
S
SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT NGHI LỘC 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI
VÀO DẠY HỌC THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 (2018)
Thuộc bộ môn: Ngữ văn
Tác giả: Th.s ĐẶNG QUỐC CHI
Th.s NGUYỄN THỊ LƯU
Tổ: Ngữ văn
Tháng 12/2023
Số điện thoại liên hệ: 0986790655 – 0977911233

MỤC LỤC
Nội dung
Trang
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Phạm vi nghiên cứu
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
6. Phương pháp nghiên cứu
2
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3
1. Cơ sở lí luận
3
1.1. Một số giới thuyết về phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ
văn
3
1.1.1. Quan niệm về phương pháp trò chơi
3
1.1.2. Vị trí, vai trò của phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn
nhằm phát triển năng lực học sinh
3
1.2. Đặc điểm, nội dung dạy học Thực hành Tiếng Việt trong chương
trình Ngữ văn lớp 11 và ưu thế của phương pháp trò chơi trong dạy
học Thực hành Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực học sinh
4
1.2.1. Đặc điểm, nội dung dạy học Thực hành Tiếng Việt trong
chương trình Ngữ văn lớp 11
4
1.2.2. Ưu thế của phương pháp trò chơi trong dạy học Thực hành
Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực học sinh
8
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
8

2.1. Thực trạng dạy Thực hành Tiếng Việt của giáo viên ở các nhà
trường phổ thông hiện nay
8
2.2. Thực trạng học Thực hành Tiếng Việt của học sinh trong nhà
trường Trung học Phổ thông
10
II. NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TRÒ CHƠI VÀO DẠY HỌC THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 (2018)
12
1. Nguyên tắc vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Thực hành
Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 11 (2018)
12
1.1. Bám sát mục tiêu, yêu cầu cần đạt và đặc trưng của bài học
12
1.2. Phù hợp với đặc trưng môn Ngữ văn
12
1.3. Đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với điều kiện thực tiễn
12
2. Quy trình vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Thực hành
Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 11 (2018)
13
3. Đề xuất một số trò chơi có thể vận dụng vào dạy học Thực hành
Tiếng Việt cho học sinh lớp 11
14
3.1. Nhóm trò chơi khởi động
14
3.2. Nhóm trò chơi hình thành kiến thức
20
3.3. Nhóm trò chơi luyện tập, vận dụng
27
III. THỰC NGHIỆM
31
IV. KHẢO SÁT
42
1. Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của việc vận dụng phương
pháp trò chơi vào dạy học Thực hành Tiếng Việt trong chương trình
Ngữ văn lớp 11 (2018)
42
1.1. Mục đích khảo sát
42
1.2. Nội dung, phương pháp khảo sát
42

1.3. Đối tượng khảo sát
43
1.4. Kết quả khảo sát
43
1.4.1. Sự cấp thiết
43
1.4.2. Tính khả thi
43
2. Khảo sát tính hiệu quả của đề tài
44
2.1. Mục đích khảo sát
44
2.2. Nội dung, phương pháp khảo sát
44
2.3. Đối tượng khảo sát
45
PHẦN 3: KẾT LUẬN
48
1. Kết luận
48
2. Đóng góp của đề tài
48
2.1. Tính mới
48
2.2. Tính khoa học
48
2.3. Tính hiệu quả
48
3. Khả năng ứng dụng và phát triển đề tài
49
4. Khuyến nghị
49
4.1. Với các cấp quản lí giáo dục
49
4.2. Với giáo viên
49
4.3. Với học sinh
50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Chương trình Ngữ văn 2018 đã đặt ra mục tiêu cụ thể về phát triển phẩm
chất, năng lực học sinh phù hợp với đặc trưng bộ môn đó là: Hình thành và phát
triển cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung
thực, trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính.
Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ và tự
học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đặc
biệt, Chương trình Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng
lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe; phát triển tư duy hình
tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn
hóa: có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, biết tạo
lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng,
các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống.
Chương trình cũng lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói,
nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học. Lần đầu tiên việc xây dựng chương
trình môn học này đã được thống nhất cùng một hệ thống là kĩ năng giao tiếp. Các
kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về văn học, tiếng Việt được tích hợp vào hoạt
động dạy đọc, viết, nói và nghe. Quan điểm này vừa bảo đảm tính chất thống nhất
trong toàn chương trình vừa giúp cho việc tích hợp tốt hơn, thể hiện rõ đặc điểm
của chương trình phát triển năng lực.
Là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ, thông qua văn bản ngôn từ
và hình tượng nghệ thuật, qua các hoạt động ngôn ngữ môn Ngữ văn giúp học sinh
sử dụng phương tiện tiếng Việt giao tiếp thành thạo và hiệu quả. Học tốt phần tiếng
Việt là cơ sở để học tốt các môn học và các hoạt động giáo dục khác, từ đó góp
phần hình thành, phát triển phẩm chất tốt đẹp với ba năng lực cốt lõi: tự chủ - tự
học; Giao tiếp – hợp tác; Giải quyết vấn đề - sáng tạo để sống và làm việc hiệu
quả.
Wiliam Arthur Ward, một nhà giáo dục lỗi lạc nước Mĩ đã từng nói “Chỉ nói
thôi là thầy giáo xoàng. Giảng giải là thầy giáo tốt. Minh hoạ biểu diễn là thầy
giáo giỏi. Gây hứng thú trong học tập là thầy giáo vĩ đại” điều đó cho thấy việc
gây hứng thú đối với học sinh trong giờ học là vô cùng quan trọng. Tổ chức trò
chơi và vận dụng trò chơi vào học tập là một trong những phương pháp dạy học
tích cực nhằm giúp học sinh hình thành, củng cố tri thức và phát triển kỹ năng,
đồng thời tạo không khí, thoải mái, vui vẻ trong học tập với phương châm học mà
chơi, chơi mà học. Thông qua việc tổ chức trò chơi, giáo viên có thể lồng ghép rèn
luyện năng lực hợp tác, giao tiếp, năng lực tư duy phản biện cho học sinh. Với thực
trạng học sinh chán học môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng
như hiện nay thì việc vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học tạo không khí,
tâm lí thoải mái, gây hứng thú cho học sinh là một điều rất cần thiết. Tuy nhiên,
việc vận dụng phương pháp này còn mang tính tự phát và chưa phổ biến, đa số

