  thấy nhất là việc dạy  và học khuôn mẫu, máy móc, thiếu tính chân thực. Học sinh ngay cả  người  lớn trong giao tiếp, trong các văn phong vẫn còn diễn đạt lủng củng, sử dụng  câu chưa đúng kết cấu ngữ  pháp, chưa đảm bảo liên kết câu, liên kết đoạn;   học sinh học theo câu mẫu, bài văn mẫu quá nhiều, học theo khuôn mẫu nhất   định, cảm thụ  ít, không có sự  sáng tạo riêng của mỗi cá nhân. Học sinh học   chữ  nhiều, phát triển con người ít do đó phát triển các kỹ  năng giao tiếp cho  học sinh còn hạn chế (nói không rõ ý, viết không thành câu, diễn đạt rườm rà,   khó hiểu,…). Rõ ràng các em vẫn chưa phát huy hết khả  năng và tính chủ  động của mình trong học tập, khả  năng diễn đạt bằng ngôn ngữ  của các em   còn nhiều hạn chế.  Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      3
  4. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Đặc biệt khi học sinh học tập theo mô hình trường học mới­ VNEN,  một  mô  hình tổ  chức dạy học theo nhóm, mô hình đặt học sinh vào môi   trường học tập tích cực giúp các em rèn được các kỹ  năng. Từ  đó giúp học   sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy tinh thần trách nhiệm, tính tích cực trên cơ sở  hợp tác. Do vậy với mô hình học tập mới này đã thay đổi cả  cách học của   học sinh, cách dạy và đánh giá của giáo viên đặc biệt thay đổi cả cách tổ chức  lớp học thì những ngoài yêu cầu về kiến thức, sự phát triển các kỹ  năng cho  học sinh trong đó có kỹ  năng giao tiếp, kỹ  năng diễn đạt là điều rất quan   trọng.  Hiện nay, chúng ta đang dạy học theo xu hướng nâng cao dần kết quả  của học sinh trong khi việc dạy học của các thầy giáo, cô giáo chưa đạt yêu   cầu về  sự  hướng dẫn, dìu dắt người học từng bước. Chấm bài thì dễ  dàng  tìm ra sai sót nhưng làm sao để  học sinh khỏi sai sót, chỉ  ra được cụ  thể, rõ  ràng sai sót của các em để đưa ra biện pháp hỗ trợ phù hợp thì phần lớn chúng  ta chưa chỉ ra cách làm đầy đủ và đúng hướng cho học sinh. Xuất phát từ  những thực trạng và băn khoăn đó, tôi chọn đề  tài: “Một   số  kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình   VNEN”. Mong rằng đề  tài này sẽ  mang lại những điều bổ  ích cho học sinh,   giáo viên và phụ  huynh trong việc dạy và học môn Tiếng Việt theo mô hình   VNEN hiện nay. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu của đề  tài: Áp dụng một số  kinh nghiệm để  dạy học môn  Tiếng Việt theo mô hình trường học mới VNEN.  Nhiệm vụ của đề tài: Nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt  lớp 5 theo mô hình VNEN. Định hướng cho GV trong việc thực hiện tổ chức   hoạt động dạy học nhằm khắc phục một số hạn chế, khó khăn của học sinh   trong học Tiếng Việt. Học sinh chủ  động, tích cực hơn trong các hoạt động  học tập, góp phần phát triển được phẩm chất, năng lực toàn diện cho học   sinh, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt,  hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa. 3. Đối tượng nghiên cứu Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      4
  5. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số kinh nghiệm để học tốt  môn Tiếng Việt  lớp 5, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, theo mô hình  VNEN. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Khuôn khổ nghiên cứu: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn  Tiếng Việt lớp 5. Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 5, trường Tiểu học Nguyễn Văn  Trỗi. Thời gian: Năm học 2013­2014 và 2014­2015 5. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp nghiên cứu  ­ Phương pháp quan sát ­ Phương pháp điều tra phỏng vấn ­ Phương pháp thống kê toán học ­ Phương pháp thực hành giao tiếp ­ Phương pháp tổng hợp  II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Môn Tiếng Việt có một vị  trí quan trọng trong giáo dục  ở  Tiểu học,  điều đó được thể hiện ở thời lượng giảng dạy trong từng khối lớp và nó làm  công cụ để học các môn khác. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: ­ Hình thành và phát triển  ở  học sinh các kỹ  năng sử  dụng Tiếng Việt   (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động   của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các   thao tác tư duy. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      5
