intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

SKKN: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài tập về dòng điện một chiều

Chia sẻ: Lê Thị Trà Giang | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:16

0
30
lượt xem
7
download

SKKN: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài tập về dòng điện một chiều

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài giải quyết những trăn trở, vướng mắc của giáo viên trong việc đổi mới nội dung và xây dựng các bước tiến hành hướng dẫn học sinh giải bài tập sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực cũng như phát triển tư duy, khả năng sáng tạo của học sinh thông qua quá trình giải bài tập. Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi mong muốn vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy trong thời gian qua để tìm ra thật nhiều các phương pháp giải mới, giúp bản thân đổi mới được phương pháp dạy học cũ và giúp học sinh của mình càng ngày càng yêu thích bộ môn Vật lý.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài tập về dòng điện một chiều

  1. I.  Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Trong chương trình Vật lý lớp 9, đặc biệt chương Điện học thì bài tập về dòng  điện một chiều rất đa dạng và phong phú.  Loại bài tập này được chia thành nhiều  dạng như: bài tập về đoạn mạch song song, bài tập về đoạn mach nối tiếp, bài tập về  đoạn mạch hỗn hợp,… Mục đích của giải bài tập về dòng điện một chiều là giúp cho các em nhận ra  được một số dạng cơ bản của loại bài tập này, hệ  thống hóa được các kiến thức đã  học, nắm vững các kiến thức sau từng bài, từng chương, đồng thời thông qua đó giáo  viên có điều kiện củng cố, phát triển cũng như mở rộng kiến thức cho học sinh. Từ đó   phát triển năng lực tư  duy và nâng cao nhận thức, tạo hứng thú học tập bộ  môn cho   các em học sinh. Tuy nhiên, bài tập về  dòng điện một chiều  đối với học sinh thường rất khó,  đặc biệt là đối với những bài tập hỗn hợp. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học  sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng khi giải bài tập như:   không tìm được  hướng giải quyết vấn đề, không vận dụng được lý thuyết vào việc giải bài tập, không  tổng hợp được kiến thức thuộc nhiều phần của chương trình đã học để  giải quyết  một vấn đề  chung,... hay khi giải các bài tập thì thường áp dụng một cách máy móc   các công thức mà không hiểu rõ ý nghĩa vật lý của chúng.  Hiện nay, với việc tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh bằng phương pháp trắc   nghiệm khách quan, các kỹ năng giải bài tập càng đòi hỏi sự nhanh chóng và chính xác.  Do đó, việc hệ thống, phân loại và đưa ra các bước giải bài tập lại càng thể hiện tính  quan trọng của nó. Việc nghiên cứu nhằm tìm ra hướng giải bài tập về dòng điện một   chiều một cách dễ hiểu, cơ bản, từ thấp đến cao, giúp học sinh có kỹ năng giải quyết  tốt các bài tập, hiểu được ý nghĩa vật lý của từng bài đã giải, rèn luyện thói quen làm  việc độc lập, sáng tạo, phát triển khả năng tư duy,... giúp các em học tập môn Vật lý   tốt hơn. Xuất   phát   từ   quan   điểm   trên   nên   tôi   đã   chọn   đề   tài   nghiên   cứu   là:  “Kinh   nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài tập về dòng điện một chiều”. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài  2.1. Mục tiêu của đề tài Đề tài giải quyết những trăn trở, vướng mắc của giáo viên trong việc đổi mới  nội dung và xây dựng các bước tiến hành hướng dẫn học sinh giải bài tập sao cho phù  hợp với từng đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực cũng như  phát triển tư  duy, khả  năng sáng tạo của học sinh thông qua quá trình giải bài tập. Trong quá trình   thực hiện đề  tài, bản thân tôi mong muốn vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm   giảng dạy trong thời gian qua để tìm ra thật nhiều các phương pháp giải mới, giúp bản  thân đổi mới được phương pháp dạy học cũ và giúp học sinh của mình càng ngày càng   yêu thích bộ môn Vật lý. 2.2. Nhiệm vụ của đề tài  Để đạt được mục tiêu nói trên, công việc mà bản thân tôi cần phải làm trước 
