intTypePromotion=1

SKKN: Hướng dẫn học sinh ôn thi Trung học phổ thông Quốc gia bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Chia sẻ: Trần Thị Ta | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:71

0
49
lượt xem
7
download

SKKN: Hướng dẫn học sinh ôn thi Trung học phổ thông Quốc gia bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh ôn thi THPT quốc gia bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đã được người viết áp dụng vào công tác ôn thi THPT Quốc gia năm học 2019-2020 của nhà trường và bước đầu đã tạo được những kết qủa đáng ghi nhận như sau: học sinh có ý thức, nhiệt tình và hứng thú với môn học; phần lớn học sinh biết cách làm văn nghị luận văn học theo từng kiểu bài, không còn lối viết văn chung chung, diễn xuôi câu thơ; điểm số môn học Ngữ văn cũng được nâng lên khi các em đã có những suy nghĩ sâu sắc về bài thơ trong sự đối chiếu so sánh với những bài thơ khác cùng đề tài trong chương trình, cũng như có những cách diễn đạt mới mẻ, ấn tượng. Cụ thể 100% học sinh đạt điểm từ trung bình đến khá, giỏi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Hướng dẫn học sinh ôn thi Trung học phổ thông Quốc gia bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

  1. SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT TAM ĐẢO 2 =====***===== BÁO CÁO KẾT QUẢ  NGHIÊN CỨU  SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  Tên sáng kiến:  HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC  GIA BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG         Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Anh Đào *Mã sáng kiến: 11.65.02
  2. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu:  Nói về  ý nghĩa, vai trò to lớn của  giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước ta  luôn coi “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Trong đó giáo dục phổ  thông   luôn là nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân. Cấp trung học phổ thông là   cấp học cuối cùng trong 12 năm đèn sách của các cô cậu học trò, các em chỉ hoàn thành   nó khi vượt qua kỳ  thi bước ngoặt Trung học phổ  thông Quốc gia, để  tiếp tục học  nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia vào cuộc sống lao động, hoặc để  tiếp tục học lên   Cao đẳng ­ Đại học. Để làm được điều này, việc ôn thi Trung học phổ thông Quốc gia   là việc làm thường niên và luôn được chú trọng hàng đầu trong các trường trung học   phổ thông, trong đó có trường trung học phổ thông Tam Đảo 2. Có thể  nói, trong công tác ôn thi, Ngữ  văn là một môn học cơ  bản­ môn học  chính. Việc giúp học sinh có được kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực đáp ứng kỳ  thi Trung học phổ thông Quốc gia là điều vô cùng quan trọng. Môn học không chỉ giúp  học sinh có được tri thức mà điều quan trọng còn giúp hoàn thành nhân cách và đạo   đức cho các em.  Trong   chương   trình   ôn   thi   Trung   học   phổ   thông  Quốc   gia   môn   Ngữ   văn   ở  trường phổ  thông,  Tây Tiến  là một thi phẩm không thể  không đề  cập đến. Bài thơ  được xem như là một bông hoa đẹp giữa một rừng hoa đẹp của văn học kháng chiến   chống Pháp. Bài thơ toát lên vẻ đẹp lí tưởng, vẻ đẹp hào hùng, hào hoa… của những   chàng trai Tây Tiến, đại diện cho những anh bộ đội cụ Hồ. Nói vậy để thấy được sự  phong phú, bất tận của bài thơ. Song cũng chính vì sự phong phú, bất tận ấy mà giáo   viên cần có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết dựa vào cách ra đề thi của Bộ Giáo dục   và Đào tạo trong những năm gần đây để các em học sinh có thể dễ dàng tiếp cận bài  thơ.  Từ yêu cầu của cuộc thi Trung học phổ thông Quốc gia, từ tầm quan trọng của   bài thơ  Tây Tiến với vai trò là một giáo viên Ngữ văn, người viết thấy cần thiết phải   Hướng dẫn học sinh  ôn thi  Trung học phổ  thông  Quốc gia bài thơ  Tây Tiến của   Quang Dũng.  2. Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh ôn thi Trung học phổ  thông quốc gia bài thơ  Tây Tiến của Quang Dũng.  3. Tác giả sáng kiến: ­ Họ và tên: Nguyễn Thị Anh Đào ­ Địa chỉ tác giả sáng kiến: Hợp Châu – Tam Đảo – Vĩnh Phúc ­ Số điện thoại: 0918201489 1
  3.   E_mail: nguyenthianhdao.gvtamdao2@vinhphuc.edu.vn 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Anh Đào 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Sáng kiến được áp dụng cho giáo viên bộ môn ôn thi  trung học phổ thông quốc  gia môn Ngữ văn lớp 12. Sáng kiến đưa ra những định hướng cụ thể, chi tiết về nội   dung, cách thức ôn tập tác phẩm  Tây Tiến  của Quang Dũng thông qua các dạng đề,  đặc biêt là dạng đề vận dụng. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Sáng kiến này chính thức được áp dụng lần đầu vào ngày 10/09/2019. 7. Mô tả bản chất của sáng kiến: 7.1 Cấu trúc đề thi trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn Người viết  bám sát cấu trúc đề thi minh họa, đề thi chính thức và đề thi dự trữ  của kì thi THPT Quốc gia năm 2019 và những năm về trước để đưa ra cấu trúc đề thi  trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn như sau: Phần Đọc hiểu, luyện tập một số  câu hỏi từ  nhận biết, thông hiểu đến vận   dụng thấp như: thể thơ, nội dung chính của văn bản, đặt nhan đề cho văn bản, phong  cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt, thao tác lập luận, các hình thức thể  hiện của  văn bản...Đặc biệt, cần nhận diện được một số biện pháp tu từ quen thuộc như  so  sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê, phép điệp… và nêu tác dụng của phép tu từ đó.   