  6. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN ­ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ  giản về Tiếng Việt   và  những hiểu biết sơ  giản về  xã hội, tự  nhiên và con người, về  văn hóa, văn  học của Việt Nam và nước ngoài. ­ Bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước và hình thành thói quen giữ  gìn sự  trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con   người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 2. Thực trạng 2.1. Thuận lợi, khó khăn * Thuận lợi  ­ Học sinh lớp 5 đa phần có nhận thức tốt hơn các lớp dưới, có trí  tưởng tượng và khả năng nhìn nhận và thâu tóm hình ảnh, học sinh biết dùng  từ đặt câu, nắm được kiến thức Tiếng Việt cơ bản. ­ Học sinh được học 2 buổi trên ngày nên các em được tham gia học   tập, rèn luyện nhiều ở trường. ­ Phòng học khang trang, sạch sẽ, lớp học trang trí đầy đủ với các công  cụ hỗ trợ học tập theo đặc trưng mô hình học tập VNEN. ­ GV nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh.  ­ Phụ  huynh học sinh đa phần đã có sự  quan tâm chăm lo hơn về  việc  học hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ  vở  và đồ  dùng học   tập, tạo điều kiện thuận lợi cho các em tới trường, tạo được mối liên hệ với   giáo viên chủ nhiệm lớp và nhà trường. * Khó khăn Từ phía giáo viên:  ­ Môn Tiếng Việt là môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, giáo viên   chưa có biện pháp sư  phạm phù hợp để  phát huy tối đa năng lực học tập và  cảm thụ  văn học, chưa khơi gợi  ở  các em lòng yêu thích Tiếng Việt, ham  thích học Tiếng Việt. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      6
  7. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN ­ Giáo viên còn hạn chế  về  chuyên môn, nghiệp vụ  cũng như  kinh   nghiệm công tác. Từ phía học sinh: ­ Một số em chưa thực sự quan tâm và chú ý môn Tiếng Việt. ­ Ý thức môn số em chưa cao, chưa có sự tích cực và hợp tác trong giờ học. Từ phía phụ huynh: ­ Một nét tâm lí chung của các phụ  huynh muốn con học thêm về  toán  và các môn tự nhiên. Một vài phụ huynh điều kiện kinh tế còn khó khăn chưa  có sự đầu tư cho con em mình.   ­ Phụ  huynh  ở  vùng nông thôn hạn chế  trong việc mua sách cho việc   đọc của các con. Hiếm thấy gia đình đầu tư được cho con em mình tủ sách để  phục vụ cho việc học tốt môn Tiếng Việt ở Tiểu học. 2.2. Thành công, hạn chế  * Thành công ­ Nâng cao được hiệu quả  trong hoạt động học tập của học sinh. Học  sinh nắm được những sai sót của mình và khắc phục theo sự  hướng dẫn, hỗ  trợ của giáo viên. ­ Những kỹ  năng của học sinh, trong đó có kỹ  năng giao tiếp, hợp tác  được cải thiện thông qua mỗi giờ dạy. ­ Phát triển được ngôn ngữ nói và viết được cho học sinh. * Hạn chế ­ Giáo viên hạn chế  về  thời gian trong tiết học nên không quan tâm,   hướng dẫn cho tất cả các học sinh. ­ Trình độ  của học sinh không đồng đều nên chưa mang lại hiệu quả  tối đa cho mỗi giải pháp. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      7
  8. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN   ­ Một số  em chưa có ý thức cao trong học tập nên chưa hợp tác tốt  trong tiết học. 2.3. Mặt mạnh, mặt yếu * Mặt mạnh  Sau thời gian thực hiện, tôi thấy có được những mặt tích cực như sau: ­ Hiệu quả  học tập môn Tiếng Việt của học sinh tăng lên: Khả  năng   diễn đạt câu văn của học sinh có nhiều tiến bộ, lỗi chính tả  được cải thiện,  học sinh dùng từ ngữ chính xác, có hiệu quả. ­ Học sinh tích cực, tự giác trong các hoạt động học tập. ­ Rèn được các kỹ năng cho học sinh trong đó có kỹ năng giao tiếp, hợp   tác. ­ Phát triển được năng lực học tập cho học sinh thông qua các hoạt  động học tập. * Mặt yếu  ­ Đòi hỏi GV phải có sự đầu tư, chuẩn bị nhiều cho mỗi tiết dạy. Quan   tâm, hỗ trợ nhiều đến các em còn nhiều hạn chế.  ­ Chưa có tác động tích cực đến các em còn nhiều hạn chế  trong học  tập. 2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động  Có được những thành công trên là do học sinh tích cực, chủ  động với  các giải pháp theo hướng tự  chủ  của bản thân dưới sự  hướng dẫn của giáo  viên, do đó mang lại hiểu quả  rõ rệt cho mỗi giải pháp. Đồng thời do đặc   trưng của mô hình học tập VNEN: Học sinh học tập và giải quyết các nhiệm   vụ  học tập theo nhóm, các em được hợp tác chia sẻ  với nhau, nhận xét cho   nhau và giúp nhau khắc phục những sai sót thông qua từng ngày, từng giờ lên   lớp. Do vậy thấy rõ được hiệu quả cho từng giải pháp.  Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế: Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      8
  9. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN ­ Đối tượng học sinh chưa thực sự đồng đều. ­ Thời gian thực hiện các giải pháp không liền mạch, có sự  gián đoạn  về  thời gian của tiết học và sau đó được tiếp tục vào các tiết ôn do đó học   sinh nắm bắt các giải pháp chưa có tính hệ thống. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra Học tập theo mô hình trường học mới VNEN, học sinh phát huy được  tinh thần học tập tích cực, tự giác, chia sẻ, hợp tác, sáng tạo. Giáo viên chỉ là  người hỗ trợ, hướng dẫn, gợi mở cho các em. Học sinh được khuyến khích tự  nhận xét bản thân và nhận xét bạn. Khi các em tự mình tìm ra điểm sai và tìm  cách giải quyết thì kiến thức đó sẽ  rất bền vững. Do đó mô hình VNEN góp  phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng dạy các môn học và hoạt động  giáo dục trong đó có môn Tiếng Việt. Những khó khăn, vướng mắc trong dạy học môn Tiếng Việt là điều   không  phải   mới.  Nó  xuất   hiện  đồng  hành  trong  quá  trình  thực  hiện.  Tuy   nhiên, yếu tố  quyết định vẫn là cách làm đúng hướng và phù hợp của giáo  viên, khơi gợi ở các em ý thức tự học. Luôn luôn động viên sự tiến bộ của các  em, hướng dẫn dần dần cùng sự  hợp tác, hỗ  trợ  của không gian lớp học,  không gian sống của các em sẽ  mang hiệu quả  trong việc phát triển con  người toàn diện, bồi dưỡng nhân cách và kỹ năng cho học sinh. 3. Giải pháp, biện pháp 3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Giải pháp này hướng đến các mục tiêu: ­ Tăng cường hiệu quả học tập môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5. ­ Phát triển tốt các kỹ năng cho học sinh trong đó có kỹ năng giao tiếp,   hợp tác. ­ Phát huy được tính chủ  động tích cực của học sinh, đáp  ứng mục   tiêu xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. 3.2.  Nội dung và cách thức thực hiên giải pháp, biện pháp Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      9
  10. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN ­ Học sinh chủ  động chiếm lĩnh được kiến thức, ghi nhớ  và khắc sâu  được kiến thức. Từ  đó vận dụng có hiệu quả  vào trong các hoạt động giao  tiếp và các hoạt động sử dung ngôn ngữ. Giáo viên là người định hướng, khơi  gợi cho học sinh; hỗ trợ học sinh khi gặp khó khăn. ­ Tăng cường thêm các bài tập để khai thác đối tượng học sinh. ­ Chú ý phát triển các kỹ  năng cơ  bản cho học sinh, đặc biệt kỹ  năng  viết, kỹ năng nói. 3.2.1. Tăng cường sử dụng từ đúng, từ hay thông qua các bài Luyện từ   và câu  Để  học sinh dùng từ  hay trước hết tôi đặc biệt chú ý hướng dẫn học   sinh hiểu đúng nghĩa của  từ thông qua các tiết Luyện từ và câu, mở rộng vốn  từ. Muốn học sinh hiểu đúng từ cần chú ý đến cách phát âm chuẩn, viết đúng   và cách diễn đạt của học sinh. Khi học sinh nói, viết cho các em khác nhận   xét, bổ sung, sửa chữa cho nhau theo cặp, theo nhóm rồi báo cáo lại. Giáo viên  theo dõi, hỗ  trợ  khi cần thiết, nhận xét, chỉnh sửa cho các em. Sau mỗi lần   như  thế, học sinh nắm được những thiếu sót của bản thân để  lần sau không   mắc phải. Đặc biệt với những em hiểu sai nghĩa từ, giáo viên có thể  hướng   dẫn các em sử dụng Từ điển Tiếng Việt, cho các em đặt câu với nghĩa các em   hiểu được, sau đó giải thích cho học sinh trong tình huống cụ thể. Làm được  điều này học sinh sẽ  ghi nhớ  được lỗi sai của mình và có được cách hiểu   đúng về nghĩa từ một cách tự nhiên và lâu quên. Ví dụ: Khi dạy bài 19A: Người công dân số  Một, học sinh thường hay  mắc lỗi đọc nhầm “Người  công dân  số  Một” thành “Người  công nhân  số  Một”. Lí do của do các em chưa hiểu nghĩa được hai từ “công dân” và “công  nhân”, do đó sử  dụng nhầm lẫn mà không hề  biết. Lúc này tôi thường cho  học sinh đặt hai câu để học sinh phân biệt nghĩa: Anh Thành là một  công dân  gương mẫu của đất nước và Bố em là công nhân của nhà máy sợi.  