intTypePromotion=1
ADSENSE

SKKN: Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:76

106
lượt xem
14
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chia sẻ một số biện pháp tư vấn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi và đặc biệt với những giáo viên đã và đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin để làm phong phú thêm kinh nghiệm và biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến trên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VAI TRÒ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG BỘ MÔN TRONG VIỆC TƯ VẤN GIÁO VIÊN BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9 Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN PHÚ
  2. A. PHẦN MỞ ĐẦU I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI: Trong những năm qua, chất lượng dạy và học của Tỉnh An Giang nói chung và huyện An Phú nói riêng ngày càng được nâng cao. Các phong trào thi đua dạy tốt – học tốt do ngành phát động được đông đảo cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh hưởng ứng và từng bước đạt được nhiều thành tích khá nổi bật như: phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, tự làm đồ dùng dạy học, hội thi giáo viên dạy giỏi, hội thi ca múa nhạc, hội khỏe Phù Đổng … . Qua các phong trào đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, từ đó tạo được niềm tin đối với các bậc phụ huynh học sinh, các cấp chính quyền và đó cũng là động lực để những người làm công tác giáo dục có những định hướng mới cho sự nghiệp đào tạo thế hệ tương lai của đất nước. Trong các phong trào thi đua đó, có thể khẳng định rằng công tác quản lý chuyên môn nhất là Hội đồng bộ môn đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn thúc đẩy giáo viên trong công tác giảng dạy của huyện An Phú đạt được kết quả khá toàn diện và mang tính bền vững; trong đó có phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi các môn nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng cũng đạt được nhiều thành quả đáng kể. II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Từ năm đầu tiên Sở giáo dục và Đào tạo An Giang tổ chức thi học sinh giỏi văn hoá lớp 9 đến năm 2005 tôi giảng dạy tại trường THCS Vĩnh Trường, bản thân luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử và luôn đạt nhiều giải cấp huyện và cấp tỉnh. Đến hè năm 2005 tôi được điều về Phòng Giáo dục và Đào tạo An Phú phụ trách công tác chuyên môn các môn xã hội và kiêm thành viên Hội đồng bộ môn Lịch sử cấp tỉnh. Với vai trò phụ trách chuyên môn tôi không ngừng tham mưu với Lãnh đạo Phòng Giáo dục chỉ đạo các trường quan tâm công tác nâng cao chất lượng dạy và học, trong đó luôn chú trọng đến công tác giáo dục học sinh mũi nhọn từ đó chất lượng các môn học ngày càng tăng trong đó có môn Lịch sử. Điển hình, năm học 2011- 2012 vừa qua học sinh trong huyện đạt là 15 em trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh. Với những kết quả trên, bản thân xin chia sẻ một số biện pháp tư vấn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng
  3. giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi và đặc biệt với những giáo viên đã và đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin để làm phong phú thêm kinh nghiệm và biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi trên địa bàn An Giang nói chung và huyện An Phú nói riêng. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: - Đề tài tập trung phân tích các biện pháp đã thực hiện trong quá trình tư vấn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 ở các trường THCS trong huyện An Phú. - Thông qua trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các giáo viên của huyện có nhiều kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt nhiều thành tích qua các năm và qua chia sẽ kinh nghiệm với đồng nghiệp là thành viên Hội đồng bộ môn ở các huyện. - Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ năm 2006 đến nay. IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: - Từ thực tế của quá trình tư vấn trong giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả của huyện. Tôi đã không ngừng rút kinh nghiệm, phân tích, so sánh các biện pháp đã tiến hành ở năm sau so với những năm trước để có hướng điều chỉnh ở hiện tại sao cho phù hợp với thực tế với đặc thù tình hình dạy học của huyện. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm của công tác tư vấn giáo viên bồi dưỡng ở các trường, bản thân đã từng bước hình thành ý tưởng viết đề tài về vai trò của thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9. Kết quả qua nhiều năm nghiên cứu đề tài được ra đời. Có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được ngành thực hiện khá lâu nhưng việc tổ chức trao đổi học tập hay chia sẻ kinh nghiệm của các thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn bồi dưỡng thì chưa thực hiện bao giờ. Do đó, đề tài ra đời là kết quả của quá trình gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời phần nào đã giải quyết được những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra. - Qua việc nghiên cứu đề tài này, giúp giáo viên có được các giải pháp phù hợp, khoa học và mang tính khả thi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9.