Học sinh căn cứ vào nội dung văn bản để  trả  lời cho chính xác, tránh trả  lời lan man   kiểu “gợi hình, gợi cảm và mang sắc thái văn chương”. Bên cạnh đó, học sinh cần  viết được 5­7 câu rút ra một thông điệp từ văn bản có ý nghĩa nhất với bản thân hay   chọn một thông điệp theo yêu cầu đề bài. Phần Làm văn, câu nghị luận xã hội, học sinh biết cách viết đoạn văn khoảng  200 chữ về một hiện tượng đời sống hoặc tư tưởng đạo lí có liên quan đến văn bản  đọc hiểu. Cần lưu ý rằng, đoạn văn hoàn toàn khác với bài văn thu nhỏ, chỉ  cần sử  dụng 2, 3 thao tác lập luận trong bài làm là đạt yêu cầu. Câu  nghị   luận  văn  học,  học   sinh  cần  nắm   vững  nội   dung,   nghệ   thuật  của   những   tác   phẩm   trong   chương   trình   Ngữ   văn   lớp   12. Về   tác   phẩm   thơ: Tây  Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Sóng (Xuân  Quỳnh),  Đàn   ghi   ta   của   Lorca (Thanh   Thảo)…Văn   xuôi: Ai   đã   đặt   tên   cho   dòng   sông? (Hoàng Phủ  Ngọc Tường), Người lái đó Sông Đà (Nguyễn Tuân), Vợ  chồng A   Phủ (Tô Hoài), Vợ  nhặt (Kim Lân), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành),  Những đứa   con trong gia đình (Nguyễn Thi), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Hồn   Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)…Lưu ý, học sinh nắm vững phong cách  2
  4. nghệ thuật của tác giả, nét đặc sắc của tác phẩm hoặc giá trị nhân đạo của tác phẩm   (truyện ngắn). Căn cứ vào cấu trúc của đề thi trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn như  trên, người viết Hướng dẫn học sinh ôn thi trung học phổ thông quốc gia bài thơ Tây   Tiến của Quang Dũng với các dạng đề  từ  đọc hiểu văn bản đến làm văn nghị  luận  văn học. Trong làm văn nghị  luận văn học người viết lại chia ra các kiểu bài cụ  thể  như: Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ (5 dạng);  Dạng đề  so sánh; Dạng đề  nghị  luận   về  một ý kiến bàn về  văn học; và cuối cùng là bài tập luyện tập cho học sinh làm ở  nhà.  7.2 Cách làm của một số kiểu bài thường gặp I. Kiểu bài nghị luận về một tác phẩm thơ, đoạn thơ. 1. Khái niệm:      Nghị luận về một tác phẩm thơ, đoạn thơ là quá trình sử dụng tổn hợp các thao tác   lập luận để làm rõ nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ. 2. Cách làm: a. Nghị luận về một bài thơ: * MỞ BÀI: ­ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. ­ Nêu ấn tượng về bài thơ. * THÂN BÀI: ­ Phân tích bài thơ theo bố cục hoặc theo nội dung mạch cảm xúc: (phân tích kết hợp  giữa nội dung và nghệ thuật) Khi phân tích cần chú ý: + Thể loại cụ thể. + Cách lựa chọn và sử dụng từ ngư, đặt câu. + Nhịp điệu, âm điệu, thanh điệu. + Các biện pháp nghệ thuật. + Cách xây dựng hình tượng thơ. ­ Đánh giá chung về nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ + Nội dung: Bài thơ  thể  hiện vể  đẹp gì? Tâm trạng của nhân vật tữ  tình như  thế  nào?... + NT: Bài thơ sử dụng những bút pháp nghệ thuật nổi bật nào? * KẾT BÀI: Nêu giá trị của bài thơ đối với thơ ca và đời sống.  b. Nghị luận về một đoạn thơ: 3
  5. * MỞ BÀI: ­ Giới thiệu tác giả, tác phẩm. ­ Giới thiệu và trích dẫn đoạn thơ. * THÂN BÀI: ­ Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. ­ đánh giá nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. * KẾT BÀI: nêu giá trị của đoạn thơ và bài thơ II. Kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. 1. Khái niệm:     NL về một ý kiến bàn về  văn học là quá trình vận dụng tổng hợp các thao tác lập   luận để làm cho người đọc hiểu rõ hiểu sâu về ý kiến bàn về văn học ở nhiều góc độ  khác nhau. 2.Cách làm: *  MỞ BÀI: ­ Giới thiệu vấn đề có liên quan đến ý kiến. ­ Trích dẫn ý kiến * THÂN BÀI: ­ Giải thích ý kiến: Giải thích các từ ngữ, các hình ảnh để thấy được nội dung ý nghĩa   của ý kiến. ­ Chứng minh ý kiến: Ý kiến được thể hiện như thế nào trong văn học. ­ Đánh giá ý kiến: Đúng sai tác dụng của ý kiến đối với văn học và đời sóng như thế  nào? * KẾT BÀI: ­ Khái quát nội dung phân tích. ­ Ý nghĩa của ý kiến. III. Kiểu bài so sánh văn học. 1. Khái niệm:  Là quá trình vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận ( chủ yếu lá so sánh và pt) để  giúp cho người đọc hiểu đúng về  sự  giống và khác nhau của hai đối tượng văn học.  Từ đó nhìn nhận rõ hơn về đặc điểm và giá trị của mỗi đối tượng. ­ Khi thực hiện so sánh cần tách đối tượng thành ác bình diện káhc nhau đẻ khảo sát.  Lưu ý các bình diện đưa ra phải có sự tương đồng nhất định.  VD: Hình tượng với hình tượng, tư tưởng với tư tưởng, nghệ thuật với nghệ thuật. 2. Cách làm: 4
  6. * MỞ BÀI: ­ Giới thiệu về hai đối tượng văn học. ­ Giới thiệu về hai bình diện so sánh. * THÂN BÀI: ­ Phân tích từng đoạn thơ. ­ So sánh điểm giống nhau về nội dung và nghệ thuật. ­ So sánh điểm khác nhau về nội dung và nghệ thuật: Từ sự khác nhau chỉ ra đặc sắc  riêng của mỗi đối tượng. ­ Lí giải về  sự  khác nhau dựa vào giai đoạn sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, pong cách   ngệ thuật…. * KẾT BÀI: Khái quát và nêu ý nghĩa của mỗi đối tượng. 7.3 Ôn tập bài thơ Tây Tiến qua các dạng đề cụ thể  7.3.1 DẠNG ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN. Đề 1: Đọc đoạn thơ sau đây và trả hời các câu hỏi từ 1 đến 4. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thet́ Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi…”                                    (Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng) Câu 1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả? Câu 2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy chơi vơi trong đoạn thơ. Câu  3. Câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi được phối thanh như  thế  nào? Nêu  hiệu quả nghệ thuật của việc phối thanh đó. Câu 4. Cụm từ bỏ  quên đời thể  hiện vẻ đẹp bi hùng của người lính Tây Tiến. Trình   bày ý kiến của anh chị bằng một đoạn văn (khoảng 5 đến 7 dòng). 5