Khi học sinh đã biết dùng từ đúng, có nhiều cách giúp học sinh dùng từ  hay. Để dùng được từ hay trước hết học sinh phải hiểu nghĩa của từ, dùng từ  chính xác. Quan trọng để học sinh tự tư duy, tự tìm tòi, phát huy sự  sáng tạo   của các em. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      10
  11. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Phần lớn học sinh là tự học, nhưng giáo viên phải có sự định hướng, hỗ  trợ  kiến thức cho học sinh. Ví dụ  như  kiến thức về từ đồng nghĩa, từ  nhiều   nghĩa, từ  đồng âm. Thực tế  học sinh hay nhầm lẫn giữa từ  đồng nghĩa, từ  nhiều nghĩa và từ  đồng âm. Không nắm được nghĩa của chúng bởi vì định  nghĩa về  từ đồng nghĩa, từ  nhiều nghĩa, từ  đồng âm chưa chính xác dẫn đến  sự khó khăn cho học sinh trong việc nhận diện. Phân biệt các từ trên nếu chỉ  dựa vào định nghĩa là chưa đủ. Đứng trước thực tế  đó nên tôi đã hỗ  trợ  cho   học sinh bằng cách mở rộng và hệ thống kiến thức. ­ Đầu tiên cho học sinh tự  nhắc lại định nghĩa của từ  đồng nghĩa, từ  nhiều nghĩa, từ đồng âm. ­ Nêu một số ví dụ để học sinh dễ hiểu kiến thức hơn. Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau và  khác nhau. Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái. Ví dụ: Giữ gìn, bảo vệ có nghĩa chung là giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một  cái gì đó (Giữ gìn quần áo, bảo vệ quần áo) Tuy nhiên hai từ này có điểm khác nhau: + Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn trừu tượng, giữ  gìn phù hợp với   đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đoàn kết của Đảng như  giữ  gìn con ngươi của   mắt mình, Bảo vệ đất nước) Ví dụ  :  Giữ  gìn, bảo vệ   có nghĩa chung là giữ  nguyên vẹn, trọn vẹn  một cái gì  đó (Giữ gìn quần áo; bảo vệ quần áo) + Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động  của bên ngoài; giữ gìn có tính chất thụ động giữ  cái đã có, không có sắc thái   chống lại thế lực bên ngoài (giữ gìn luận văn khác bảo vệ luận văn) Hoặc các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái. Giáo viên nên hỗ trợ để  học sinh thấy rõ được nét nghĩa riêng dùng đúng cho từng trường hợp. Ví dụ: Cho, biếu, tặng: cho có sắc thái trung hòa, biếu có sắc thái kính  trọng, tặng có sắc thái thân mật. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      11
  12. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Do có sự  khác nhau về  sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách  dùng các từ   đồng nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, các từ  đồng nghĩa   không phải bao giờ cũng thay thế được cho nhau, chúng đồng nghĩa với nhau   vì chúng vừa giống nhau vừa khác nhau. Từ  nhiều nghĩa và từ  đồng âm đều có hình thức âm thanh giống nhau  nên dễ nhầm lẫn: Ví dụ: Ba (1) bố: Ba tôi rất thích đọc báo.      (2) số từ: Số ba là con số không may mắn của tôi. Học sinh có thể nhầm lần từ ba là từ nhiều nghĩa vì hình thức âm thanh  giống nhau. Khi gặp trường hợp này, tôi đã phân biệt để  học sinh thấy được  các nét nghĩa của từ nhiều nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, còn ở đây   các nét nghĩa không có quan hệ với nhau vì thế không phải là từ nhiều nghĩa.   Trường hợp ở ví dụ trên là từ đồng âm. Để giúp học sinh có thể phân biệt được đâu là từ nhiều nghĩa đâu là từ  đồng âm cần giúp học sinh xác định quan hệ  về  các nét nghĩa chính xác (đối  với từ nhiều nghĩa), nếu loại trừ được có quan hệ về các nét nghĩa thì đó là từ  đồng âm còn nếu chúng có quan hệ  về  nét nghĩa với nhau thì đó là từ  nhiều   nghĩa. Học sinh tham gia thảo luận tìm ra kiến thức bài học 3.2.2. Phát triển kỹ năng đọc cho học sinh qua các bài Tập đọc Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      12