  4. B. PHẦN NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI: Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 trong những năm còn giảng dạy tôi nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng cần có một quan niệm đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng. Bên cạnh đó, người giáo viên bồi dưỡng cần trả lời câu hỏi: “việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm mục đích gì? ” để từ đó người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn nội dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích hợp và đạt hiệu quả cao nhất. Bộ môn Lịch sử là một trong các bộ môn góp phần phát triển toàn diện con người như nhà văn Nga thể kỷ XIX, Tsecnuwsepxk khẳng định: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn toán, tiếng latinh, hoá học; có thể không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là con người có giáo dục mà không yêu thích môn lịch sử thì chỉ có thể là một con người phát triển không đầy đủ về trí tuệ”. Theo Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Văn Hồ trường Đại học Huế cho rằng: “ Cùng với các bộ môn khác ở trường phổ thông, bộ môn Lịch sử cũng góp phần quan trọng vào việc đào tạo con người mới phát triển toàn diện. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học Lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà phải hiểu, biết vận dụng nó vào cuộc sống. Cho nên, cũng như các môn khác, việc học tập Lịch sử cũng đòi hỏi học sinh phải tư duy, thông minh, sáng tạo. Bởi vì, mọi khoa học đều tổng kết những hiểu biết, kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, đạt trình độ khái quát hoá, trừu tượng hoá, đi sâu vào bản chất sự kiện, hiện tượng, rút ra quy luật vận động của sự vật và tác động của nó; từ đó để đạt đến chân lý khách quan. Bản chất của việc học tập, nghiên cứu lịch sử cũng là một hình thức nhận thức khoa học, đòi hỏi tính tích cực trong tư duy của học sinh. Chính vì vậy, người dạy và người học Lịch sử cần có phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán các sự kiện theo quan điểm hệ thống”. Với quan niệm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Lịch sử là những học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được những hiểu biết; những kỹ năng Lịch sử để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu cầu của đề bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi môn Lịch sử là những học sinh có năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt nhất những kiến thức, kỹ năng chắc chắn về Lịch sử, phải tự học, tự rèn luyện và sáng tạo.
  5. Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, có nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo quan niệm của mỗi giáo viên và tùy theo môn học nhưng dù quan niệm như thế nào chung quy lại có những điểm tương đồng: - Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng nhằm phát triển tư duy ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của học sinh. - Bồi dưỡng sự lao động và làm việc một cách say mê, sáng tạo. - Phát triển các phương pháp, kỹ năng và thái độ tự học suốt đời. - Nâng cao ý thức và khát vọng của học sinh. - Có ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. - Phát triển phẩm chất của người công dân như có thái độ tích cực vì xã hội, vì cộng đồng, yêu lao động, sống nhân ái, có niềm tin, ý thức tổ chức kỷ luật và sống tuân thủ theo pháp luật. Để trở thành con người mới theo yêu cầu của thời đại.... Với những mục tiêu đó, chúng ta thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay của phần lớn giáo viên ít nhiều đã đáp ứng tương đối đầy đủ những mục tiêu trên. Điều này được minh chứng qua kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên vì những em đạt giải học sinh giỏi là những em hội đủ các mục tiêu trên. II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP: Trong thực tế, An Phú là huyện đầu nguồn hàng năm có biến động về nhân sự giảng dạy nên ít nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học của các môn, trong đó có môn Lịch sử. Từ thực tế đó bản thân làm công tác quản lý nên không ít nhiều trăn trở, tìm tòi suy nghĩ để tư vấn giúp đỡ các giáo viên bộ môn nâng cao chất lượng bộ môn và nhất là việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá lớp 9. Qua một số năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đạt nhiều kết quả khả quan . Do đó, trong công tác quản lý hội đồng bộ môn cấp huyện bản thân luôn tư vấn giúp đỡ các giáo viên bộ môn áp dụng các biện pháp cụ thể sau: 1. Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi: Vào đầu năm học, tham mưu với lãnh đạo Phòng chỉ đạo ban giám hiệu các trường chỉ đạo mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi các môn phải xây dựng kế hoạch chi tiết. Vì vậy, các giáo viên dạy bồi dưỡng phải lên kế hoạch cụ thể về: thời gian bồi dưỡng; nội dung; thời lượng; số lượng học sinh bồi dưỡng; chỉ tiêu phấn đấu đạt giải … và các giáo viên thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch. Ban giám hiệu các trường phải thường xuyên kiểm tra và thành viên hội đồng bộ môn cũng luôn tư vấn, giúp đỡ, nhắc nhở, tháo gỡ những khó khăn gặp phải trong việc