  7. Đáp án: Câu 1. Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ mang cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ.  Cảm xúc ấy là nỗi nhớ: Đối tượng của nỗi nhớ   là con Sông Mã,  nhớ Tây Tiến, nhớ  đồng đội, nhớ  bao gương mặt một thời chinh chiến,  nhớ  về  rừng núi. Nay tất cả  đã  “xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế Câu 2. “Chơi vơi” là trạng thái trơ  trọi giữa khoảng không rộng, không thể  bấu víu  vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm , nỗi nhớ  da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm cho con người có cảm giác đứng  ngồi không yên. Câu 3. Những câu trên có nhiều thanh trắc, gợi sự  trắc trở, gập nghềnh của đường  hành quân, đến câu: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” toàn thanh bằng liên tiếp, gợi tả  sự  êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ  vẫn lạc quan   yêu đời. Nhịp thơ  chậm , âm điệu nhẹ  nhàng, sâu lắng tạ  sự  thư  thái trong tâm hồn Câu 4. ­ Về hình thức: Cần đảm bảo đùng hình thức một đoạn văn. ­ Về  nội dụng: HS có thể  trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo  những nội dung sau: + Nghệ thuật nói giảm, nói tránh đã làm cho câu thơ giảm đi đau thương mà thay vào  đó là sự bi tráng, hào hùng.  + Người lính ra đi mà như  đi vào giấc ngủ  bởi họ đã khoác lên mình đôi cánh của lý   tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Đề 2: Đọc đoạn thơ sau đây và trả hời các câu hỏi từ 1 đến 4.                        Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc  Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới  Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành                        (Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng) Câu 1.Văn bản trên được viết theo thể thơ gì? Nêu nội dung cơ bản của văn bản? Câu 2. Văn bản có sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ  ngữ  đó và nêu tác dụng của chúng. 6
  8. Câu 3. Chỉ  ra phép tu từ  nói giảm được sử  dụng trong văn bản và nêu tác dụng của   phép tu từ đó. Câu 4. Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với anh chị được gợi ra từ đoạn thơ trên là gì?   Vì sao? Trả lời: Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên. Văn bản tập trung   khắc họa chân dung người chiến binh Tây Tiến (ngoại hình, tâm hồn, lí tưởng, sự  hi   sinh) Câu 2. Những từ  Hán Việt được sử dụng là: đoàn binh, biên giới, chiến trường, biên  cương, viễn xứ, áo bào, độc hành. Việc sừ  dụng những từ Hán Việt  ở  đây đã tạo ra  sắc thái trang trọng, mang ý nghĩa khái quát, làm tôn thêm vẻ đẹp của người lính Tây   Tiến, góp phần tạo ra vẻ đẹp hào hùng cho hình tượng. Câu 3. Phép tu từ  nói giảm dược thể  hiện trong câu thơ: “Áo bào thay chiếu anh về   đất”. Cụm từ “về đất” được thay thế cho sự chết chóc, hi sinh.  Phép tu từ này có tác  dụng làm giảm sắc thái bi thương cho cái chết của người lính Tây Tiến. Người lính   Tây Tiến ngã xuống thật thanh thản, nhẹ nhàng.  Câu 4. HS đưa ra thông điệp có ý nghĩa nhất và lí giải hợp lí, thuyết phục. 7.3.2 DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC    7.3.2.1 NGHỊ LUẬN VỀ BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ        7.3.2.1.A DẠNG 1: CẢM NHẬN ĐOẠN THƠ. TỪ  ĐÓ RÚT RA NHẬN XÉT  THEO YÊU CẦU CỦA ĐỀ Đề  1: Cảm nhận đoạn thơ  sau trong bài thơ  Tây Tiến của Quang Dũng. Từ  đó  nhận xét về vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên núi  rừng miền Tây dữ dội mà mĩ lệ                                                        “ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !                                    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi                                                    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi                                    Mường Lát hoa về trong đêm hơi                                    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm                                    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời                                    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống                                    Anh bạn dãi dầu không bước nữa                                    Gục lên súng mũ bỏ quên đời !                                    Chiều chiều oai linh thác gầm thet́                                   Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người  7
  9.                                   Nhớ ôi ! Tây Tiến cơm lên khói                                       Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”   I. Mở bài Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng Và con người ấy, bài thơ ấy. Vẫn sống muôn đời cùng núi sông.                                                       (Giang Nam) Chiến tranh đi qua đã để lại cho chúng ta những hoài niệm về những tháng năm  không thể  nào quên, đó là khi con người ta nhận ra sứ mệnh của mình sinh ra là để  chiến đấu, là để  báo thù, đó là những con người sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, việc học   hành, tình cảm cá nhân vị kỉ để đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc… Những con người ấy   đã đi vào trong thơ  ca, nghệ thuật như những huyền thoại của thế kỉ 20 mà nhà thơ  Quang Dũng đã thể hiện thật xuất sắc thông qua lăng kính lãng mạn nhưng vẫn đậm  chất hiện thực của mình qua bài thơ  Tây Tiến. Tác phẩm đã khắc họa thành công bức  tượng đài người lính Tây Tiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống  Pháp gian khổ.  