  13. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Có bốn kỹ  năng đọc là đọc đúng, đọc lưu loát, đọc hiểu và mục tiêu   cuối cùng là đọc diễn cảm. Để đạt được đọc diễn cảm thì trước tiên học sinh  phải luyện được đọc đúng, đọc lưu loát và đọc hiểu. Luyện đọc phải chú ý đến từng đối tượng học sinh. Khi học sinh học   theo mô hình VNEN, học sinh ngồi học theo nhóm, việc luyện đọc cũng được  thực hiện trong nhóm. Do đó khi lựa chọn nhóm trưởng trong giờ  luyện đọc  thì kỹ năng đọc của nhóm trưởng phải tốt. Hơn nữa nhóm trước phải thực sự  nhanh nhẹn khi tổ chức luyện đọc cho các bạn. Những bạn đọc chậm có thể  cho đọc một đoạn, những bạn đọc tốt hơn cho đọc hai đoạn hoặc cả bài. Chú  ý phải theo dõi, nhận xét và chỉnh sửa cho các khi bạn phát âm sai rồi báo cáo  cho giáo viên. Giáo viên tổ chức luyện đọc thêm  cho học sinh đọc còn chậm. Rèn kỹ năg đọc cho học sinh là cả một quá trình mà yếu tố quyết định  là  ở  ý thức tự  rèn của các em. Do vậy, giáo viên cần luôn nhắc nhở  các em  phải thường xuyên luyện đọc thêm ở nhà. Có đọc thêm ở nhà thì học sinh mới  biết từ  nào mình đọc sai để  lên lớp sửa chữa. Ngoài ra phải bồi dưỡng cho  các em ham thích đọc sách, ý thức tự  đọc. Sưu tầm thêm sách báo để  đọc.  Tham gia thêm các Câu lạc bộ  Tiếng Việt của trường, lớp để  nâng cao khả  năng đọc của mình. Giờ luyện đọc của các em học sinh trong một tiết Tiếng Việt Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      13
  14. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Ví dụ: Khi dạy bài kì diệu rừng xanh (Nguyễn Phan Hách, Tiếng Việt  5­ tập 1B), học sinh dễ  mắc các lỗi sai sau, giáo viên chú ý luyện đọc thêm  cho học sinh những từ ngữ: ­ Lúp xúp (luyện đọc đúng vần) ­ Giang sơn vàng rợi, màu sắc sặc sỡ rực lên, nấm dại, chồn sóc, rừng  rào rào chuyển động (luyện âm đầu và cụm từ) Đọc diễn cảm là kỹ  năng cao nhất trong luyện đọc. Thông qua nhiều  hình thức: Luyện đọc diễn cảm đoạn văn (khổ thơ) em thích nhất, luyện đọc   diễn cảm cả bài hoặc đọc phân vai, đóng kịch (đối với những văn bản nhiều   lời thoại). Giáo viên chú ý cho học sinh về  sắc thái giọng đọc, ngắt giọng,  nhấn giọng, nét mặt, của chỉ khi đọc. Ví dụ: Khi dạy bài “Chuỗi ngọc lam”  Luyện đọc theo kiểu phân vai như sau: 4 học sinh trong nhóm phân vai:  người dẫn chuyện, chú Pi­e, cô bé Gioan và chị cô bé rồi luyện đọc. Học sinh   nhận xét giọng đọc của từng nhân vật như sau: + Lời cô bé Gioan: ngây thơ, hồn nhiên khi khen chuỗi ngọc lam đẹp,  khi khoe nắm xu lấy từ con lợn đất tiết kiệm. + Lời chú Pi­e: điềm đạm, nhẹ nhàng, tế nhị + Lời chị cô bé: lịch sự, thật thà + Người dẫn chuyện: đọc giọng kể  chuyện chậm rãi, nhẹ  nhàng. Câu  kết chuyện đọc chậm, đầy cảm xúc. Về  thời gian luyện đọc, cần dành nhiều thời gian để  luyện đọc, tuỳ  vào trình độ  của học sinh, giáo viên cho luyện kỹ  năng đọc đoạn trọng tâm  đoạn khó, cho các em đọc tốt đọc trước lớp. Đến những tiết ôn tập, giáo viên  coi đây như một dịp để  học sinh thi đọc với nhau, kết hợp với hai cách chọn  bài thích nhất, đoạn thích nhất hoặc bắt thăm thi đọc thuộc lòng. Giáo viên   nên tuyên dương những em có giọng đọc tốt, diễn cảm và cũng cần những  hình thức động viên, khuyến khích những em đọc chưa tốt. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      14