  6. bồi dưỡng của giáo viên qua các phiên họp chuyên môn định kỳ nhằm thúc đẩy để nâng cao chất lượng về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện An Phú. 2. Chọn đối tượng bồi dưỡng và thường xuyên thực hiện công tác tư tưởng với học sinh tham gia bồi dưỡng: Chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi là khâu quan trọng nhất trong các khâu bồi dưỡng. Vì nếu các em không đam mê thì khi vào học sẽ bỏ nữa chừng không đến ôn thi hoặc diện nhiều lý do khác để nghỉ thi. Như chúng ta đã biết theo quy chế thi học sinh giỏi thì đối tượng được thi học sinh giỏi là những học sinh đang học lớp 9 tại các trường, có học lực ở học kỳ I của năm đang học đạt từ loại khá trở lên, hạnh kiểm đạt loại tốt và kết quả trung bình môn Lịch sử cuối học kỳ I phải đạt từ 8,0 trở lên. a) Những năm qua việc chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở các trường về cơ bản được nhiều thuận lợi do: - Đa số học sinh khối 9 đều có hứng thú và đam mê môn Lịch sử. Vì vậy, học sinh đăng ký dự thi hàng năm khá đông năm ít nhất có 45 học sinh dự thi cấp huyện và tỉnh. - Môn Lịch sử của huyện là môn có truyền thống đạt giải nhiều trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh nên cũng thu hút học sinh đăng ký tham gia bồi dưỡng. b) Những khó khăn gặp phải trong quá trình tuyển chọn: - Đa số học sinh đăng kí bồi dưỡng bộ môn lịch sử đều có học lực loại khá vì không ít thì nhiều vẫn còn quan niệm xem nhẹ bộ môn lịch sử và các môn khoa học xã hội khác. Mặt khác, do tính thực tế của các kì thi tuyển sinh 10 chủ yếu tập trung vào các môn: Toán, Văn, Anh nên các em có học lực giỏi thường tham gia thi những môn này. - Do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan nên một số học sinh có sự mâu thuẫn, chưa thông suốt giữa học sinh giỏi ở lớp với học sinh giỏi văn hoá cấp huyện, tỉnh do đó: học sinh nghĩ rằng tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ ảnh hưởng đến thành tích học ở lớp và ngược lại. Vì vậy một số em vẫn tham gia bồi dưỡng nhưng mang tính hình thức, thiếu tập trung. - Do nhận thức của phụ huynh còn hạn chế: bồi dưỡng học sinh giỏi không còn thời gian phụ tiếp chuyện gia đình và không còn thời gian học các môn sẽ chi phối kết quả học tập của con em học vào cuối năm.
  7. - Bản thân học sinh phải đi học bù, học thể dục, học thêm, tham gia các phong trào khác của lớp, trường nên ít quan tâm nội dung mà giáo viên cho về nhà luyện và học. Xuất phát từ những khó khăn trên, đòi hỏi mỗi giáo viên phải thường xuyên động viên, khuyến khích và kiên trì phân tích cho học sinh thấy được phải làm như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc mà vẫn sử dụng hợp lý quỹ thời gian. Vì nếu suy cho cùng việc bồi dưỡng học sinh giỏi muốn thành công hay thất bại nhờ vào vai trò của người giáo viên – người giáo viên mới gặp những “lực cản” mà buông xuôi thì khó có thể thành công. Do đó, có ý kiến cho rằng người giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi được ví như đạo diễn của bộ phim, còn học sinh là những diễn viên thực hiện theo ý định của đạo diễn, nhưng đạo diễn cũng cần biết quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của diễn viên. 3. Giáo viên bồi dưỡng nên biên soạn tài liệu theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử: Có thể cho rằng đây là biện pháp mang tính bền vững đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm qua cho thấy nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử rất phong phú được trải đều ở 2 khối lớp 8, 9 và ở mỗi khối lớp lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh là vô hạn, giáo viên bồi dưỡng rất khó xác định được nội dung kiến thức nào cần bồi dưỡng trước cho học sinh, nội dung nào không quan trọng để giới hạn, đặc biệt là phần Lịch sử Việt Nam (khối 8) từ 1858 đến đầu thế kỷ XX và chương trình Lịch sử (khối 9) gồm Lịch sử thế giới hiện đại và Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cuối năm 1954, bên cạnh đó trong một vài trường hợp người giáo viên không thể bồi dưỡng kiến thức trong sách giáo khoa theo một trình tự cố định hết các bài do không đủ thời gian hoặc do kiến thức được sắp xếp theo từng phần, từng chương theo phương pháp dàn trải. Chính vì thế, đòi hỏi mỗi giáo viên phải nghiên cứu tiến hành soạn tài liệu riêng theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi. Từ nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi các năm qua theo tôi có các chuyên đề cơ bản sau: - Chuyên đề Lịch sử Việt Nam (khối 8). - Chuyên đề Lịch sử Thế giới và Việt Nam (khối 9). - Chuyên đề về Kỹ năng lập biểu bảng, phân tích và nhận xét các sự kiện lịch sử cả khoá trình giới hạn thi học sinh giỏi Lịch sử. - Chuyên đề Lịch sử địa phương theo quy định.