Ấn tượng sâu đậm nhất trong ta là đoạn thơ  mở  đầu của thi phẩm.  Đoạn thơ tập trung thể hiện nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa   hùng vĩ, vừa mĩ lệ; hình  ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian   khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng:                                     Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi                                       ……………………………….. Mai Châu mùa em  thơm nếp xôi. II. Thân bài 1. Khái quát: ­ Giới thiệu tác giả: Quang Dũng  là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ  tranh,  soạn nhạc với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Ông là một trong   những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, trưởng thành từ cuộc  kháng chiến chống Pháp.  ­ Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ  Tây Tiến là một thi phẩm xuất sắc của Quang Dũng  nói riêng và của văn học kháng chiến chống Pháp nói chung.  Bài thơ được khơi nguồn  cảm xúc từ đoàn quân Tây Tiến. Đây là một đơn vị  chủ lực được thành lập đầu năm  1947.  Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành   lập trung đoàn 52. Quang Dũng là đại đội trưởng ở đó, từ đầu năm 1947 đến cuối năm   1948 rồi chuyển sang đơn vị  khác. Nhà thơ  nhớ  đơn vị  cũ mà viết bài thơ  này ở  Phù  8
  10. Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ  Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ  là Tây Tiến in trong tập Mây đầu ô (1986). ­   Giới thiệu đoạn thơ: Bài thơ  được cấu trúc theo diễn biến tự  nhiên của nỗi nhớ  của nhà thơ Quang Dũng nhớ về thiên nhiên miền Tây Bắc, về người lính Tây Tiến ­   những đồng chí, đồng đội của một thời. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ  là nỗi nhớ của   tác giả  về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, vừa mĩ lệ; hình ảnh người lính  Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng . 2. Cảm nhận đoạn thơ  a. Hai câu thơ đầu: Cảm xúc bao trùm của đoạn thơ và bài thơ.  Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài thấm đẫm thời gian và bao trùm không  gian, nỗi nhớ có khi lặn xuống tầng sâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thành   tiếng gọi tha thiết: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi ­ Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi­ những nơi đã từng gắn bó  thân thiết, chia sẻ bao kỉ niệm vui buồn của nhà thơ với đơn vị của mình. ­ Mức độ của nỗi nhớ: + Câu thơ như một tiếng thở dài Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng gọi Tây   Tiến ơi!. Nỗi nhớ có cái gì đó khắc khoải, tiếc nuối, hụt hẫng cùng với khát vọng trở  về  quá khứ  thân thương mà hào hùng thuở  nào. Ba từ  Tây Tiến  ơi nghe sao mà thân  thương đến thế, ta có cảm giác Tây Tiến không hề ở xa so với nhà thơ  mà đoàn binh   Tây Tiến ở ngay trong trái tim nhà thơ.   + Điệp từ  nhớ: diễn tả  nỗi nhớ  cháy bỏng, dào dạt như  những lớp sóng dâng trào   mãnh liệt trong lòng thi nhân:  Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi. + Cụm từ  nhớ  chơi vơi: Hai từ  chơi vơi là hai từ giàu sức gợi, từng được dùng để  diễn tả  tâm trạng của con người.  Nỗi nhớ  thật độc đáo. Đó là một nỗi nhớ  thật khó   định hình, định lượng.  Nỗi nhớ ấy như gợi ra được cả  sự xa xôi về thời gian, gợi sự  mênh mông về  không gian, gợi cả  tầm cao, bồng bềnh lan tỏa, không sao đong đếm  được. Nỗi nhớ còn gợi sự hư ảo, mơ hồ giữa hai bờ hư và thực, quá khứ và hiện tại.  ­ Liên hệ: Văn học viết về nỗi nhớ rất phong phú:  Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.                                                                (Ca dao)  Hay nhớ đến ngẩn ngơ, mất hết cả lí trí  9
  11.                                                        Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ                                                     nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai?                                                                                         (Ca dao)   Nhà thơ Tố Hữu diễn tả nỗi nhớ cũng rất cụ thể, dễ hiểu                                                          Nhớ gì như nhớ người yêu + Điệp âm ơi: Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng bởi sự láy lại ba lần của âm  ơi  (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở có kết cấu thanh bằng mang âm hưởng vang vọng lan  tỏa khiến cho nỗi nhớ như được ngân lên, ngập tràn trong tâm hồn thi nhân ­> Hòa nhập lòng mình với hai câu thơ mở đầu, ta thấy tình thương, nỗi nhớ của QD   vơi miền Tây, đồng chí, đồng đội thật sâu năng biết nhường nào! b. Câu 3, 4: Hình ảnh đoàn quân TT. Trong mịt mờ  kỉ  niệm, chân dung của đoàn quân Tây tiến được khắc họa, hòa   lẫn với những địa danh khó quên, với thiên nhiên vừa hiện thực vừa lãng mạn:        Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi                                    Mường Lát hoa về trong đêm hơi  ­  Địa danh: Nỗi nhớ đoàn quân TT gắn với những địa danh khó quên:    +  Trong nỗi nhớ  của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như:  Sài Khao,  Mường Lát, những địa danh này vừa mang ý nghĩa cụ  thể, vừa mang ý nghĩa tượng  trưng khái quát. Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi  qua, từng gắn bó.  + Mặt khác, những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát,  nó tượng trưng cho một  không gian rất riêng của Tây Bắc xa xôi, lạ  lẫm, hoang dã, bí ẩn, ghi lại một thời kì   lịch sử hào hùng của dân tộc với biết bao khó khăn, gian khổ như một nhà thơ đã nói:  Những tên làng, tên núi, tên sông                Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc. ­ Sự khắc nghiệt của thiên nhiên: Rung cảm hồn mình với những câu thơ tài hoa của  nhà thơ xứ Đoài mây trắng, ta thấy ngòi bút của Quang Dũng thật táo bạo và chân thực   khi miêu tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây và sự mỏi mệt của đoàn quân rất  đỗi kiêu hùng.  Đó đâu phải là thứ  sương khói bảng lảng như  trong thơ  đường, thơ  Tống, cũng không mơ  màng  “Chùng chình qua ngõ”  như  trong thơ  Hữu Thỉnh.  Núi  rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ   ảo khói sương, sương dày. lạnh cắt da cắt thịt như  muốn nhấn chìm, che lấp cả đoàn quân mỏi, như muốn xóa dấu con người, cản bước   cuộc trường chinh. Hai chữ  sương lấp cùng chữ  mỏi đưa người đọc trở  về  với cuộc  sống hiện thực khốc liệt của người lính ! ­ Liên hệ:  10
