
1
A. ĐT VN Đ
I. LÍ DO CHỌN Đ TÀI
1. Vào những thập niên cuối của thế kỉ 20 các nhà giáo dục tiến bộ trên thế giới họp bàn
và đi đến thống nhất quan điểm thế kỉ 21 là thế kỉ học tập suốt đời. Để làm được điều
đó họ đã xây dựng nên 4 trụ cột: Học để biết; Học để làm; Học để làm người và Học
để chung sống. Nắm được xu hướng thế giới như vậy để theo kịp tinh thần đó Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước nhà.
Đổi mới chứ không phải là thay đổi nghĩa là luôn có tính kế thừa, một trong những quan
điểm đó chính là học để làm, học đi đôi với hành, quan điểm giáo dục học sinh sẽ vận
dụng kiến thức kĩ năng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Để học tập suốt đời thì
học sinh phải học được phương pháp tiếp cận do đó chúng ta đã thay đổi phương pháp
dạy học. Trong kế hoạch dạy học hiện nay chúng ta đã xây dựng trên quan điểm 04 hoạt
động trong 01 tiết học: thứ nhất là khởi động tạo tâm thế tiếp nhận, thứ hai hình thành
kiến thức, thứ ba là luyện tập và thứ tư là vận dụng. Từ các hoạt động đó chúng tôi
nhận thấy để tạo sự ghi nhớ cách làm thì khâu luyện tập đóng vai trò quan trọng, then
chốt của vấn đề. Nắm được tầm quan trọng đó chúng ta cần xây dựng một hệ thống
cách thức thực hiện đa dạng để tránh tình trạng nhàm chán máy móc ở một phương
pháp dạy học.
2. Chương trình giáo dục phổ thông mới chuyển đổi mục tiêu dạy học từ chỗ dạy cho
học sinh biết cái gì sang mục tiêu học sinh làm được gì sau khi đã học. Điều này có
thể xem là một bước đột phá của việc đổi mới trong ngành giáo dục. Nếu như trước
đây, quá trình dạy học, giáo viên chủ yếu tập trung trang bị cho học sinh của mình
những kiến thức thông qua các bài học. Chủ yếu đó là những kiến thức lí thuyết, nghĩa
là mới dừng lại ở chỗ học sinh biết cái gì. Có thể nói điều đó là không sai bởi kiến thức
luôn đóng vai trò trọng tâm trong học tập nhưng khi xã hội phát triển thì giáo dục cần
có sự chuyển hướng biến tri thức đó gắn liền thực tiễn cuộc sống. Học không chỉ để
biết mà còn để làm và làm người, học không phải cho một cá nhân mà là để chung sống.

2
3. Để thực hiện tốt một giờ dạy học, giáo viên luôn xác định rõ mục tiêu bài học về kiến
thưc, kĩ năng, thái độ cũng như năng lực cần hướng tới...Đồng thời xây dựng bài học
qua hệ thống các hoạt động một cách cụ thể đầy đủ như: hoạt động khởi động, hoạt
động hình thành kiến thức mới, hoạt động luyên tập, hoạt động vận dụng. Qua thực tiễn
dạy học chúng tôi nhận thấy, trong bốn hoạt động đó, khi dạy học trên lớp, giáo viên
thường dành phần nhiều thời gian cho hoạt động hình thành kiến thức mới, có thể xem
đây là hoạt động trọng tâm, cần thiết, còn thời gian dành cho các hoạt động khác tương
đối ít, đặc biệt là hoạt động luyện tập. Đây là một thực trạng trong dạy học Ngữ Văn
nói chung và trong tiết dạy về thơ ca cách mạng 1930-1945 nói riêng. Vậy nên, hoạt
động luyện tập nên tổ chức thực hiện như thế nào, cần lượng thời gian bao nhiêu, học
sinh cần chuẩn bị những gì, hoạt động ra sao để tiết học mang lại hiệu quả cao trong
việc đạt mục tiêu học sinh làm được gì sau khi học có rất nhiều vấn đề cần trăn trở,
bàn bạc...
Trên cơ sở đó, xây dựng đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu bàn về việc tổ chức hoạt động
luyện tập như thế nào trong giờ dạy học thơ ca cách mạng 1930-1945 để nâng cao chất
lượng giờ học nhằm phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực cho học sinh Mặt
khác thông qua đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ mang đến cho đồng nghiệp những
phương pháp dạy học tích cực, phù hợp khi dạy thơ ca cách mạng 1930-1945, đặc biệt
là văn bản Từ ấy của Tố Hữu và Chiều tối của Hồ Chí Minh. Đồng thời thông qua diễn
đàn này để có cơ hội trao đổi với đồng nghiệp từ đó rút ra cho bản thân những kinh
nghiệm dạy học bổ ích nhằm mang lại hiệu quả cao cho mỗi giờ dạy.
Trên đây là nhưng lí do để tôi lựa chon đề tài Đa dạng hóa hoạt động luyện
tập trong dạy học thơ ca cách mạng Việt Nam 1930-1945 (Ngữ văn 11 tập 2) nhằm
bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho học sinh.
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cu