  8. Như vậy, từ các chuyên đề trên giáo viên cần tìm những tài liệu liên quan để biên soạn, thông thường các chuyên đề này được giảng dạy chuyên sâu hơn ở chương trình Lịch sử lớp 12 để nâng cao (đối với khối 9) và chương trình Lịch sử lớp 11 để nâng cao (đối với khối 8), hay được tập trung trong các bộ đề thi Lịch sử các năm học trước đây của Sở và các Sở Giáo dục khác. Hàng năm với tư cách hội đồng bộ môn tôi đã tư vấn chuyên môn và hỗ trợ giáo viên dạy bồi dưỡng các tài liệu tham khảo để học sinh tự nghiên cứu, tự học ở nhà. ( Đính kèm phần tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh bồi dưỡng học sinh giỏi ở phần phụ lục kèm ở phía sau). Khi đã có tài liệu hỗ trợ của hội đồng bộ môn, cộng với kiến thức của giáo viên, cùng với sự ham học tìm tòi sáng tạo của học sinh. Giáo viên rất thuận lợi trong việc bồi dưỡng cho học sinh vì lượng kiến thức đã được định trước, đồng thời hạn chế việc mất thời gian, có thể bồi dưỡng theo định hướng và kế hoạch đã xây dựng của mình. 4. Về nội dung và phương pháp bồi dưỡng: Giáo viên nên bồi dưỡng những chuyên đề cơ bản, trọng tâm trước và ưu tiên thời lượng cho những chuyên đề này đồng thời phải bồi dưỡng theo phương pháp từ thấp lên cao theo hướng: khối 8 → khối 9 → lập bảng biểu để tóm lược các nội dung khoá trình đã được ôn tập. Từ đó khắc sâu kiến thức cho các em. Theo kinh nghiệm của bản thân, giáo viên cần áp dụng theo quy trình sau: Trước tiên, giáo viên phát tài liệu biên soạn của thành viên hội đồng bộ môn phần Lịch sử Việt nam (khối 8) để học sinh tự nghiên cứu vì phần này học sinh đã được học ở lớp dưới nên giáo viên chỉ cần ôn tập lại cho học sinh. Tiếp theo, giáo viên sử dụng tài liệu bồi dưỡng phần Lịch sử Thế giới và Việt Nam (khối 9) vì phần này các em đã được học trên lớp do đó giáo viên có điều kiện mở rộng kiến thức cho học sinh, đồng thời đối với học sinh các em cũng có điều kiện khắc sâu kiến thức, nâng cao khả năng tư duy, các kỹ năng Lịch sử bước đầu cũng được phát triển. Sau cùng, giáo viên tập trung vào kỹ năng lập bảng biểu và nhận xét các sự kiện, lập bảng so sánh. Cũng cần nói thêm rằng, mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đều có những điểm giống nhau như: khung chương trình bồi dưỡng, sự nhiệt tình, trình độ học sinh, phương tiện phục vụ bồi dưỡng nhưng kết quả đạt được có sự khác biệt vì mỗi giáo viên có hình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng khác nhau. Sau đây xin trình bày một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử mà bản thân và các giáo viên đã thực hiện trong các năm qua:
  9. a) Sử dụng phương pháp bảng niên biểu, sơ đồ hóa trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử: - Lập niên biểu: niên biểu là bảng thống kê hệ thống hoá các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian, đồng thời nêu mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trong một thời kỳ lịch sử. Ví dụ: Lập bảng so sánh về phong trào cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945 theo các nội dung sau: Nội dung 1930 – 1931 1936 – 1939 1939 - 1945 Mục tiêu Hình thức đấu tranh Lực lượng tham gia Địa bàn Phong trào tiêu biểu Kết quả Ý nghĩa Qua thực tế bồi dưỡng, vấn đề khó nhất đối với việc hình thành các kỹ năng về lập bảng biểu cho học sinh khi đi thi. Đa số các em còn mơ hồ về nội dung này gắn với nội dung khác. Ví dụ: Đề bài cho lập bảng so sánh ba tổ chức cách mạng trước khi Đảng ra đời về chủ trương, biện pháp cách mạng. Nội dung so sánh Việt Nam CM TN Tân Việt CM đảng VN Quốc dân đảng Chủ trương Biện pháp cách mạng Lưu ý: Khi điền nội dung vào bảng này các em thường nhằm giữa chủ trương và biện pháp. Giáo viên cần chỉnh sửa để các em khắc sâu kiến thức.