  12. + Hình ảnh thơ khiến người đọc nhớ đến trạng thái rã rời, mệt mỏi của người tù Hồ  Chí Minh trên đường chuyển lao trong bài thơ Chiều tối.  + Nhà thơ Vũ Quần Phương đã bình về chi tiết này rất hay:  Đoàn quân không gợi một   chút nào cái hùng sân khấu mà đoàn quân mệt mỏi vì đường xa, bụi bặm, đói khát. + Người lính cũng không mang tầm vóc sử thi như trong thơ Tố Hữu:  “Núi không đè   nổi vai vươn tới”. Phải chăng con người đã gục ngã trước khó khăn? ­ Câu thơ tiếp theo là một sự trả lời đầy tinh tế:   “Mường Lát họa về trong đêm hơi”           “Hoa về” hay “ đêm hơi” đều là cách kết hợp từ rất lạ lẫm gợi nên nhiều cách   hiểu:  + Cũng có thể, những người lính Tây Tiến trên đường hành quân trở về Mường Lát họ  mang theo những đóa hoa rừng ngát hương thơm  + Có thể hiểu trong sự cảm nhận lãng mạn của người lính, sương khói ở Mường Lát  lúc tụ vào, lúc tan ra trông như những bông hoa khói vậy.  + Có thể hiểu mỗi người lính Tây Tiến được ví như một bông hoa tuyệt đẹp của núi  rừng đang trở về hội tụ tại Mường Lát đêm nay ? + Có thể  hiểu người lính Tây Tiến đã phải đốt đuốc trong đêm hành quân. Những  ngọn đuốc soi sáng bước đường hành quân gian khổ   ấy, đẹp lung linh như  bông hoa   giữa khói sương mờ ảo           “Đêm hơi” là một không gian chập chờn, hư ảo, hơi thở của con người và thiên   nhiên tan biến vào nhau, hơi sương hay hơi súng…mọi khái niệm đều là có thể.  ­> Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn, gian khổ  mà người lính Tây Tiến đã phải trải qua,  để ta hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến  tranh để  thêm cảm phục, thêm yêu vẻ  đẹp tâm hồn của những người lính trẻ  mộng  mơ, hào hoa lãng mạn. Những hình ảnh ấy khiến cho đoạn thơ bớt đi sự dữ dằn của   hiện thực, người đọc có cảm giác như được xoa dịu, vơi đi những nhọc nhằn, vất vả  mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng.  => Có thể nói, rung cảm lòng mình với  hai câu thơ trên, với ngòi bút tài hoa và trái tim   đong đầy yêu thương với đơn vị Tây Tiến,  nhà thơ xứ Đoài mây trắng đã làm nổi bật   hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa dữ dội, vừa nên thơ, đồng thời cũng làm nổi   bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến vừa gian khổ,   vừa lãng mạn, yêu đời. c. Bốn câu tiếp theo: Hình ảnh con đường hành quân.          Nếu bốn câu đầu là nỗi nhớ da diết với những nét phác họa giàu tính tạo hình,  thì bốn câu thơ  tiếp theo là sự  cụ  thể  hóa chặng đường gian truân mà không thiếu   vắng cái nhìn trẻ trung, tươi tắn. 11
  13. * Gian khổ, khó nhọc: Con đường đèo dốc Trước hết hình ảnh con đường dốc được miêu tả với những nét tạo hình thật tài hoa: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm    Heo hút cồn mây sung ngủi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống ­ Từ láy: Trong hai câu thơ đầu, Quang Dũng sử dụng những từ láy (khúc kkuỷu, thăm   thẳm, heo hút) đạt giá trị biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự  gian nan trùng điệp,  núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao đã vội đổ  dốc, cứ thế  gấp khúc nối tiếp nhau ­> độ cao ngất trời,  độ sâu hun hút. ­ Điệp từ  dốc: được nhắc đến liên tiếp hai lần gợi ra một địa hình hiểm trở  chỉ  có  dốc là dốc cao và sâu. ­ Đảo ngữ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo  ngữ càng nhấn mạnh điều đó. Cồn mây đặc tả  độ  cao và gợi ra vị trí của người lính  Tây Tiến đứng trong mây, trên đỉnh núi cao vời vợi. Như vậy, dẫu câu thơ không nhắc   đến sự khó khăn nhưng người đọc vẫn hình dung ra chặng đường hành quân leo dốc,   vượt đèo mà người lính phải trải qua. ­ Ngắt nhịp, thanh trắc: Với cách ngắt nhịp dứt khoát 4/3, câu thơ thứ nhất như bị bẻ  gãy đột ngột, kết hợp với những thanh trắc liên tiếp, dồn dập đã diễn tả sự hiểm trở  của dốc cao, vực thẳm  => Quang Dũng đã mở  ra không gian ba chiều khiến hình  ảnh thơ  được chạm nổi   thành một bức phù điêu hùng vĩ về  núi rừng Tây Bắc. Hình  ảnh thơ  khiến ta liên  tưởng đến chặng đường hành quân của người chinh phu trong  Chinh phụ  ngâm của  Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm: Hình khe thế núi gần xa           Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao. ­ Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời.  + Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực, những người  lính Tây Tiến hành quân phải vượt núi cao, cao đến mức núi chạm trời, họ  đi trong   mây mà tưởng như nòng súng chạm tới đỉnh trời.  + Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của người   lính Tây Tiến.  . Hào hoa, lãng mạn: Tác giả  không nói súng chạm trời mà là súng ngửi trời. Nghệ  thuật nhân hóa khiến ta thấy được sự  tếu táo, đùa vui, lãng mạn, lạc quan, yêu đời,  trêu ghẹo cả tạo hóa của lính Tây Tiến Câu thơ  khiến người đọc liên tưởng đến hình  ảnh thơ  mộng trong bài thơ  Đồng chí  của Chính Hữu:  12