  15. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Bản thân giáo viên cần rèn kỹ năng đọc, giáo viên cần có giọng đọc tốt  để  đọc mẫu hoặc hướng dẫn học sinh đọc. Giọng đọc giáo viên là công cụ  trực quan cho học sinh luyện đọc. Xây dựng không khí hào hứng, say mê học tập cho học sinh bằng cách  tổ chức các trò chơi học tập. Để  kích thích hứng thú luyện đọc bằng cách tổ  chức các trò chơi, thông qua trò chơi kích thích các em hứng thú học tập và  tinh thần thi đua. Ví dụ: Thi học thuộc lòng “Truyền điện” theo nhóm, bài “Sắc màu em  yêu”. Các nhóm bốc xăm để giành quyền đọc trước Nhóm đầu tiên đọc đoạn  1, sau đó chỉ bất kì truyền điện thật nhanh một bạn khác nhóm 2,…tương tự  như  vậy đến hết bài. Nếu nhóm nào không thuộc thì bị  đứng “điện giật”.  Nhóm nào có ít bạn bị “điện giật” thì nhóm đó thắng cuộc.  Như vậy ta thấy trò chơi học tập luôn luôn làm cho học sinh hào hứng,  say mê tích cực trong học tập, làm cho học sinh tự đọc, luyện đọc nhiều hơn. 3.2.3. Rèn kỹ năng làm văn cho học sinh  Muốn học sinh rèn được kỹ  năng viết được một bài văn hay thì giáo   viên không nên vội vàng. Đầu tiên phải hướng dẫn học sinh viết được đoạn  văn hay, câu văn hay. Ở các lớp dưới, học sinh đã được rèn luyện viết câu rất  kĩ do đó ở lớp 5, giáo viên nên chú ý chỉnh sửa lại cho học sinh và phát triển  cho học sinh kỹ năng viết đoạn văn. ­  Ở học sinh thường mắc lỗi viết lan man, viết dài dòng dẫn đến viết  dài mà không có được ý. Do đó khi viết tôi chú ý rèn cho học sinh viết câu mở  đoạn, từ  câu mở  đoạn sẽ  triển khai các câu trong đoạn văn. Trong đoạn văn   chú ý cho học sinh tả theo trình tự nhất định, lôgic. Mỗi khi học sinh viết giáo   viên nên gợi ý cho học sinh thấy đâu là câu mở đoạn. Ví dụ: Khi dạy viết đoạn văn tả hình dáng người bạn em yêu quý nhất.   Tôi định hướng cho học sinh nắm được ý chính của đoạn văn là tả  hình dáng  với câu mở  đoạn như: Bạn Hoa là một người rất xinh xắn, dễ thương. Vậy   xinh xắn, dễ thương như thế nào sẽ triển khai để viết các câu tiếp theo trong  đoạn văn với các chi tiết về  dáng người, khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, chiếc   mũi, cái miệng, làn da,…Thực hiện tốt khâu định hướng học sinh sẽ không bị  lạc đề hay viết lan man. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      15
  16. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN ­ Khi viết đoạn văn, cần chú ý nhắc học sinh tránh lỗi lặp từ, lặp ý.   Cần nhắc học sinh khi miêu tả, cần tả cụ thể từng chi tiết chứ không phải kể  hay liệt kê chi tiết dẫn đến tình trạng học sinh chỉ mới viết được 5 đến 7 câu  thì không biết viết gì nữa. Khi học sinh hoàn thiện được đoạn văn cần phải tổ  chức nhận xét,  chỉnh sửa đoạn văn. Tổ chức học sinh nhận xét cho học sinh, nhóm nhận xét  cho học sinh. Sau đó giáo viên nhận xét chung và chỉnh sửa lại. Dựa vào quá trình viết đoạn văn, học sinh sẽ tiến hành viết cả bài văn,  giáo viên nhắc nhở học sinh một bài văn hoàn chỉnh cần có đủ ba phần: Phần mở bài: Mở  bài có hai kiểu là mở  bài trực tiếp và mở  bài gián tiếp. Giáo viên  nên khuyến khích để học sinh viết theo mở bài gián tiếp và cho học sinh tập  viết trước đoạn mở  bài, sau đó cho học sinh đọc để  các bạn khác nhận xét.   Nếu học sinh viết chưa được, giáo viên cho học sinh viết lại. Lúc này những   bạn viết tốt rồi sẽ tư vấn, hỗ trợ cho những bạn chưa hoàn thành. Giáo viên  sẽ nhận xét lại. Phần thân bài: Ở  phần thân bài, định hướng cho học sinh viết từng đoạn. Giáo viên  cho học sinh viết phần thân bài rồi đọc các bạn nghe và nhận xét. Những bài   viết tốt là bài viết diễn đạt trôi chảy, rõ ý. Học sinh biết sử dụng những biện   pháp nghệ  thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng phù hợp. Vận dụng được các  giác quan trong quá trình quan sát một cách linh hoạt. Khi học sinh viết tốt  giáo viên cần có có hành động tuyên dương, khen thưởng kịp thời để  tạo sự  khích lệ đối với các em. Nếu bài văn viết chưa đạt, giáo viên động viên học sinh viết lại, có thể  tham khảo những bài văn thành công. Ngoài ra giáo viên sử  dụng thêm hình  ảnh, tranh  ảnh hay video để  tăng khả  năng cảm thụ, giúp học sinh dễ  dàng  hình dung trong quá trình quan sát. Phần kết bài:  Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      16