  10. Phương pháp tóm lược nội dung bài học bằng sơ đồ: Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh thiết lập sơ đồ, giáo viên có thể cần thực hiện thêm những giải pháp: - Giáo viên vừa giảng bài, tổ chức cho học sinh tìm ra kiến thức và các mối liên hệ chủ yếu vừa xây dựng sơ đồ cũng hoàn thành và nội dung bồi dưỡng (nội dung bài học) được thể hiện một cách trực quan bằng sơ đồ. - Giáo viên có thể xây dựng sẵn sơ đồ câm và đặt câu hỏi hướng học sinh phân tích các mối quan hệ trên sơ đồ để giải thích nội dung học tập đồng thời có các ví dụ cụ thể để chứng minh. - Giáo viên cũng có thể xây dựng sơ đồ câm kết hợp với các phiếu học tập đã chuẩn bị trước rồi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm tìm ra kiến thức. Cuối cùng, giáo viên khẳng định lại vấn đề đúng sai và học sinh tự hoàn thiện sơ đồ trên cơ sở kiến thức tìm được. * Một số ví dụ: Câu 1. Lập sơ đồ về thành tựu chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật sau chiến tranh thế sau chiến tranh thế giới thứ hai. Câu 2. Tóm tắt những nội dung chủ yếu của kịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 qua sơ đồ. Với các câu hỏi mang tính tổng hợp như trên, học sinh giỏi môn Lịch sử không thể học thuộc lòng mà thông qua các phương pháp tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa) và kết hợp vận dụng các kỹ năng Lịch sử dưới sự hướng dẫn của giáo viên phải trình bày đầy đủ và chính xác yêu cầu của đề bằng con đường ngắn nhất là thiết lập sơ đồ. Như vậy, sau khi có được nội dung của đề bài, vấn đề đặt ra là học sinh phải tạo được biểu đồ, sơ đồ cho từng câu hỏi và dựa vào biểu đồ, sơ đồ đó học sinh thuyết trình sơ đồ bằng ngôn ngữ viết vào bài làm kết hợp với quá trình khai thác kiến thức từ Lịch sử Việt Nam và Lịch sử thế giới đã học và nhớ kĩ nội dung bài đã được ôn. b) Sử dụng tài liệu trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử: - Giáo viên cần nắm kỹ nội dung chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi do Sở Giáo dục và Đào tạo đề ra. - Về chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 8 cần nắm vững các điểm nổi bật của các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử quan trọng. Từ đó nhấn mạnh những kiến thức cơ bản để giúp các em hình thành khả năng tư duy, nhậy bén và có khả năng vận dụng.
  11. - Về kiến thức chương trình lớp 9 nắm được những nét chính về quá trình phát triển của lịch sử thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Phải có những hiểu biết về những sự kiện quan trọng trong tiến trình Lịch sử ở các nước xã hội chủ nghĩa, về phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và quá trình phát triển ở một số nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu. Nắm được quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến nay: Về sự phát triển của phong trào cách mạng, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; về các phong trào giải phóng dân tộc về cuộc đấu tranh đánh đuổi Pháp giành độc lập năm 1954. c) Giáo viên bồi dưỡng phải hình thành các kỹ năng về đọc được bản đồ, lược đồ trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử: Đa số giáo viên giảng dạy Lịch sử nói chung và giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng đều cố gắng rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết để khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ thông thường chúng ta tiến hành theo các bước sau: - Bước 1: Nắm vững các ký hiệu chung ở phần dưới của bản đồ, biểu đồ. - Bước 2: Đọc được yêu cầu của giáo viên để chỉ lại diễn biến, kết quả của các sự kiện. - Bước 3: Xác định các mối liên hệ giữa các đối tượng trên bản đồ để giải thích, làm sáng tỏ vấn đề mà giáo viên yêu cầu. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân thì đây là các bước khai thác bản đồ, lược đồ theo phương pháp chung nhất mà người giáo viên dạy Lịch sử nào cũng phải thực hiện, nhưng đối với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ngoài các bước khai thác chung cần có các bước khai thác riêng. Nói cách khác để học sinh khai thác có hiệu quả kiến thức từ bản đồ, lược đồ Lịch sử người giáo viên phải nắm vững các phương pháp biểu hiện các đối tượng trên lược đồ, bản đồ đó. d) Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết cách giải các bài tập lịch sử để khắc sâu kiến thức. Vì các dạng đề này người ra đề thi thường cho khi thi học sinh giỏi huyện, tỉnh. Tôi xin minh họa bằng các câu hỏi sau:
  12. Câu 1. Lập bảng thống kê về các cuộc kháng chiến của phong trào Cần Vương theo nội dung sau: Cuộc khởi nghĩa Thời gian Lãnh đạo Địa bàn, trận đánh tiêu biểu Ba Đình Bãi Sậy Hương Khê Qua các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương, em hãy nhận xét về cách đánh giặc tài tình của nghĩa quân và rút ra nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của phong trào? Câu 2. Lập bảng so sánh về phong trào Cần Vương và phong trào yêu nước đầu THẾ KỈ XX theo nội dung sau: Phong trào Cần Vương Phong trào yêu nước Nội dung ( Cuối TK XIX ) đầu thế kỉ XX Bối cảnh lịch sử Mục đích đấu tranh Hình thức đấu tranh Kết quả va ý nghĩa Em có nhận xét gì về phong trào chống TD Pháp vào cuối TK XIX, về quy mô, tính chất phong trào, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm?