  14. Đầu súng trăng treo  Hay tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong  Bài thơ về   tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. . Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người lính, không  nói núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao. Chữ   ngửi vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư  thế chót vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm trời. Điều  đó cho thấy sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ  đẹp của người lính Tây Tiến   trong tư thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh. Đó là vẻ đẹp tiêu biểu của người   lính trong văn học chống Pháp: Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới Lá ngụy trang reo với gió đèo.                      (Lên Tây Bắc ­ Tố Hữu) ­ Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.    Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người. Tác   giả  sử  dụng nghệ  thuật đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từ  ngàn  thước với hai động từ chỉ hướng lên, xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi  để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc vừa có độ  cao chót vót, vừa có độ  sâu thăm   thẳm đầy bất ngờ, nguy hiểm.  Đọc những câu thơ  này của Quang Dũng ta liên tưởng đến hai câu thơ  của Lí   Bạch tả cảnh thác Hương Lô: Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây  Trần Lê Văn đã bình về câu thơ này thật xác đáng:  Đọc câu thơ và nghe đã muốn mòn chân mỏi gối. ­ Bình yên, êm ả:  Giữa những câu thơ chật chội những thanh trắc, QD thả xuống môt câu thơ toàn thanh  bằng:                              Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi             Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn của người lính Tây Tiến, khi người  lính hành quân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là những ngôi nhà bồng   bềnh trong biển mưa núi sương rừng  ở  Pha Luông. Câu thơ  gợi ra không gian rộng   mở, mênh mang, huyền ảo, lãng mạn, xua tan mỏi mệt, mang lại cảm giác nhẹ nhõm,  lâng lâng. Qua đó cho thấy tâm hồn lãng mạn, bay bổng của người lính. 13
  15. => Bốn câu thơ  có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, giàu chất nhạc, chất họa.   Ngoài ra, Quang Dũng còn sử dụng nghệ  thuật của thơ  Đường vẽ mây nảy trăng khi  nhà thơ  tả  cảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ  dội để  làm nổi bật lên hình  ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất  vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng mạn. d. Sáu câu còn lại. * Hai câu đầu: Sự hy sinh.    Một trong những lí do khiến bài thơ Tây Tiến chịu số phận thăng trầm là bởi Quang  Dũng đã dám nói về cái chết, nói về sự kiệt sức và bất lực. Nhưng người ta quên mất   rằng Quang Dũng miêu tả sự hi sinh nhưng khí lực của câu thơ vẫn vô cùng mạnh mẽ:                                   Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời! + Hai chữ  anh bạn  chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân   thiết, gần gũi. + Từ ngữ  dãi dầu, gục: Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ   dãi dầu,   gục. Đó là những vất vả, gian lao, nếm mật nằm gai mà người lính Tây Tiến phải trải   qua trên chặng đường hành quân gian khổ  và quá trình chiến đấu với quân thù. Đặc   biệt là chữ gục có nhiều cách hiểu: Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người lính ngủ gục  trên súng mũ như muốn quên đi tất cả, có thể  đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả  sự  hi sinh của người lính vì Tổ  quốc. Dù hiểu theo cách nào thì câu thơ  vẫn gợi vẻ  đẹp hào hùng của người lính vì họ  “gục lên súng mũ”­một tư  thế  thật đẹp! (Liên  tưởng đến thơ của Lê Anh Xuân­ Dáng đứng Việt Nam, Tố Hữu­Lượm) ­ Cách nói giảm, nói tránh không bước nữa, bỏ quên đời: Quang Dũng vẫn tiếp tục  sử dụng cách nói giảm, nói tránh khi viết về vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến   qua các cụm từ: không bước nữa, bỏ  quên đời. Chiến đấu và hi sinh đó là hiện thực  khốc liệt của chiến tranh. Nhà thơ  Quang Dũng đã không ngần ngại nói đến cái chết   mặc dù câu thơ không có từ nào nói đến cái chết. Hiệu quả của nghệ thuật nói giảm   nói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi đựơc sự  bình thản, hùng tráng, ngang   tàng, bất cần chứ  không bi lụy. Họ  sẵn sàng hi sinh vì Tổ  quốc, quê hương, coi cái   chết thật nhẹ nhàng. Dường như họ sang thế giới bên kia chỉ  là một cuộc dừng chân  tạm thời, là một cuộc nghỉ  giải lao giữa đường mà thôi như  Phan Bội Châu đã viết  trong bài Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông:                                  Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Câu thơ sáng ngời phẩm chất người chiến sĩ cách mạng:  Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc                                  (Nguyễn Đình Chiểu).  14