  17. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Đây là phần quan trọng, giáo viên nên hướng cho học sinh kết bài mở  rộng. Cũng như  các phần trên giáo viên cần thường xuyên hỗ  trợ, chỉnh sửa  cho học sinh. Khi học sinh viết tốt nên tuyên dương, động viên kịp thời. Trong suốt quá trình dạy học các bài Tập làm văn, ngoài việc chỉnh sửa,   nhận xét cho học sinh, để cho câu văn của học sinh tránh khô khan, thiếu hình  ảnh. Tôi còn chú ý tạo ra môi trường học tập vui tươi, tích cực, kích thích  hứng thú học tập của các em thông qua các hoạt động như  trò chơi, thi đua.  Việc dạy học Tập làm văn có hiệu quả  không phải một sớm một chiều mà  phải thực hiện cả một quá trình xuyên suốt tích lũy và rèn luyện. Vì thế, tôi   thường xuyên cho các em trao đổi, nhận xét bài làm với bạn, ghi chép lại   những câu văn hay vào Sổ  tay Văn học của mình hoặc chia sẻ   ở  Góc Tiếng   Việt. Trong quá trình dạy học, tôi tạo điều kiện để  các em được tự  do phát   triển năng lực học tập cá nhân, trí thông minh và óc sáng tạo của mỗi em. Đây  chính là dịp các em được thể hiện năng lực và vốn văn chương của mình.  Cụ  thể  như  sau: Tôi đưa ra những câu đơn giản, đủ  thành phần chủ  ngữ và vị ngữ. Sau đó cho các em tự suy nghĩ, thi đua đưa ra những hình ảnh   so sánh để  câu văn hấp dẫn, sinh động hơn.  Ở  hình thức thi đua này, sẽ  tạo  cho các em một môi trường học tập tích cực, em nào cũng muốn được thể  hiện tài năng của mình trước lớp. Do đó, các em sẽ đem hết khả năng và vốn   từ ngữ của mình ra thi thố cùng các bạn. Đây chính là những cơ hôi để các em   được dử dụng vốn từ của mình, chỉnh sửa được cách dùng từ đặt câu. Ví dụ: Bé Nga đang tập đi Học sinh có thể thêm: ­ Ngoài hiên nhà, bé Nga đang chập chững tập đi. ­ Ô kìa, bé Nga đang tập đi mới dễ thương làm sao! ­ Đôi chân xinh xắn của bé Nga đang chập chững bước đi từng bước   một ngoài hiên nhà. 3.2.4. Khắc phục lỗi chính tả  Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      17
  18. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Nhìn chung tình hình phạm lỗi chính tả  của học sinh trong nhà trường   Tiểu học rất đa dạng. Có nhiều loại lỗi và cách khắc phục: ­ Lỗi do chưa hình thành được biểu tượng âm thanh chi nên khi dạy  giáo viên phải đọc chuẩn xác, đọc tròn vành, rõ chữ  giúp học sinh viết một  cách dễ dàng hơn, cần đọc đúng tốc độ để học sinh viết kịp. ­ Lỗi viết hoa tùy tiện, lẫn lộn giữa chữ viết hoa và chữ viết thường.  Không nắm được quy tắc viết hoa, kiến thức ngữ pháp còn hạn chế. Vì vậy  giáo viên cho học sinh nắm vững quy tắc viết hoa, thường xuyên cho học sinh  ôn luyện các quy tắc chính tả.  Ví dụ: Một số lỗi như: Pháp/ pháp, Ê­mi­li/ Ê­Mi­Li, Sông Đà/ Sông đà,  Nô­ en/ Nô En ­ Lỗi do học sinh trong quá trình học môn Tiếng Việt không chịu khó,  thiếu tính cẩn thận dẫn đến viết thừa nét, thiếu nét, chữ viết không đúng quy   định,…Giáo viên cần chú ý đến những em này, cho các em tự  sửa lỗi của   mình để tìm ra chỗ các em viết sai, sau đó cho các em so sánh với bài viết của  bạn để so sánh, khắc phục lỗi của mình. Ví dụ: Các nét khuyết trên và nét khuyết dưới học sinh viết không đầy   đủ, nét móc xuôi và nét móc ngược thường bị thiếu,… Cách tiến hành trong các tiết luyện viết theo trình tự viết bài viết trước,  thực hiện các hoạt động về  kiến thức chính tả  sau như  lâu nay đã làm cho   phần viết trở  nên quan trọng hơn và luyện chính tả  trở  thành phần phụ  của  tiết học. Chính vì vậy giáo viên thường đầu tư  nhiều vào phần viết bài còn   các hoạt động bài tập thường lướt qua nhanh. Nếu nghiên cứu kĩ ta sẽ  thấy  quy tắc chính tả  thưởng nằm  ở  các hoạt động sau bài luyện viết. Nghĩa là  học sinh chưa biết hoặc chưa nhớ  lại quy tắc đã viết bài thì làm sao các em   nắm vững được các quy tắc chính tả. Tại sao chúng ta không mạnh dạn “đột phá” đổi mới bằng cách đảo  trình tự  tiết dạy: Phần luyện tập chính tả  dạy trước và bài luyện viết dạy   sau. Ví dụ: Dạy bài Việt Nam thân yêu ở tuần 1, nếu chúng ta dạy luyện tập  chính tả trước để nhắc lại quy tắc chính tả: K, gh, ngh đứng trước i, e, ê/ c, g,   Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      18