  2. tiên là phải nắm được trình độ  của mỗi học sinh để  từ  đó xây dựng các bước hướng   dẫn  giải bài tập về dòng điện một chiều sao cho phù hợp với các đối tượng học sinh   từ  trung bình đến khá giỏi. Tham khảo ý kiến của một số  giáo viên trực tiếp giảng   dạy Vật lý trong trường và một số trường khác trong Huyện. 3. Đối tượng nghiên cứu Các bài tập về dòng điện một chiều thuộc chương trình Vật lý lớp 9. 4. Giới hạn của đề tài Đề  tài chỉ  nghiên cứu về  việc hướng dẫn học sinh giải bài tập về  dòng điện   một chiều thuộc chương trình Vật lý lớp 9, không đi sâu vào các dạng khác.  Thời gian nghiên cứu: lớp 9A1 năm học 2016 ­ 2017.  5. Phương pháp nghiên cứu  Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn, sưu tầm các dạng bài  tập về dòng điện một chiều. II. Phần nội dung  1. Cơ sở lí luận Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới giáo dục   ở  các môn học, các cấp học. Nghị quyết Hội nghị Trung  ương 8 khóa XI về  đổi mới  căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ  phương   pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ  động, sáng tạo và  vận dụng kiến thức, kỹ  năng của người học; khắc phục lối truyền thụ  áp đặt một   chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo   cơ  sở  để  người học tự  cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ  năng, phát triển năng lực,  chuyển từ  học chủ  yếu trên lớp sang tổ  chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các   hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học ”. Do đó, tiến hành các bước giải bài tập về dòng điện một chiều trong một tiết  học có vai trò hết sức quan trọng. Qua việc hướng dẫn học sinh giải bài tập chúng ta   cần cho học sinh phân biệt được các loại mạch điện, cách mắc mạch điện và cách   giải cần thiết của mỗi dạng bài trong bài tập về  dòng điện một chiều. Giúp cho học  sinh tìm ra hướng giải quyết bài tập phần này. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Qua quá trình giảng dạy, quá trình dự giờ và việc trao đổi kinh nghiệm với các  đồng nghiệp tôi nhận thấy rằng:  ­ Hiệu quả trong các tiết giải bài tập về dòng điện một chiều chưa cao, do khi   làm các em còn mơ  hồ  trong việc định ra hướng giải, và hầu như  các em chưa biết  cách giải cũng như cách trình bày lời giải sao cho logic, khoa học.  ­ Học sinh đọc đề  không kĩ, phân tích yêu cầu của đề  chưa chính xác nên dẫn  đến việc giải bài tập bị sai. ­ Học sinh khi vẽ sơ đồ  mạch điện còn gặp lúng túng, còn vẽ  sai hoặc không  vẽ được do không nhớ được kí hiệu của các đại lượng cũng như không hiểu được yêu   cầu của đề.
  3. ­ Do phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu nên các tiết dạy chất lượng   chưa cao, dẫn đến học sinh tiếp thu công thức và định luật hời hợt. ­ Một số học sinh chưa thuộc các công thức, định luật cũng như các kí hiệu của   các đại lượng có trong công thức. Một số  khác lại sử  dụng nhầm lẫn các công thức  với nhau, đặc biệt là giữa công thức của đoạn mạch nối tiếp và đoạn mạch song song. ­ Khả  năng vận dụng công thức toán học cũng như  khả  năng biến đổi công  thức vào việc giải bài tập Vật Lí của học sinh còn yếu. Bên cạnh đó một số  em khả  năng tiếp thu kiến thức chậm, việc tự học, tự rút kinh nghiệm hầu như không có, nên  các em hầu hết là “nhanh” quên kiến thức. ­ Độ  bền kiến thức của học sinh còn thấp; khả năng tổng hợp vận dụng kiến   thức sau từng bài, từng chương để giải các dạng bài tập về dòng điện một chiều quá  hạn chế; học sinh còn máy móc, thụ động trong cách giải nên khi mở rộng thì các em   không giải được.... 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp Thứ  nhất: Thông qua việc giải bài tập giúp cho học sinh củng cố, ôn tập lại  những kiến thức đã học một cách thường xuyên, giúp các em tự kiểm tra mức độ nắm  kiến thức của bản thân, khắc phục được những lỗi sai trong quá trình giải bài tập.  Đồng thời tạo cơ hội cho các em cơ hội phát triển tư duy, sáng tạo ở mức độ cao. Thứ hai: Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng lý thuyết vào thực  tiễn; rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát hóa các dạng bài tập. Phát huy  tính tự giác, độc lập của học sinh trong việc giải bài tập. Thứ ba: Giúp học sinh nhận biết được các dạng bài tập, biết cách phân tích đề  và giải được các bài tập về dòng điện một chiều. Thứ  tư: Giúp tất cả học sinh trong lớp, đặc biệt là những học sinh yếu có thể  lĩnh hội kiến thức và giải được các bài tập. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp b.1. Chuẩn bị  Giáo viên phải tính được toàn bộ kế hoạch cho việc sử dụng bài tập trong một   tiết học, cụ thể như sau: ­ Lựa chọn bài tập nêu vấn đề sử dụng trong tiết bài tập nghiên cứu kiến thức  mới nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy của học sinh. ­ Lựa chọn bài tập củng cố kiến thức lý thuyết, cung cấp thêm hiểu biết trong   thực tế đời sống có liên quan.  ­ Lựa chọn, biến đổi hệ thống bài tập trong sách giáo khoa thành các dạng cơ  bản nhất, để học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học giải quyết một cách tích  cực, khắc sâu kiến thức cơ bản. Từ đó tạo cho học sinh cảm giác tự  tin, dẫn đến có   hứng thú hơn trong việc học bộ môn. ­ Lựa chọn bài tập để kiểm tra đánh giá chất lượng và kỹ năng giải bài tập của  học sinh.