  16. * Hai câu tiếp: Uy lực chốn rừng sâu: ­ Những khó khăn, gian khổ  chưa dừng lại, hai câu thơ   tiếp còn hé lộ  sự  bí  ấn, sự  khắc nghiệt của rừng già và thác dữ nơi đây. “Chiều chiều oai linh thác gầm thét        Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi”  Thiên nhiên hoang dã, dữ  dội được miêu tả  trong tiếng gầm thét của thác, bóng dáng  của cọp trêu người.  + Âm thanh thác gầm thét: Quang Dũng đã chọn khoảnh khắc “Chiều chiều” để miêu  tả oai linh thác bởi chiều là khoảng thời gian nỗi nhớ dễ khơi sâu, lòng người dễ trùng  xuống mà rừng già lại trở nên đầy kì bí. Những con thác như một sinh thể có linh hồn,   vừa oai hùng, vừa hoang dại. Động từ “gầm thét” đã đặc tả sự cuồng nộ của âm thanh  những con thác nơi đây. Âm thanh  ấy sau này còn được Nguyễn Tuân miêu tả  như  “tiếng của hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lôn giữa rừng vầu, rừng tre, nứa nổ   lửa”…. + Mối nguy hiểm “cọp trêu người”: Không những vậy, đêm xuống người lính còn  phải đối mặt với mối nguy hiểm “ cọp trêu người”. Mãnh thú vốn chẳng biết trêu đùa  giữa chốn rừng thiêng. Cách dùng từ  này thể  hiện rõ sự  coi thường gian khó, sự  lạc   quan, trẻ trung của tâm hồn. Hai thanh trắc “hịch”, “cọp” liên tiếp đặt cạnh nhau càng  nhấn mạnh thêm những bước chân nặng nề đáng sợ của loài mãnh thú đang rình rập.              Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng:          “Địa danh Mường Hịch đọc có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm khuya.   Hai chữ Hịch, cọp với hai dấu nặng trĩu xuống nghe rờn rợn. Câu thơ nói đủ sự khốc   liệt của chiến trường người lính. Hai dấu chấm nặng như xoáy vào lòng đất gợi cảm   giác ghê sợ, hãi hung” + Sử  dụng từ  láy và điệp từ: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc  ấn tượng  mạnh mẽ về thời gian diễn ra triền miên, thường xuyên, liên tục nơi rừng thiêng thác   sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với người lính Tây Tiến. Như  vậy, người lính Tây Tiến không chỉ bị ngã xuống trước họng súng của kẻ thù mà còn  có thể bị ngã xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm, thú dữ. Tuy nhiên, nói về uy lực chốn  rừng sâu chỉ  là một cách để  Quang Dũng ngợi ca khí phách anh hùng của người lính   Tây Tiến * Hai câu cuối: Kỉ niệm ấm áp tình người, tình quân dân thắm thiết: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi 15
  17. ­ Đắm hồn mình vào trang thơ của Quang Dũng, ta thấy thật thú vị khi đoạn thơ khép   lại bằng sự  chuyển đổi cảm hứng đột ngột từ  sự  hiểm nguy sang vẻ   ấm cúng, thơ  mộng của bản làng. + Từ cảm thán “ôi” thể hiện cảm xúc nhớ nhung dâng trào, không thể nào kìm nén.  + Địa danh Mai Châu, bữa xôi sốt dẻo ấm áp tình quân dân: Quang Dũng từng kể  những kỷ  niệm với người dân khi đoàn quân dừng chân  ở  những bản làng, được ăn   bữa cơm đầu mùa do bàn tay thơm thảo của người con gái Tây Bắc nấu. Hương vị ấy,   làn khói mơ  hồ   ấy có thể  chỉ  bay lên trong thoáng chốc nhưng nhiều năm sau nó còn   vương vấn tâm hồn của thi nhân. Hương nếp thơm hay đó chính là sự thơm thảo của   lòng người, của tình em nồng  ấm? Ta còn nhớ  mãi tình quân dân  ấm nồng  trong bài   thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên:  Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương. + “Mùa em” là 1 kết hợp từ độc đáo, gợi lên sự lãng mạn, tình tứ  và “em” trở  thành  trung tâm trong nỗi nhớ của nhà thơ. Do đa dạng trong cách ngắt nhịp nên câu thơ  có   tạo nên nhiều cách hiểu: Chữ mùa gợi sự đầy đủ, ăm ắp sự sống, mang hương vị của   đồng nội, còn chữ  em gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ. Hai từ  mùa em đã gợi  tả tinh tế cảm giác xao xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa, lãng mạn   trước sản vật và con người Tây Bắc. =>Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ  ấy, tình quân dân đã làm vơi đi những  khó khăn mà người lính phải trải qua. Đây sẽ  mãi mãi là những kỉ  niệm đẹp đẽ  làm   ấm lòng người lính trên chặng đường hành quân gian lao, đầy thử  thách, gợi lên vẻ  đẹp hào hoa của người lính Tây Tiến. e. Đánh giá chung về đoạn thơ: * Nội dung: ­ Tác giả Maiacôpxki đã từng viết:     “Phải phí tổn nghìn cân quặng chữ                                                  Mới thu về một chữ mà thôi Một chữ ấy làm cho rung động               Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”             Vâng! Câu thơ thật đúng khi ta được cảm nhận đoạn thơ trên trong  Tây Tiến  của Quang Dũng. Đoạn thơ tuy ngắn nhưng thật hay và độc đáo. 16
  18. + Đoạn thơ  đã khắc họa một cách sống động về  thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa  hùng vĩ, vừa mĩ lệ; hình  ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian   khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng. + Đoạn thơ  tuy ngắn nhưng tiêu biểu cho giá trị  nội dung và nghệ  thuật của cả  tác  phẩm Tây Tiến. Đoạn thơ góp phẩn khẳng định và làm nên sức sống muôn đời cho tác  phẩm – đưa tác phẩm trở  thành tác phẩm hay nhất viết về hình ảnh người lính trong  những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. + Qua đoạn thơ, ta cũng cảm nhận được ngòi bút tài hoa và tấm lòng gắn bó, yêu quê   hương đất nước   sâu sắc của Quang Dũng. Đó chính là tình cảm yêu nước cao đẹp  trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Đó cũng là bài học yêu nước mà ta cần học tập để  bảo vệ và phát triển đất nước mình, xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. * Nghệ thuật:           Nhà văn Nga Lêônit Lêônôp có viết:                 “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội   dung”.            Đúng vậy, Đoạn thơ trên với những thành công về nghệ thuật làm lay động lòng   người. Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài hoa ở: ­ Thể thơ thất ngôn trường thiên.  ­ Bút pháp tương phản: Đó là sự  tương phản bi và tráng, giữa hào hùng và hào hoa,   giữa giấc mơ và thực tại, giữa thiên nhiên hoang sơ dữ dội và sự thơ mộng êm đềm. ­ Bút pháp phóng đại. Nhà thơ  còn sử  dụng bút pháp phóng đại, phát huy cao độ  trí   tưởng tượng của nhà thơ để có những liên tưởng bất ngờ như “Súng ngửi trời”, “cọp  trêu người”,  ­ Giọng điệu: nét nổi bật của Tây Tiến là những câu thơ  giàu nhạc tính, sự phối hợp  luân phiên bằng– trắc biến hóa vô cùng. ­ Ngôn ngữ: Bài Tây Tiến sử  dụng rất nhiều những từ  ngữ  chỉ  địa danh nhưng tác  phẩm không vì thế mà trở  nên mòn sáo. Thậm chí những địa danh đó vẫn tạo nên sự  hấp dẫn của xứ lạ phương xa đầy bí ẩn. 3. Nhận xét về vẻ đẹp người lính Tây Tiến: ­ Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng: Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Nhà thơ như  con ong biến trăm hoa thành mật ngọt/ Một mật ngọt thành đòi vạn chuyến ong bay.”   Rõ ràng qua “Tây Tiến” Quang Dũng chẳng khác nào một chú ong cần mẫn khi đã   “bay” khắp trên vườn hoa nghệ  thuật để  hút nhụy trên từng đóa hoa ngôn từ  và tạo   nên những dòng thơ  chẳng khác nào những giọt mật ngọt ngào. Hơn thế  nữa, những   giọt mật ấy lại rất riêng, rất đặc biệt khi được đánh giá là một “lệch chuẩn tài hoa và  độc đáo.”   17
  19. ­  Vẻ  đẹp người lính Tây Tiến:  Giữa bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ  mộng song cũng dữ  dội, khắc nghiệt hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên không  hề  nhỏ  bé, tầm thường đi mà ngược lại, họ  càng ngời sáng, kiêu hùng, hào hoa, lãng  mạn và lẫm liệt hơn bao giờ hết.  + QD không né tranh sự  gian khổ  tàn khốc của những chặng đường hành quân, của   thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Thế  nhưng cách nói của QD lại hoàn toàn khác lạ!   Thiên nhiên càng dữ dội bao nhiêu thì khí phách của ngưới lính lại càng mãnh mẽ bấy  nhiêu!  => Có thể nói Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở chính là phông nền để  ngưới lính xuất hiện, để  tôn thêm vẻ  oai phong, kĩ vĩ mà không kém phần lãng mạn,   hào hoa của những con người luôn mang theo trong tim lí tưởng sống “Chiến trường đi  chẳng tiếc đời xanh” III. Kết bài ̃ ưng noi:             Hê­minh­uê đa t ̀ ́ ̉ ́ ́ ̉ ̣ ̣ ̀ ́ ự bât t ́ “Tât ca cac tac phâm nghê thuât đêu co s ́ ử   ̉ ́ ởi vi, đo la san phâm bên v cua no. B ̀ ́ ̀ ̉ ̉ ̀ ững cua lao đông va tri tuê cua con ng ̉ ̣ ̀ ́ ̣ ̉ ươi. Rôi ̀ ̀  mai nay cac tranh t ̀ ́ ượng co thê tiêu tan, cac đên đai co thê sup đô, chi co nh ́ ̉ ́ ̀ ̀ ́ ̉ ̣ ̉ ̉ ́ ưng tac ̃ ́  ̉ ̣ phâm văn hoc chân chinh m ́ ơi co kha năng v ́ ́ ̉ ượt qua được quy luât băng hoai cua th ̣ ̣ ̉ ơì   ̉ ̀ ̣ ̃ gian đê tôn tai vinh viên”. ̉ ́ Tây Tiến  ̃  May thay, trong sô cac tac phâm ây, chung ta co  ́ ́ ́ ́ ́ ̉ cua  Quang Dũng, nhất là đoạn thơ mở đầu tác phẩm – một đoạn thơ thật hay và độc  ̉ ơn  nha th đáo ! Cam  ̀ ơ Quang Dũng đa “căm môt cây sao sang tao” đê đ ̃ ́ ̣ ̀ ́ ̣ ̉ ưa tac phâm ́ ̉   Tây Tiến– môt tac phâm văn hoc cua long nhân, cua đ ̣ ́ ̉ ̣ ̉ ̀ ̉ ức tin, va cua gia tri sông vê phia ̀ ̉ ́ ̣ ́ ̀ ́  nhưng con ng ̃ ươi chân thiên, đê chung ta hiêu răng: Nh ̀ ̣ ̉ ́ ̉ ̀ ững người lính Tây Tiến là bất   tử  và mãi mãi là biểu tượng cao đẹp cho người lính trong kháng chiến chống Pháp.  Đúng như nhà thơ Lê Đại Hành đã từng viết: Sông Mã gầm lên sông Mã ơi! Người yêu sông Mã đã qua đời Để đời nhớ mãi quân Tây Tiến Khúc độc hành ca của một thời Đề  2: Cảm nhận đoạn thơ  sau trong bài thơ  Tây Tiến của Quang Dũng. Từ  đó  nhận xét về vẻ đẹp lãng mạn của bài thơ Tây Tiến:     “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,         Kìa em xiêm áo tự bao giờ         Khèn lên man điệu nàng e ấp         Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ          Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 18
  20.          Có thấy hồn lau nẻo bến bờ      Có nhớ dáng người trên độc mộc      Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. I. Mở bài Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc! Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu! Mảnh đất Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ! Mảnh đất của những ngọn núi vút cao ẩn hiện   trong mây trời sương khói;  Mảnh đất của những bản làng chìm trong sắc trắng của   hoa mơ  hoa mận khi mỗi độ  xuân về. Và đó còn là mảnh đất của những thửa ruộng   bậc thang vàng ửng khi mùa lúa chín. Trong tùy bút Người lái đò sông Đà của NT, ta đã   gặp gỡ  một Tây Bắc hung bạo và trữ  tình, trong  truyện ngắn VCAP , ta đã gặp gỡ  một TB làm say đắm lòng người bởi tiếng sáo gọi bạn tình….. Và chúng ta không thể  nào quên một Tây Bắc hoang sơ và hùng vĩ, thơ  mộng và trữ  tình trong trong một thi  phẩm đặc sắc của Quang   Dũng đó là bài thơ  Tây Tiến! Vẻ  đẹp của miền đất tình  nghĩa này được ông thể hiện trong những câu thơ  được coi là tuyệt bút:  “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa ……………………………….. Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” II. Thân bài 1. Khái quát chung: ­ Giới thiệu tác giả: Quang Dũng  là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ  tranh,  soạn nhạc với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Ông là một trong   những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, trưởng thành từ cuộc  kháng chiến chống Pháp.  ­ Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ  Tây Tiến là một thi phẩm xuất sắc của Quang Dũng  nói riêng và của văn học kháng chiến chống Pháp nói chung.  Bài thơ được khơi nguồn  cảm xúc từ đoàn quân Tây Tiến. Đây là một đơn vị  chủ lực được thành lập đầu năm  1947.  Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành   lập trung đoàn 52. Quang Dũng là đại đội trưởng ở đó, từ đầu năm 1947 đến cuối năm   1948 rồi chuyển sang đơn vị  khác. Nhà thơ  nhớ  đơn vị  cũ mà viết bài thơ  này ở  Phù  Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ  Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ  là Tây Tiến in trong tập Mây đầu ô (1986). 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2