Tên đề tài:
“RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO, TỰ HỌC, TỰ TÌM TÒI
NGHIÊN CỨU CỦA HỌC SINH QUA VIỆC HOÀN THÀNH BÀI TẬP VỀ NHÀ
PHN THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM”
MỤC LỤC
1
A. ĐẶT VẤN Đ
1. Lý do chn đề i
Sự pt trin kinh tế xã hi Việt Nam trong bối cảnh hội nhp quốc tế với nền kinh tế
tri thức và tn cầu hoá tạo ra những hi nhưng đồng thời đặt ra nhngu cầu
mới đối với giáo dục đào tạo trong việc đào tạo đội ngũ lao động. Khoa học và công nghệ
đang phát trin như bão trên quy mô tn cầu, tri thức nn loi không ngng tăng lên.
Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải tri thức và đào tạo nguồn lực con
người đáp ng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Đ đáp ng những đòi hỏi y của hội, giáo dục Việt Nam đã đang tập trung
đổi mới, hưng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại ngang tầm với các nước trong khu
vực trên thế giới. Giáo dục ph thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ
chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái đến chỗ quan tâm học sinh vận
dụng được cái qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện
thành công việc chuyển t phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang
dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực
phẩm chất cho học sinh.
Trong các loại năng cần hình thành cho học sinh, thì năng thực tế, năng
hợp tác rất quan trọng. Các môn khoa học tự nhiên như hóa học sẽ góp phần hình
thành năng này qua hoạt động nhóm thực hành thí nghiệm. Tầm quan trọng của
giáo dục bậc phổ thông nói chung thực hành thí nghiệm nói riêng cũng được hội
nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW)
khẳng định “…Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực kỹ năng thực hành,
vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích
học tập suốt đời…”
Nhữngm gn đây vấn đthực nh tnghim đã được đưa vào đề thi THPT quốc
gia. Đặc biệt năm 2019 có nhng câu thực nh rất k. Đ m được các i tập thực
nghiệm đó thì học sinh cần được tích lũy kiến thức về thực hành thí nghiệm của nhiu
m trước đóngay từ lúc mới làm quen với hóa học. SGD và ĐT Hà Tĩnh ng đã rất
quan tâm đến vấn đề thực hành tnghim. Hai năm gần đây Sđã tổ chức thi HSG phần
thực hành đối với các môn KHTN tại các trường phổ thông; nhằm mc đích kiểm tra cơ
2
sở vật chất thực tế dạy học thí nghiệm thực hành ở tng nhà trưng. Trong dịp m
2018 và 2019 Sở đều tchức tập huấn cho giáo viên cốt cán về thực nh thí nghiệm.
Ngoài ra với sự xuất hiện của nhiều khối thi, đặc biệt nhiều HS lựa chọn khối A1. S
ợng HS đăng kí thi hóa học nyng giảm nhiều trường phổ tng. Chứng trằng
niềm đam mê đối vớin Hóa học đã giảm. m thế nào để tạo đam cho học sinh đối
với n hóa học u cầu cấp thiết!
Đối với giảng dạy thực hành bộ môn Hóa học, tớc đây sách giáo viên yêu cầu học
sinh chlàm thí nghiệm trong các giờ thựcnh theo phân phối chương tnh thống nhất
chung của bộ Giáo dục; còn trong các giờ học thuyết trên lớp các thí nghiệm do giáo
viên biểu diễn. Trong giảng dạy bộ môn a học tôi thường áp dụng phương pháp “hoạt
động nhóm” và thí nghim nghiên cứu” đi theo hướng «n tay nặn bột ».phương
pháp cho học sinh trực tiếpm t nghiệm theo nhóm sau đó mới kết luận vnh chất.
So nh với phương pháp truyền thống, tôi thấy phương pháp mới ưu việt hơn nhiều; học
sinh được tiếp xúc gần hơn với thực tế, kích thích sự say mê tìm tòi sáng tạo và rèn luyện
được kĩ năng thực hành thí nghiệm cho các em. Thông qua việc trực tiếp làm thí nghiệm,
học sinh s hiểu sâunhlâu nnh chất của các chất, ch động hơn trong học tập.
Mặt khác, tạo cho học sinh niềm tin vững chắc vào khoa học.
Đ có một giờ dạy theo phương pháp « tnghiệm nghiên cứu » thành công đòi hỏi
sự chuẩn bỡng của giáo viên và học sinh. Về pa giáo viên thì kĩ năng thực hành đã
được rèn luyện từ nhiều năm học phổ tng, học đại họcthực tế giảng dạy. ngay c
như thế thì trước mỗi buổi dạy giáo vn cũng phải làm lại thí nghiệm. Nng đối với học
sinh thì cơ sở vật chất không thể đáp ứng việc trước mỗi buổi học có thí nghiệm học sinh
n phòng thực hành làm trước các thí nghiệm. Mà không m tớc tnghiệm thì tỉ l
tnh ng không cao.