  4. b.2. Hướng dẫn giải bài tập về dòng điện một chiều Khi hướng dẫn giải một bài tập vật lí cần thực hiện theo trình tự sau đây:   Bước 1: Tìm hiểu đề bài ­ Yêu cầu học sinh cần đọc kỹ đề bài (có thể đọc nhiều lần để nắm được yêu  cầu của đề), xác định ý nghĩa vật lý của các thuật ngữ, phân biệt những dữ  kiện đã   cho và những ẩn số cần tìm.  ­ Tóm tắt đề  bài  bằng cách dùng các ký hiệu chữ  đã qui  ước để  viết các dữ  kiện và ẩn số, đổi đơn vị các dữ kiện cho thống nhất (nếu cần thiết). ­ Vẽ sơ đồ  mạch điện nếu bài tập có liên quan đến mạch điện hoặc nếu cần   phải vẽ mạch điện để diễn đạt đề bài. Trên hình vẽ cần ghi rõ dữ kiện và cái cần tìm   (học sinh cần nắm vững được các kí hiệu sơ đồ của các đại lượng trong mạch điện). Bước 2: Phân tích nội dung bài tập, lập kế hoạch giải. ­ Tìm xem các dữ  kiện đã cho có liên quan đến những khái niệm, hiện tượng,   quy tắc, định luật vật lý nào.  ­ Nếu chưa tìm được trực tiếp các mối liên hệ   ấy thì cần phải  hình dung các  hiện tượng diễn ra như thế nào và bị  chi phối bởi những định luật nào nhằm hiểu rõ  dược bản chất của hiện tượng để có cơ sở áp dụng các công thức chính xác, tránh mò   mẫm và áp dụng các công thức một cách máy móc. ­ Phải xây dựng được một dự kiến về kế hoạch giải. Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải Đây là bước quan trọng của quá trình giải bài tập. Cần phải vận dụng những  định luật, quy tắc, công thức vật lý để  thiết lập mối quan hệ nêu trên. Có thể  đi theo   hai hướng sau để đưa đến kết quả cuối cùng: ­ Xuất phát từ   ẩn số, đi tìm mối quan hệ  giữa một  ẩn số  với một đại lượng   nào đó bằng một định luật, một công thức có chứa ẩn số, tiếp tục phát triển lập luận  hay biến đổi công thức đó theo các dữ kiện đã cho để dẫn đến công thức cuối cùng chỉ  chứa mối quan hệ giữa ẩn số với các dữ kiện đã cho (phương pháp phân tích). ­ Xuất phát từ những dữ kiện của đề bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi các  công thức diễn đạt mối quan hệ  giữa điều kiện đã cho với các đại lượng khác để  đi   đến công thức cuối cùng chỉ  chứa  ẩn số  và các dữ  kiện đã cho (phương pháp tổng   hợp). Khi tính toán bằng số, phải chú ý đảm bảo những trị  số  của kết quả  đều có ý   nghĩa. Bước 4: Kiểm tra đánh giá kết quả ­ Kiểm tra lại trị  số  kết quả   cuối cùng để  loại bỏ  những kết quả  không phù  hợp với điều kiện của đề bài và không phù hợp với thực tế.  ­ Kiểm tra xem đã giải quyết hết các yêu cầu của bài toán chưa. ­ Kiểm tra kết quả  tính toán, đơn vị  hoặc có thể  giải lại bài toán bằng cách  khác xem có cùng kết quả không.  b.3. Phân loại bài tập
  5. Bài tập về  dòng điện một chiều trong vật lý lớp 9 rất đa dạng,  ở  đây tôi chỉ  đưa ra một vài dạng bài tập mà các em thường hay gặp trong khi làm bài tập để  giúp  các em nắm bắt, phân dạng được bài tập, rèn luyện kỹ năng giải bài. Dạng 1: Bài tập vận dụng định luật ôm cho đoạn mạch đơn giản, cho  đoạn mạch nối tiếp, đoạn mạch song song và đoạn mạch hỗn hợp. Những bài   toán dạng này chỉ liên quan đến 3 đại lượng là: I, U và R. ­ Đối với đoạn mạch đơn giản (bài chỉ  có một điện trở): để  giải bài tập này   học sinh chỉ  