  13. Câu 3. Lập bảng so sánh phong trào Cần Vương với khởi nghĩa Yên Thế ( theo mẫu ): Nội dung Phong trào Cần Vương Khởi nghĩa Yên Thế Điều kiện lịch sử Mục tiêu đấu tranh Lực lượng lãnh đạo Quy mô phong trào Hình thức đấu tranh Câu 4. Lập bảng so sánh về hai xu hướng yêu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh vào đầu thế kỷ XX theo nội dung sau: Nội dung Phan Bội Châu Phan Chu Trinh Chủ trương Biện Pháp Khả năng thực hiện Hạn chế Câu 5. Lập bảng thống kê về các phong trào yêu nước chủ yếu đầu thế kĩ XX theo nội dung sau: Phong trào Mục đích Hình thức và nội dung hoạt động Đông Du Đông kinh nghĩa thục Vận động Duy Tân Chống thuế ở Trung Kì
  14. Câu 6. Lập bảng thống kê các tổ chức mật trận dân tộc thống nhất Việt Nam từ năm 1930 - 1945 theo nội dung sau: Tên các tổ chức, Thời gian Chủ trương lớn Kết quả hoạt động các mật trận III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Từ khi tư vấn giúp đỡ giáo viên bộ môn dạy sử ở các trường THCS đến nay Phòng Giáo dục và Đào tạo An Phú có số liệu học sinh giỏi văn hoá môn Lịch sử cấp tỉnh ngày càng cao. Cụ thể theo bảng số liệu sau: Năm học Số học sinh đạt giải cấp tỉnh 2008 - 2009 5 2009 - 2010 5 2010 - 2011 6 2011 - 2012 15
  15. C. PHẦN KẾT LUẬN I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Để đạt được kết quả trên, qua quá trình tư vấn giúp đỡ, hướng dẫn công tác bồi dưỡng môn Lịch sử ở các trường THCS trong huyện An Phú, tôi đã rút ra được các bài học kinh nghiệm sau: a. Về phía học sinh: - Phải có động cơ học tập đúng đắn, không chạy theo phong trào, xu hướng, nghe theo các bạn… dẫn đến các em chọn không đúng môn yêu thích và sở trường của bản thân của mình. Sắp xếp thời gian hợp lý để tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu. - Phải có tư duy, sáng tạo, biết vận dụng các kiến thức được bồi dưỡng vào các bài tập, các đề thi thực tế của nhiều năm và tham khảo các tài liệu có liên quan đến bộ môn Lịch sử. Đặc biệt làm đúng theo hướng dẫn của giáo viên bộ môn bồi dưỡng. - Trong quá trình bồi dưỡng thì tính tập thể là rất quan trọng, do đó học sinh phải tự trao đổi lẫn nhau khi giải quyết một vấn đề nào đó, nhằm khắc sâu thêm các kiến thức nhận được từ phía giáo viên. b. Về phía giáo viên: - Giáo viên cần xây dựng kế hoạch cụ thể trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi vì qua kinh nghiệm bản thân thấy rằng: kế hoạch vừa là kim chỉ nam cho người giáo viên thực hiện, đồng thời vừa là động lực để người giáo viên phấn đấu tốt hơn trong quá trình bồi dưỡng. Hơn thế nữa, thông qua kế hoạch còn được lãnh đạo nhà trường kịp thời động viên, khuyến khích, tháo gở những khó khăn vướng mắc khi bồi dưỡng. Điều này đồng nghĩa với việc lãnh đạo nhà trường đã thể hiện sự quan tâm đến việc bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. - Giáo viên bồi dưỡng phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có lòng say mê, nhiệt tình trong công việc, không ngừng học hỏi, nghiên cứu Lịch sử để làm phong phú thêm kiến thức truyền đạt cho học sinh bằng cả tấm lòng. - Phân dạng các bài tập cụ thể, chuẩn bị kỹ nội dung cho mỗi dạng cần bồi dưỡng cho học sinh, đảm bảo các kiến thức mà học sinh lĩnh hội được phải có tính kế thừa và phát triển vững chắc qua từng nội dung bồi dưỡng. - Tiến trình bồi dưỡng phải được bắt đầu bằng một dạng bài bài tập mẫu, có hướng dẫn cụ thể, nguyên tắc và cách làm đầy đủ có hiệu quả. Sau đó là các bài tập tương tự, nâng cao và vượt qua các bài mẫu để học sinh tự rèn luyện khả năng tư duy, sáng tạo.