Với tất cả lí do đó tôi trình bày vấn đề Rèn luyện năng duy sáng tạo, tự
học, tự tìm tòi nghiên cứu của học sinh qua việc hoàn thành bài tập về nhà phần
thực hành thí nghiệm”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tác dụng của việc chuẩn bị bài tập thực hành ở nhà đối với việc nâng cao
năng thao c thí nghiệm, kĩ năng quan sát các hiện tượng t nghim, kĩ ng giải
quyết các bài tập thực nghiệm của học sinh. T đó học sinh sẽ phối hợp tốt trong việc tổ
chức dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm và t nghiệm nghn cứu
3
3. Nhiệm vụ nghn cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học hợp tác nm, thí nghiệm nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực trạng dạy và sử dụng thiết bthí nghiệm ở một số trường trung học
phổ thông trên địa bàn.
- Nghiên cứu khả năng sử dụng internet của học sinh trong việc khai thác các video
t nghiệm giải quyết các bài tập thí nghiệm trước mỗi buổi học thí nghiệm.
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa a học phổ tng.
- Thiết kế một s bài n lớp có s dụng phương pháp dạy học hợp tác nm và t
nghiệm nghiên cứu.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
+ Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học thực hành thí nghiệm ở bậc học THPT.
+ Đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động t chức dạy học một số bài thí nghiệm hóa học của go viên trung
học phổ thông.
- Hoạt động nghiên cứu tnghiệm và hoạt động nhóm của học sinh.
- Hoạt động chuẩn bị t nghiệm nhà của học sinh thông qua phiếu bài tập về nhà.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Một si học về tính chất hóa học có sử dụng tnghiệm trong chương trình hóa
học trung học phổ thông chương trình cơ bản.
- Thời gian: từ tng 9/2018 đến tháng 8/2019
- Không gian: Tại một slớp họctrường trung học phổ thông
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài được áp dụng vào thực tế dạy học sẽ khai thác được tiềm năng to lớn
của internet. Học sinh sẽ chủ động hơn trong việc nghiên cứu tnghiệm cũng như các
vấn đề thực tiễn a học trong cuộc sống. Từ đó sẽ kích thích niềm đam tìm tòi
nghiên cứu, khám phá khoa học cũng như niềm đam mê đối với môn hóa học.
7. Những đóng góp của đề tài
- Qua dự giờ đồng nghiệp tôi thấy chưa có giáo viên nào yêu cầu học sinh chuẩn bị
thí nghiệm nhà qua việc sử dụng internet. nhân tôi trước đây khi giao nhiệm vụ
về nhà cho học sinh cũng chỉ yêu cầu “về nhà xem các video thí nghiệm trongi
học”. Nếu chỉ giao nhiệm vụ bằng lời nói HS sẽ không thực hiện. Nhưng khi tôi giao
4
nhiệm vụ bằng phiếu học tập kiểm tra đánh giá thì học sinh chấp hành rất
nghiêm túc. Từ đó kĩ năng thực hành của học sinh được cải thiện rõ rệt.
- Đề tài góp phần hướng dẫn học sinh cách nghiên cứu thí nghiệm qua các video
trên internet; học sinh xem trước được cách tiến hành thí nghiệm, các dụng cụ hóa chất
cần thiết trước khi làm thực hành sẽ kích thích sự tìm tòi nghiên cứu của học sinh;
năng tự học tự tích lũy kiến thức sẽ tăng lên.
- Đối với các thí nghiệm độc hại phải tiến hành trong tủ hút đa số các trường
chưa có thì việc trình chiếu các video thí nghiệm là rất cần thiết.
- Đề tài sẽ nguồn tài liệu hữu ích để GV, HS tham khảo trong quá trình đổi mới
phương pháp giảng dạy và học tập.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu về luận dạy học, tâm học, GD học, phương pháp
dạy học hóa học và các tài liệu về thí nghiệm thực hành.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, ch tham khảo hóa học trường
THPT, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thí nghiệm.
- Truy cập tài liệu và các thông tin liên quan đến đề tài trên internet.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dự giờ đồng nghiệp trong tổ, ngoài tổ, đồng nghiệp trường bạn đ tìm hiểu về
thực trạng dạy và học thực hành ở trường phổ thông hiện nay.
- Tìm hiểu học sinh về năng tiếp cận CNTT và internet. Hướng dẫn học sinh
cách tìm kiếm thí nghiệm và cách tra cứu kiến thức thực hành trên internet.
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi đề tài khi áp dụng vào
thực tiễn.
- Phương pháp khảo sát, thống kê, xác suất.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Phần 1. sở lí luận và thực tiễn
1. sở lí luận
1.1.Cơ sở đổi mới phương pháp dạy học
Bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO xác định là “học để biết, học
để làm, học đ tồn tại và học để chung sống” ý nghĩa rất quan trọng trong s
5