cần nắm được định luật ôm cũng như  cách biến đổi công thức từ  định   luật ôm để giải bài toán. Ba kiểu bài tập thường gặp ở đoạn mạch đơn giản là: + Loại 1: Bài tập đã cho U, R. Yêu cầu tìm I. Hướng dẫn giải:  ­ Áp dụng công thức định luật ôm để tìm I: I =  + Loại 2: Bài tập đã cho I, R. Yêu cầu tìm U. Hướng dẫn giải:  ­ Dựa vào công thức định luật ôm để biến đổi công thức tìm U: I = =>  U = I.R + Loại 3: Bài tập đã cho I, U. Yêu cầu tìm R. Hướng dẫn giải:  ­ Dựa vào công thức định luật ôm để biến đổi tìm R: I = =>  R =  => Lỗi học sinh thường bị sai:  + Biến đổi công thức chưa đúng, dẫn đến công thức cần tìm bị sai. Ví dụ: bài tập loại 2, thay vì  biến đổi U = I.R thì biến đổi U = hoặc U = . Với bài tập loại 3, thay vì  biến đổi R = thì lại biến đổi R = U.I  hoặc R = . + Học sinh không nắm được công thức định luật ôm nên việc không giải được 3 loại   bài tập trên cũng còn xảy ra.  => Giáo viên cần: Yêu cầu học sinh cần nắm vững công thức của định luật ôm   cũng như cách biến đổi công thức trước khi bắt đầu giải bài tập dạng này để tránh sai  sót trong quá trình làm bài tập. ­  Đối với đoạn mạch nối tiếp: hướng dẫn cho học sinh cách xác định đoạn   mạch nối tiếp, cách sử dụng các công thức của định luật ôm cũng như  các công thức   về I, U và Rtđ   trong  đoạn mạch nối tiếp để giải bài toán.  Ví dụ 1:  Cho đoạn mạch gồm ba điện trở được mắc nối tiếp với nhau. Trong đó R1 = 5,  R2 =10 và R3 = 15. Hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch U = 12V. a. Tính điện trở tương đương của đoạn mạch. b. Tính cường độ dòng điện qua mạch chính và qua các mạch nhánh. c. Tính hiệu điện thế ở hai đầu mỗi điện trở.
  6. Hướng dẫn giải: a.   ­ R1, R2, R3 được mắc với nhau như thế nào? ­ Sử dụng công thức nào để tính Rtđ đối với đoạn mạch nối tiếp? ­ Trong công thức tính điện trở tương đương của đoạn mạch đã cho đầy đủ  dữ  kiện   chưa?  b.  ­ Sử dụng công thức nào để tìm I? ­ I có mối quan hệ như thế nào với I1, I2 , I3? c.  ­ Muốn tìm U1, U2, U3 ta cần biết dữ kiện nào? ­ Sử dụng công thức nào để tìm U1, U2, U3? ­ Đối với đoạn mạch song song: hướng dẫn cho học sinh cách xác định đoạn   mạch song song, sử  dụng thành thạo công thức của định luật ôm cũng như  các công   thức  về I, U và Rtđ   trong  đoạn mạch song song để giải bài toán.  Ví dụ 2:  Cho đoạn mạch gồm ba điện trở được mắc song song với nhau. Trong đó: R1 = 5,  R2 =10 và R3 = 15. Hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch U = 12V. a. Tính điện trở tương đương của đoạn mạch. b. Tính hiệu điện thế ở hai đầu mỗi điện trở. c. Tính cường độ dòng điện qua mạch chính và qua các mạch nhánh. Hướng dẫn giải: a.   ­ R1, R2, R3 được mắc với nhau như thế nào? ­ Sử dụng công thức nào để tính Rtđ đối với đoạn mạch song song? ­ Trong công thức tính điện trở tương đương của đoạn mạch đã cho đầy đủ  dữ  kiện   chưa? b.  ­ U có mối quan hệ như thế nào với U1, U2, U3? c.  ­ Muốn tìm I ta áp dụng công thức nào? ­ I có mối quan hệ như thế nào với I1, I2 , I3? => Lỗi học sinh thường bị sai khi giải bài tập về đoạn mạch mắc nối tiếp và   đoạn mạch mắc song song: + Còn nhầm lẫn kí hiệu của các đại lượng I, U và Rtđ.