  16. - Trong quá trình bồi dưỡng cần phải phát hiện các lỗi mà học sinh thường gặp như: điền nội dung sai ô, trả lời sai các nội dung đề bài để nhắc nhở học sinh không mắc phải cho các lần sau. - Phân dạng đề bài cho cụ thể, mỗi đề cần hướng dẫn học sinh phương pháp chung để làm, sau đó cho các dạng bài tương tự để học sinh khắc sâu kiến thức đã nắm bắt được. - Các đề ra cho học sinh làm thử phải có tính logic, đi từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao. Tuy nhiên, trong quá trình bồi dưỡng vẫn còn một số tồn tại khó khắc phục: + Từ đầu học sinh chưa định hướng đúng khi chọn môn dự thi, do đó dẫn đến số học sinh dự thi thấp (bỏ bồi dưỡng giữa chừng). + Thời gian để học sinh tự nghiên cứu, tìm hiểu không đủ (ngoài giờ học chính khóa các em còn học ngoại khóa thể dục, tham gia bồi dưỡng nhiều lĩnh vực khác nhau, học thêm, . . . ), dẫn đến hiệu quả không cao. + Thường thì giáo viên ít thường xuyên kiểm tra các vấn đề đã giao về nhà cho học sinh làm. Sau khi kiểm tra xong cho cả nhóm bồi dưỡng nêu ý kiến trao đổi rút ra những vấn đề làm được và chưa làm được của các việc giao về nhà cho học sinh. Từ đó rút kinh nghiệm cho cả nhóm để khắc sâu trong những buổi bồi dưỡng tiếp theo. c. Về phía nhà trường: - Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong quá trình bồi dưỡng. - Có kế hoạch ngay từ đầu trong khâu tuyển chọn đội học sinh dự thi các môn học cho đều. Không để tình trạng học sinh ôn thi môn Lịch sử chỉ ở dạng học lực khá. - Phân công những giáo viên có năng lực, có kinh nghiệm bồi dưỡng nhiều năm và đạt kết quả tốt để tham gia bồi dưỡng. Đồng thời cũng có hướng bồi dưỡng các giáo viên khác để làm lực lượng kế thừa. d. Về thành viên Hội đồng bộ môn các môn: - Tăng cường công tác tư vấn, giúp đỡ các giáo viên bồi dưỡng nhiều hơn để công tác bồi dưỡng đạt nhiều kết quả như mong muốn. - Tìm kiếm tài liệu hoặc soạn thảo tài liệu tham khảo đưa trực tiếp cho giáo viên bồi dưỡng môn mình phụ trách tại các trường THCS. - Tăng cường công tác dự giờ kiểm nghiệm công tác ôn tập bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường thuộc địa bàn quản lý của Hội đồng bộ môn.
  17. e. Đối với Phòng Giáo dục: - Quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn nữa công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hơn nữa, nhất là các môn thuộc lĩnh vực tự nhiên. - Tổ chức hội thảo về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cho các môn có tỉ lệ học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm để rút kinh nghiệm cho các môn. - Hỗ trợ kinh phí bồi dưỡng cho giáo viên theo đúng quy định của ngành, tăng cường hỗ trợ khen thưởng cho thành viên Hội đồng bộ môn phụ trách môn nào có học sinh giỏi đậu cấp tỉnh nhiều. II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: Việc trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết, nắm vững quy luật Lịch sử cũng như phân dạng các bài một cách cụ thể như đã trình bày trong đề tài, nhằm mục đích bồi dưỡng và phát triển kỹ năng cho học sinh vừa bền vững, vừa sâu sắc, phát huy tối đa sự tham gia tích cực của học sinh trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi. Giúp Giáo viên bộ môn bồi dưỡng gợi ý cho học sinh có khả năng tự tìm ra kiến thức, tự mình tham gia vào các hoạt động trao đổi trong nhóm để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Đề tài có tác động tích cực đến việc phát triển tiềm lực trí tuệ, nâng cao năng lực tư duy độc lập và khả năng tìm tòi, sáng tạo cho giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng và dự thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh. Tuy nhiên, giáo viên và học sinh cần phải biết vận dụng các kỹ năng một cách hợp lý và biết kết hợp các kiến thức cơ bản về Lịch sử, kiến thức xã hội, thời đại cũng như các nguyên tắc, phương pháp cho từng dạng bài tập cụ thể thì mới đạt được kết quả cao. Sau cùng là bản thân học sinh, có lĩnh hội được kiến thức hay không, vận dụng vào thực tế có hiệu quả hay không, đây mới là khâu quyết định kết quả. III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI: Áp dụng được cho tất cả giáo viên và học sinh giỏi tham gia bồi dưỡng để dự thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh, ngoài ra còn dùng để củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh qua các dạng bài nâng cao. Vì trong đề tài có đưa ra dạng bài kể cả lý thuyết ở mức cơ bản nhất, từ đó có khả năng phát triển và nâng cao hơn. Kiến thức trang bị cho học sinh được thể hiện ở các mức độ khác nhau, từ cơ bản đến nâng cao, có hướng dẫn cụ thể cho từng dạng và phần phân tích đề bài trong các ví