  19. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN ng đứng trước a, o, ô,  ơ… thì khi viết bài luyện viết, các em sẽ  vận dụng   ngay quy tắc đó mà viết ít sai hơn cũng như  khắc sâu kiến thức về  chính tả  hơn. Hay với bài Thư gửi các học sinh ở tuần 3, Anh bộ đội Cụ Hồ gốc Bỉ ở  tuần 4, phần luyện tập là quy tắc đánh dấu thanh. Phần luyện tập được dạy  trước, học sinh nắm được kiến thức chính tả: Dấu thanh đặt ở âm chính/ Âm   chính là nguyên âm đôi, là tiếng không có âm cuối thì đặt dấu thanh ở chữ cái   đầu của nguyên âm đôi/ Âm chính là nguyên âm đôi, là tiếng có âm cuối thì  đặt dấu thanh ở chữ cái thứ hai của nguyên âm đôi. Sau đó, học sinh viết bài  chính tả chắc chắn rằng các em sẽ đánh dấu thanh chính xác hơn và nhớ  lâu   hơn quy tắc chính tả này.  Việc thực hiện luyện tập chính tả  trước khi viết còn tiết giảm được  thời gian. Vì nếu giáo viên tiến hành luyện tập chính tả  trước  ở  các bài này  thì ở bước cho học sinh viết từ dễ sai chính tả của phần bài viết, giáo viên có  thể lược qua các từ có thể áp dụng quy tắc chính tả mà học sinh mới vừa học   ở phần luyện tập.  Đổi mới phương pháp giảng dạy  ở  tiết chính tả  không dễ  nhưng nếu   giáo viên nghiên cứu kĩ nội dung tiết dạy, nắm chắc trọng tâm, mạnh dạn  thay đổi trình tự  và lược bỏ  các bước thừa thì tiết chính tả  sẽ  đạt hiệu quả  cao hơn, học sinh sẽ viết chính tả tốt hơn. 3.2.5. Phát huy các công cụ hỗ trợ học tập trong các tiết Tiếng Việt Mô hình VNEN là mô hình phát huy được năng lực học tập của học   sinh ở chính không gian học tập. Một không gian mở, thân thiện và khơi gợi  được hứng thú học tập của các em sẽ nâng cao được hiệu quả học tập. Hiệu   quả  cho thấy những bài Tiếng Việt được liên kết với không gian học tập  cùng với các công cụ  hỗ  trợ  học tập giúp các em ghi nhớ  và khắc sâu kiến   thức đã học đồng thời giúp các em vận dụng được các kỹ năng cần thiết trong  môn Tiếng Việt. Những công  cụ  hỗ  trợ  hiệu  quả   trong  các  tiết Tiếng Việt  của  lớp  VNEN là “Nhịp cầu bè bạn”, “Góc học tập” và Góc Thư  viện”. Hiệu quả  trong việc dạy học Tiếng Việt xưa nay chưa cao là do chúng ta chỉ dừng lại ở  khuôn khổ  của bài học mà chưa phát triển nó ra, chưa có tính  ứng dụng với   thực tế, với đời sống sinh hoạt của các em. Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      19
  20. Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN Những dòng chia sẻ  được gửi qua Nhịp cầu bè bạn sau khi học xong   tiết học là cơ hội để học sinh rèn kỹ năng viết thường xuyên nhất. Thông qua  những lá thư được gửi cho bạn bè, cho thầy cô giáo các em sẽ  được trao đổi   cho nhau những suy nghĩ, tình cảm của mình. Nhưng hơn thế  nữa kỹ  năng  viết của các em sẽ  nâng cao dần. Giáo viên cho học sinh đọc thư  của mình  trước lớp, sau đó cho các bạn trong lớp nhận xét. Chú ý cho học sinh nhận xét   ở cách diễn đạt câu văn. Hình thức gửi thư tôi thay đổi để  mỗi học sinh mỗi   lần gửi được gửi cho những bạn khác nhau: Có thể gửi cho bạn ngồi bên tay   phải trong nhóm, gửi cho bạn ngồi đối diện với bạn hoặc gửi cho bạn mà em  muốn gửi. Ví dụ: Sau học bài 4A: Hòa bình cho thế  giới (Tiết 1). Tôi cho các em  gửi cho nhau những lá thư qua Nhịp cầu bè bạn với nội dung: Những suy nghĩ  của em sau khi học xong bài Tập đọc Những con sếu bằng giấy. Hội đồng tự  quản gọi một vài bạn muốn chia sẻ  thư  của mình trước lớp. Các bạn khác   lắng nghe, nhận xét. Giáo viên nhận xét, bổ sung cho học sinh nếu cần.             “Nhịp cầu bè bạn”  tại một lớp học VNEN Xây dựng Góc thư viện với đầy đủ các loại truyện thiếu nhi, sách báo,  bài văn mẫu để học sinh có cơ  hội trau dồi vốn từ ngữ của mình từ  đó nâng   cao hiệu quả học môn Tiếng Việt.  Ở lớp tôi chú trọng và quan tâm đặc biệt  đến Góc thư  viện. Thư  viện cần đặt  ở  vị  trí phù hợp, dễ  nhìn và dễ  lấy,  không đặt quá cao hoặc quá thấp. Các đầu sách cần được cập nhật thường  xuyên dưới sự  quản lí của Ban thư  viện. Hằng tuần Ban thư viên cập nhật,  kiểm tra và báo cáo số lượng sách, tình trạng đọc sách của các bạn trong lớp.  Đặc biệt những cuốn sách hỗ  trợ  việc học Tiếng Việt cần phải có như: Từ  điển Tiếng Việt, Cách khắc phục một số lỗi chính tả, hay Những bài văn hay   Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi                      20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2