3
Hoạt động Luyện tập trong dạy học Ngữ Văn nhằm phát triển phẩm chất, năng
lực cho học sinh. Thực nghiệm qua 02 văn bản Từ ấy của Tố Hữu và Chiều Tối của
Hồ Chí Minh
2. Mc đch nghiên cu
- Đối với học sinh: Biết xác định nhiệm vụ học tập, nhận nhiệm vụ để tiếp cận
tri thức và củng cố, phát triển phẩm chất, năng lực của mình.
- Đối với giáo viên: Thiết kế nội dung hoạt động Luyện tập trong Kế hoạch bài
dạy nhằm đáp ứng yêu cầu mới.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi s dụng các phương pháp sau đây:
1. Phương pháp khảo sát so sánh
2. Phương pháp thực nghiệm
3. Phương pháp phân tích, bình luận
IV. CU TRÚC Đ TÀI
Đ ti đưc thc hin theo cu trc gm c ba phn:
+ Phn đt vn đ: Thực hiện những nội dung m đu cho đề tài nghiên cu.
+ Phn ni dung : Trin khai cơ s l luận và thực tin ca đề tài
+ Phn kt lun: Thực hiện tm tt những nội dung đ làm và những đề xuất
đối vi giáo viên và học sinh.
B. NI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ S L LUN

4
I. PHẨM CHT VÀ NĂNG LỰC
1. Khái niệm phẩm chất
Phẩm chất được xem là những chuẩn mực hành vi làm nên giá trị của con người.
Hay nói cụ thể hơn phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng x, những tình cảm
cao quý, ý thức chấp hành thực hiện tốt các chuẩn mực của xã hội, của pháp luật được
hình thành trong một quá trình rèn luyện, giáo dục lâu dài ở mỗi cá nhân.
2. Khái niệm năng lực
Năng lực được xem là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức (tri thức) kĩ
năng, phẩm chất vào việc giải quyết các vấn đề diễn ra trong cuộc sống nhằm hướng
đến sự thành công ở một lĩnh vực cụ thể nào đó.
Năng lực biểu hiện cụ thể và đa dạng. Mỗi người thường có những năng lực - thế
mạnh riêng. Chính vì vậy phát huy được thế mạnh là một trong những yếu tố góp phần
tạo nên những giá trị cho cuộc sống của mỗi người
Năng lực được phân làm hai nhóm, năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng
lực chung là năng lực cơ bản, cần thiết mà bất cứ người nào cũng có để sống, học tập,
làm việc. Đó là những năng lực mà chúng ta cần vận dụng thường xuyên liên tục diễn
ra hàng ngày trong cuộc sống. Còn năng lực riêng hay có thể gọi là năng lực đặc thù
thường biểu hiện trên từng lĩnh vực khác nhau, năng lực này có khả năng hình thành
nên sở trường, thế mạnh ở mỗi người.
3. Phương pháp dạy học nhằm bồi dưõng phẩm chất, năng lực cho học sinh
Việc hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong quá trình dạy học. Đó là một hành trình dài mà các em phải nỗ lực không ngừng
để rèn luyện bản thân. Tuy nhiên để đạt được kết quả, một trong những yêu tố không
thể thiếu đó chính là người dạy học phải luôn sáng tạo, vận dụng phương pháp dạy học
tích cực, lập kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh từ đó phát huy tối đa
những năng lực, phẩm chất của các em.
Quan điểm giáo dục đổi mới luôn xác định phẩm chất và năng lực là hai thành tố
chủ yếu, quan trọng cấu thành nhân cách con người. Bởi vì sự hình thành và phát triển

5
nhân cách của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, môi trường
sống, giáo dục và hoạt động của cá nhân đó. Trong chương trình giáo dục phổ thông
mới 2018 đã định hướng phát triển năm phẩm chất chủ yếu và mười năng lực cốt lõi.
Chính vì vậy ở mỗi trường học, cán bộ, giáo viên đã có những chuyển động trong việc
đổi mới công tác quản lí cũng như đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện một
cách chủ động và sáng tạo qua từng môn học thể hiện rõ trong các hoạt động, hình thức
giáo dục nhằm phát triển hài hòa, đầy đủ những phẩm chất, năng lực cho học sinh.
Những phẩm chất, năng lực cần hướng tới đó là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ,
trung thực, trách nhiệm. Mười năng lực hướng tới bao gồm ba năng lực chung, năng
lực tự chủ tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
và bảy năng lực chuyên môn, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ,
năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực tin học, năng lực tính toán và năng lực
ngôn ngữ.
Phương pháp dạy học nhằm bồi dưõng phẩm chất, năng lực cho học sinh
Về nhận thức, mỗi cán bộ, giáo viên cần nhân thức sâu sắc đổi mới giáo dục là chủ
trương hết sức đúng đắn, phù hợp với nền giáo dục nước ta hiện nay và phù hợp với xu
thế phát triển của giáo dục trong khu vực và trên thế giới. Với tính chất đặc biệt quan
trọng như thế, có thể xem việc đổi mới giáo dục là tất yếu để đưa ngành giáo dục nước
ta có một bước tiến mới, góp phần vào việc đào tạo ra một nguồn nhân lực, những con
người vừa hồng vừa chuyên có thể đảm đương được những nhiệm vụ của thời đại mới.
Dạy học nhằm tập trung phát triển phẩm chất, năng lực là yêu cầu tiên quyết trong việc
phát triển hoàn thiện nhân cách cho người học. Như chúng ta đã biết nhân cách là chủ
thể thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và năng lực chính vì vậy việc rèn luyện đạo đức,
chuẩn hóa những hành vi ứng x cũng như bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng sống
tích cực sẽ là yếu tố hàng đầu mà người dạy học cần duy trì ngọn la thổi vào tâm hồn
cũng như nhận thức của học sinh. Khơi dậy ở các em những phẩm chất đáng quý,
những năng lực cần thiết giúp các em chủ động trong việc x lí các tình huống diễn ra
trong cuộc sống.