  18. dụ, sẽ giúp cho các đối tượng khác nhau của học sinh giỏi đều tiếp thu được để từ đó tự rèn luyện cho mình. Các đối tượng học sinh không tham gia dự thi cũng có thể tham khảo để nâng cao kiến thức, tạo nền tảng vững chắc cho các cấp học cao hơn. Đề tài này cũng có thể triển khai cho các giáo viên có tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi, vì các dạng bài tập được nêu ra đã đáp ứng được từ 70% đến 80% của đề thi. Sau đó kết hợp giải các đề thi những năm qua để từ đó hoàn chỉnh thêm kiến thức. Đề tài có khả năng ứng dụng và triển khai trong toàn tỉnh về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và ôn tập bộ môn Lịch sử. IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: - Đối với giáo viên: Để kết quả chọn đối tượng học sinh tham gia dự thi cấp huyện, tỉnh cần tuyển chọn từ năm học trước hoặc tham khảo từ các đồng nghiệp dạy các lớp trước để theo dõi các em mình chọn để bồi dưỡng. Ngoài ra tìm hiểu cách tự học hoặc hướng dẫn kỹ các em biết cách tự học, chú ý khâu giao việc và kiểm tra khả năng tiếp thu của các em qua mỗi đợt giao việc, giúp đỡ các em gặp những khó khăn trong cách học, cách giải các bài tập… Đặc biệt biết kết hợp nhuần nhiển trong dạy học theo tài liệu mà thành viên Hội đồng bộ môn tư vấn cách làm, cách thực hiện. - Thành viên hội đồng bộ môn các môn khi có hướng dẫn thi học sinh giỏi cấp huyện tỉnh cần quan tâm hơn trong công tác tư vấn, hướng dẫn, tìm tài liệu hỗ trợ cho giáo viêm bộ môn các trường THCS để bồi dưỡng học sinh tốt hơn và có chất lượng hơn. - Đối với Ban giám hiệu các trường THCS cần tăng cường công tác kiểm tra, giúp đỡ giáo viên và học sinh, đồng thời có sự đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất cho công tác tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi tham gia dự thi ở các đơn vị. Đặc biết phải phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở treo giải khen thưởng thêm các giáo viên và học sinh đạt giải cấp tỉnh. - Đối với Phòng Giáo dục cần tổ chức hội thảo chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi cho các trường và các môn để rút kinh nghiệm hàng năm. Chỉ đạo thành viên Hội đồng bộ môn các môn tư vấn, giúp đỡ giáo viên gặp khó khăn vướng mắc khi bồi dưỡng. - Đối với Sở Giáo dục cần có chế độ cho học sinh giỏi cấp tỉnh được đi du khảo về nguồn, vui chơi giải trí như các năm học trước đây để tạo động lực cho học sinh. Bộ phận thi đua khen thưởng Sở Giáo dục cần cấp phát các chế độ khen thưởng đối với giáo viên bồi dưỡng và học sinh đạt giải cần kịp thời hơn. Qua đó, động viên, khích lệ
  19. kịp thời tinh thần giáo viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Kết luận: Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi muốn đạt hiệu quả cao không phải là hoạt động đơn giản như một tiết dạy học bình thường trên lớp mà đòi hỏi phải có sự đầu tư, nghiên cứu thật sâu rộng, kỹ lưỡng của giáo viên và sự kiên trì, phấn đấu và nổ lực học tập của học sinh. Bên cạnh, phải có sự phối hợp, hỗ trợ tích cực từ nhiều lực lượng khác như: gia đình, nhà trường và xã hội. Đặc biệt trong đó không thể thiếu sự chỉ đạo của ngành và vai trò tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn một cách khoa học, hợp lí của thành viên Hội đồng bộ môn. An Phú, ngày 02 tháng 11 năm 2012 Người viết Ngô Chấn Hải
  20. MỤC LỤC Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU: 1 I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI 1 II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2 IV. ĐIỂM MỚI TRONG NGHIÊN CỨU 2 B. PHẦN NỘI DUNG 2 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2 II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 4 III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 11 C. PHẦN KẾT LUẬN: 11 I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 11 II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 14 III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI 14 IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 14
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2