  7. + Không phân biệt được mạch nào là đoạn mạch mắc song song và đoạn mạch nào là   đoạn mạch mắc nối tiếp nên sử dụng nhầm lẫn giữa công thức của đoạn mạch song   song và công thức của đoạn mạch nối tiếp. + Không nắm vững được các công thức của đoạn mạch nối tiếp cũng như  của đoạn  mạch song song nên áp dụng vào bài tập còn sai. => Giáo viên cần:  + Chú ý cho học sinh cách nhận biết đoạn mạch nối tiếp, đoạn mạch song song. + Yêu cầu học sinh cần nắm vững các công thức của đoạn mạch nối tiếp, đoạn mạch  song song và cần phải kiểm tra lại kết quả sau khi giải bài tập. ­ Đối với đoạn mạch hỗn hợp: Cần xác định được đoạn mạch nào mắc nối   tiếp và đoạn mạch nào mắc song song. Đoạn mạch mắc nối tiếp đó được mắc như   thế nào với đoạn mạch mắc song song? Đưa ra những hệ thức liên hệ  thông qua các   công thức của  I,U, Rtđ  của đoạn mạch song song và đoạn mạch nối tiếp. Ví dụ 3:  Cho mạch điện có sơ đồ như hình vẽ, trong đó: R 1 =30Ω; R2 = 20Ω, vôn kế chỉ  36V.  a. Tính điện trở tương đương của đoạn mạch. b. Tính số chỉ của các ampe kế. Hướng dẫn giải: a.  ­ Nhìn vào hình vẽ ta thấy các điện trở được mắc với nhau như thế nào?  ­ Ta có thể áp dụng công thức nào để tính điện trở tương đương của đoạn mạch AB? ­ Trong công thức tính điện trở tương đương bài toán đã cho đầy đủ dữ kiện chưa? b. ­ Cho biết công thức tính cường độ  dòng điện qua R1. Trong công thức tính này bài  toán đã cho đầy đủ dữ kiện chưa? ­ Tìm I2 tương tự.
  8. ­ Cho biết công thức tính cường độ dòng điện mạch chính. ­ Còn cách nào để tính cường độ dòng điện mạch chính nữa không? Ví dụ 4:  Cho mạch điện như hình vẽ. trong đó: R1 = 5, R2 = 12, R3 = 8, R4 = 20  và hiệu điện thế UAB = 30V.                                                               a. Tính điện trở tương đương của đoạn mạch. b. Tìm cường độ dòng điện qua các điện trở. c. Tính các hiệu điện thế UAC và UCD. Hướng dẫn giải: a.  ­ Nhìn vào hình vẽ các điện trở R1, R2, R3 và R4 được mắc như thế nào với nhau? ­ Đây là mạch mắc hỗn hợp vừa có nối tiếp vừa có song song. Vậy để  tính điện trở  tương đượng của đoạn mạch thì ta phải tính mạch nào trước và áp dụng công thức   tính điện trở nào? b.  ­ Để  tìm I1  ta áp dụng công thức nào để  tính và trong công thức đó có đủ  dữ  kiện   chưa? ­ I2 và I3 có mối quan hệ như thế nào với I23. Áp dụng công thức nào để tìm I23? ­ Để tính I4 ta áp dụng công thức nào và trong công thức đó có đủ dữ kiện chưa? c. ­ Tính UAC , UCD chính là tính U nào, áp dụng công thức nào để tính ? => Lỗi học sinh thường sai:  + Không phân biệt được các điện trở  được mắc với nhau như  thế  nào nên dẫn đến   giải sai hoặc không giải được. + Đồng thời không nắm chắc công thức của đoạn mạch nối tiếp và của đoạn mạch   song song nên còn sử dụng nhầm công thức, thay số còn sai. => Giáo viên cần:  + Chú ý cho học sinh cách nhận biết đoạn mạch song song và đoạn mạch mắc nối   tiếp. + Lưu ý cách sử  dụng công thức khi gặp mạch điện hỗn hợp này để  tránh lỗi sai   không đáng có.
  9. Dạng 2: Bài tập về biến trở và điện trở của dây dẫn ­ Khi nói đến biến trở ta cũng hiểu nó là một điện trở có thể thay đổi được trị   số.  Nếu gặp bài toán về biến trở ta cũng coi nó là một điện trở trong mạch để giải. (phân   biệt kí hiệu của biến trở với kí hiệu của điện trở trong sơ đồ mạch điện) ­ Khi tìm chiều dài, tiết diện và chất liệu làm dây của biến trở hay điện trở ta   áp dụng công thức của điện trở  dây dẫn:  . ­ Giáo viên hướng dẫn học sinh suy ra các đại lượng khác như: l,s,   ρ Ví dụ 5:    Một bóng đèn khi sáng bình thường có điện trở là R1 = 7,5Ω và cường độ dòng  điện chạy qua đèn khi đó là 0,6A. Bóng đèn này được mắc nối tiếp với một biến trở  và chúng được mắc vào hiệu điện thế U = 2,4V. a. Phải điều chỉnh biến trở  có trị  số  điện trở  R2 là bao nhiêu để  bóng đèn sáng bình  thường. b. Biến trở này có điện trở lớn nhất là Rb = 30Ω với cuộn dây dẫn được làm bằng hợp  kim nikêlin có tiết diện S = 1mm2. Tính chiều dài l của dây dẫn làm biến trở này. Hướng dẫn giải:   a. ­ Biến trở có điện trở R2 mắc như thế nào với điện trở R1 ? ­ Để tính R2 cần sử dụng công thức nào và trong công thức đó có đủ dữ kiện chưa ? ­ Điện trở tương đương của đoạn mạch nối tiếp có công thức gì ? b. ­ Để tìm chiều dài l của dây dẫn ta áp dụng công thức nào? Trong công thức đó có đủ  dữ kiện chưa ? => Lỗi học sinh thường sai: +  Không nắm được biến trở  cũng là một điện trở  nên không phân tích được mạch   điện. + Biến đổi công thức tính R sang công thức tìm l hoặc S, ρ của dây dẫn còn bị sai. + Không nắm được kí hiệu của chiều dài, tiết diện, chất liệu của dây dẫn cũng như  đổi  đơn vị bị sai nên khi giải bài tập bị sai.  => Giáo viên cần: + Chú ý phân biệt giữa biến trở và điện trở. + Yêu cầu học sinh nắm rõ đơn vị cũng như cách đổi của các đại lượng của điện trở,  
  10. vật liệu, chiều dài và tiết diện. + Biết cách biến đổi công thức điện trở của dây dẫn sang các công thức khác sao cho   phù hợp. Dạng 3: Bài toán về công suất điện ­ Để  giải bài toán dạng này học sinh cần nắm được công thức tính công suất   điện: P =U.I = I2.R = U2/R.  ­ Công suất điện có đơn vị  là oát (1W = 1V/A ). Chú ý đổi đơn vị  cho các đại   lượng (nếu cần thiết). Ví dụ 6:  Khi mắc một bóng đèn vào hiệu điện thế 220V thì dòng điện chạy qua nó có  cường độ là 341mA. Tính điện trở và công suất của bóng đèn khi đó. Hướng dẫn giải: ­ Tính điện trở Rđ của bóng đèn sử dụng công thức nào và công thức đó có đủ dữ kiện  chưa? có cần đổi đơn vị không? ­ Tính công suất của bóng đèn sử dụng công thức nào? => Lỗi học sinh thường sai:  + Đổi đơn vị còn sai, để nguyên đơn vị  theo đề  mà không hề  chú ý đến yêu cầu của   đề nên dẫn đến giải bài toán sai. + Không nắm chắc công thức nên vận dụng công thức còn bị nhầm lẫn. => Giáo viên cần: + Yêu cầu học sinh nắm rõ đơn vị cũng như cách đổi đơn vị của các đại lượng U, I, R  và P sao cho phù hợp. + Nắm được công thức tính công suất P cũng như  cách biến đổi công thức sang các   công thức khác sao cho phù hợp. Dạng 4: Bài toán về nhiệt lượng và hiệu suất ­   Để  giải bài toán dạng này học sinh cần nắm được công thức tính nhiệt   lượng tỏa ra ở dây dẫn là: Q = I2.R.t  và hiệu suất là H =100%. ­  Khi giải cần nắm được các đại lượng có trong công thức cũng như biết cách   biến đổi các đại lượng cho đúng. Ví dụ 7:  Một bếp điện loại 220V ­ 1000W có hiệu suất của quá trình đun là 90%. Được  sử  dụng với hiệu điện thế  220V để  đun sôi 2l nước  ở  nhiệt độ  ban đầu 250C, nhiệt  dung riêng của nước là c = 4200J/Kg.K.  a. Tính nhiệt lượng nước thu vào. b. Tính thời gian đun sôi nước. Hướng dẫn giải:
  11. a. ­ Để tính Qthu  cần áp dụng công thức nào? ­ Trong công thức đó đã có đầy đủ dữ kiện cho chưa? ­ Làm thế nào để biết nhiệt độ sau của nước là 100ºC. b.  ­ Để tính t cần tìm đại lượng nào đầu tiên? ­ Cần áp dụng công thức nào để tìm ra Qtp? ­ P, Qtp có quan hệ như thế nào với t? => Lỗi học sinh thường sai:  + Đổi đơn vị còn sai.  + Còn nhầm lẫn công thức giữa Qthu và Qtp, chưa biết cách tìm Δt. + Không nắm chắc công thức nên vận dụng công thức còn bị nhầm lẫn. => Giáo viên cần:  + Yêu cầu học sinh nắm rõ đơn vị cũng như  cách đổi đơn vị  của các đại lượng m, c,   Δt, P, Qtp, Qthu, H. + Yêu cầu học sinh nắm được công thức tính công suất P, nhiệt lượng Qthu, Qtp, hiệu  suất H cũng như cách biến đổi sang các công thức khác sao cho phù hợp. Dạng 5: Bài toán tính công, tính điện năng tiêu thụ và tính tiền điện phải   trả ­ Công của dòng điện có công thức: A = P.t = U.I.t = = I2.R.t (A tính bằng Jun thì t tính bằng giây, P tính bằng oát). ­ Tính điện năng tiêu thụ  của dòng điện: Điện năng tiêu thụ  bằng đúng với   công của dòng điện, tuy nhiên khi làm bài toán này A được tính ra KWh. ­ Tính tiền điện phải trả: sau khi tìm được điện năng tiêu thụ, ta chỉ cần lấy số   điện năng tiêu thụ đó nhân với giá tiền của 1KWh. Ví dụ 8:  Cũng như câu hỏi ví dụ 6, yêu cầu tính tiền điện phải trả  trong một tháng (30  ngày). Cho rằng giá điện là 1200 đồng mỗi Kwh.  Hướng dẫn giải: ­ Sử dụng công thức nào để tính điện năng tiêu thụ?  ­ Để tính tiền điện bước đầu tiên ta cần phải làm gì? Tính tiền điện bằng cách nào? => Lỗi học sinh thường sai:  + Đổi đơn vị từ W.s sang KW.h còn sai. + Còn nhầm lẫn công thức tính điện năng với công thức tính công suất điện.
  12. + Tính ra số tiền còn sai do đổi thời gian và đơn vị chưa phù hợp. => Giáo viên cần:  + Lưu ý cho học sinh cách đổi đơn vị từ W.s sang KW.h.  + Yêu cầu học sinh nắm lại các công thức tính công, điện năng tiêu thụ, các bước đổi   đơn vị và cách tính số tiền cần phải trả trước khi làm bài tập dạng này. c. Kết quả  khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn đề  nghiên cứu, phạm vi và   hiệu quả ứng dụng Qua quá trình hướng dẫn học sinh những cách giải bài tập về  dòng điện một  chiều tôi nhận thấy rằng những cách này đã có một sức lôi cuốn, hấp dẫn đối với học  sinh, tạo nên sự hứng thú học tập ở mỗi em. Điều này giúp ích rất nhiều cho bản thân  tôi trong việc truyền đạt kiến thức của mình đến các em có hiệu quả  nhiều so với   trước. Học sinh có nhiều tiến bộ trong việc nắm hiểu bài, cải thiện được kĩ năng làm  bài và phát huy được khả năng tư duy của các em. So với đầu năm có rất nhiều em còn   sợ học bộ môn, không thích học vì cho rằng nó khó hiểu, khó giải nhưng đến nay chất  lượng học đã tăng khá đồng đều. Kết quả của học sinh lớp 9A1 năm học 2016 ­ 2017 trước khi được hướng dẫn   giải bài tập về dòng điện một chiều như sau: Xếp loại Giỏi Khá Trung bình Yếu, kém Tỉ lệ (%) 5 25 55 15 Kết quả  của học sinh lớp 9A1 năm học 2016 ­ 2017 sau khi được hướng dẫn  giải bài tập về dòng điện một chiều như sau: Xếp loại Giỏi Khá Trung bình Yếu, kém Tỉ lệ (%) 20 50 30 0 III. Phần kết luận, kiến nghị 1. Kết luận:  Sau một thời gian thực hiện, việc hướng dẫn học sinh giải bài tập về  dòng  điện một chiều ở môn Vật Lí 9 thật sự đã đem lại kết quả khả quan, học sinh đã thật   sự chiếm lĩnh được kiến thức, hứng thú học tập hơn. Việc hướng dẫn giải bài tập này có tính khả  thi cao, giúp học sinh khắc phục   được những lỗi sai thường mắc phải khi giải bài tập. Thể hiện được tính tích cực của   học sinh và tính chủ  động của học sinh. Để  việc này thực hiện thành công trong các  tiết học, thu hút được nhiều học sinh tham gia thì đòi hỏi mỗi giáo viên cần dành thời  
  13. gian cho việc lập ra kế hoạch giảng dạy và chọn bài tập có kiến thức một cách hợp   lý. Giáo viên phải dặn dò học sinh chuẩn bị bài cũ thật kĩ. Phải tập cho học sinh tính   mạnh dạn, tự tin trong học tập. Luôn luôn khích lệ động viên kịp thời, chấm điểm cho   các em học tốt. Bên cạnh đó, mỗi giáo viên cũng cần phải tự học tự bồi dưỡng và tham khảo  nhiều tài liệu, luôn học tập các bạn đồng nghiệp, để  không ngừng nâng cao chuyên   môn và nghiệp vụ cho bản thân đó là việc rất cần thiết và bổ ích.  2. Kiến nghị:  ­ Với nhà trường: tạo điều kiện cho giáo viên được đi dự giờ cũng như tham gia các  chuyên đề của các trường bạn để nâng cao kinh nghiệm chuyên môn.  ­ Với Phòng giáo dục: Tổ chức các chuyên đề, hội thảo để giáo viên có nhiều cơ hội  giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và chia sẻ những khó khăn trong chuyên môn để kịp  thời tháo gỡ những vướng mắc. Bình Hòa, ngày 20 tháng 3 năm 2017 Người viết Nguyễn Thị Diễm Nguyễn Thị Diễm Đây là một kinh nghiệm của bản thân nên tôi chắc hẳn còn nhiều thiếu sót,   mong được sự đóng góp chân tình từ các đồng nghiệp. 
  14. Nhận xét, đánh giá của hội đồng khoa học cấp trường …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………                                                    Bình Hòa, ngày …. tháng…… năm 2017                                                    CT HỘI ĐỒNG  Nhận xét, đánh giá của hội đồng khoa học cấp Huyện …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………............... …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… ……      
  15. DANH MỤC TAI LIÊU THAM KHAO ̀ ̣ ̉ 1. Vũ Quang ­ Đoàn Duy Hinh ­ Nguyễn Văn Hòa ­ Ngô Mai Thanh ­ Nguyễn Đức  Thâm, Sách giáo khoa Vật lí 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2005. 2. Vũ Quang ­ Đoàn Duy Hinh ­ Nguyễn Văn Hòa ­ Ngô Mai Thanh ­ Nguyễn Đức   Thâm, Sách giáo viên Vật lí 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2005. 3. Nguyễn Thanh Hải, 500 bài tập Vật lí 9, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, 2005. 4. Phan Hoàng Văn, 500 bài tập Vật lí THCS, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành  phố Hồ Chí Minh, 2007. 5. Nguyễn Thanh Hải ­ Lê Thị  Thu Hà, Ôn tập và kiểm tra Vật lí 9, Nhà xuất bản   Hải phòng, 2005. 6. Nguyễn Thanh Hải, Phương pháp giải Bài tập Vật lí 9, Nhà xuất bản Hải phòng,  2005. 7. Đặng Đức Trọng ­ Nguyễn Đức Tấn ­ Vũ Minh Nghĩa, Bồi dưỡng năng lực tự học   Vật lí 9, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2008. 8. Mai Lễ  ­ Nguyễn Xuân Khoái, Đổi mới phương pháp dạy và giải bài tập Vật lí  trung học cơ sở ­ 400 bài tập Vật lí 9, Nhà xuất bản giáo dục, 2007. 9. Trần Văn Dũng, Ôn tập Vật lí 9, Nhà xuất bản trẻ, 1999. 10. Sách giáo khoa vật lý lớp 9, sách bài tập vật lý lớp 9. 11. http://baigiang.violet.vn
  16. MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG I. Phần mở đầu 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 1 1 3. Đối tượng nghiên cứu 2 4. Giới hạn của đề tài 2 5. Phương pháp nghiên cứu 2 II. Phần nội dung 2 1. Cơ sở lý luận  2 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu  3 2 3. Nội dung và hình thức của giải pháp 3 a. Mục tiêu của giải pháp 3 b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp 4 c.   Kết   quả   khảo   nghiệm,   giá   trị   khoa   học   của   vấn   đề  14 nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng III. Phần kết luận, kiến nghị 15 3          1. Kết luận 15          2. Kiến nghị 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản