Sự nghiệp Thư viện Việt Nam 20 năm đổi mới
LTS: Cùng với sự đi lên của đất nước, hai mươi năm qua với biết bao thăng
trầm, khó khăn, vất vả, sự nghiệp thư viện cũng thay da đổi thịt, lớn dần theo
hơi thở của thời đại. Nhìn lại quá trình hai mươi năm đổi mới để tổng kết,
đánh giá những thành quả đã đạt được, đồng thời rút ra những bài học kinh
nghiệm quý báu là việc làm cần thiết để khẳng định rõ hơn vị thế của thư
viện và tìm ra hướng đi mới phù hợp với tiến trình đi lên của xã hội. Nhân
dịp này, Tạp chí Thư viện Việt Nam đã có nhng cuộc gặp gỡ các nhà quản
lý đầu ngành và lng nghe ý kiến đánh giá của họ về hoạt động thư viện trong
hai mươi năm vừa qua.
mỗi cương vị riêng, các nhà quản lý sẽ có những nhận định khác nhau, từ
đó có thể xây dựng nên mt bức tranh tổng quát về thư viện Việt Nam trong
quá trình hai mươi năm đổi mới. Bức tranh nhiều góc độ đó sẽ giúp chúng ta
nhìn nhn rõ hơn chặng đường đã qua, tiếp tục phấn đấu cho bước đường dài
phía trước để sự nghiệp thư viện vững vàng và phát triển hơn, gặt hái được
nhiều thành quả to lớn hơn trong tiến trình phát trin chung của đất nước.
Ở các số tiếp theo, chúng tôi mong muốn được công bố những bài tổng kết
20 năm đổi mới của các thư viện trong cả nước.
Phóng viên Tạp chí Thư viện Việt Nam
Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuần - Vụ trưởng Vụ Thư viện
Phóng viên (PV): Trên cương vị quản lý của mình, xin bà cho biết những
nhận định khái quát về sự phát triển của hệ thống thư việnng cộng trong
hai mươi năm đổi mới vừa qua với những con số cụ thể?
Nguyễn Thị Ngọc Thuần (NTNT): Việt Nam đang xây dựng và phát
triển đất nước theo hướng CNH - HĐH, trong bối cảnh cả thế giới đang bước
vào kinh tế tri thức. Tri thức thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Sách báo tviện là mt trong những kênh cung cấp thông tin và tri thức
được Đảng Nhà ớc đánh gcao. Từ nhận thức đó, trong 20 năm qua
việc đầu để phát triển sự nghiệp thư viện nói chung, đặc biệt đối với hệ
thng thư viện công cộng được Nhà nước hết sức quan tâm.
Đến nay, Việt Nam đã hình thành mạng lưới thư viện rộng khắp với hai
loại hình thư viện cơ bản là thư viện công cộng và thư viện đa ngành, chuyên
ngành, trong đó:
- Mạng lưới thư viện công cộng bao gồm: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 64
thư viện cấp tỉnh, 587 thư viện cấp huyện, gần 10.000 thư viện, t sách,
phòng đọc sách sở do ngành Văn h- Thông tin (VHTT) xây dựng.
Ngoài ra còn có 10.000 tủ sách pháp luật xã, trên 7.000 phòng đọc sách trong
các điểm Bưu điện - Văn hoá xã, trên 400 thư viện, tủ sách đồn biên phòng…
- Mạng lưới thư viện nhà trường (thuộc Bộ Giáo dục - Đào tạo) với trên
230 thư viện trong các trường đại học, cao đẳng; trên 19.000 thư viện trong
trường phổ thông các cấp.
- Mạng lưới thư viện trong các viện nghiên cứu, các quan nhà nước (do
các Bộ, ban, ngành thành lập) với hơn 60 thư viện các viện nghiên cu khoa
học, trên 200 trung tâm thông tin - thư viện các Bộ, ngành.
- Mạng lưới thư viện, phòng đọc sách trong quân đi gồm thư viện Quân
đội và hàng nghìn thư viện, phòng đọc sách ở đơn vị cơ sở.
Vốn tài liệu (sách báo và các vật mang tin khác) trong các thư viện Việt
Nam ước tính 100 triệu đơn vị. Khoảng 10.000 cán bộ chuyên trách đang làm
việc trong các thư viện (chưa kể scán bkiêm nhiệm). Ngân sách dành cho
thư viện ước tính khoảng 150 tỷ đồng/năm (không kể phần xây dựng cơ bản).
PV: Những thành tựu và những hạn chế cơ bản của sự nghiệp thư viện Việt
Nam trong 20 năm đổi mới đó?
NTNT: Sự nghiệp thư viện Việt Nam được xây dựng và phát triển ổn định,
hình thành một mạng lưới thư viện rộng khắp với nhiều hệ thống. Quy
của các thư viện được mở rộng cả về số lượng và chất lượng. nhiều thư
viện các trường đại học, viện nghiên cứu, thư viện các Bộ, ngành thư viện
cấp tỉnh đã áp dụng công nghệ thông tin vào trong hot động thư viện, đang
làm thay đổi diện mạo các thư viện Việt Nam từ thư viện truyền thống sang
thư viện hiện đại.
- Các tviện phục vụ rộng rãi các đối tượng, bám sát nhu cầu thông tin,
học tập, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân trong từng giai đoạn
phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước.
- Bng hiệu quả phục vụ xã hội, công tác thư viện ngày càng được Đảng,
Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm. Hoạt động thư viện đã được xã hội
thừa nhận và khẳng định. Nnước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm
pháp luật tạo điều kiện cho các thư viện phát triển. Nhiều chương trình cấp
Nhà nước đã đầu tư cho lĩnh vực thư viện.
- Đã hình thành một đội ngũ cán bộ làm công tác thư viện trình đ
chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm công tác, lòng nhiệt tình yêu
nghề. Công tác đào tạo cán bộ chuyên nnh được ctrọng với nhiều hình
thức: Chính quy, tại chức, đào tạo lại nhiều cấp đkhác nhau: thạc sỹ, cử
nhân, trung cấp.
- Hợp c quốc tế trong lĩnh vực thư viện ngày càng được chú trọng, mở
rộng và phát trin. Vị thế của ngành thư viện Việt Nam được khẳng định trên
trường quốc tế.
Tuy nhiên cũng còn mt số mặt hạn chế:
- Sphát triển không đồng đều giữa các mạng lưới thư viện, giữa các thư
viện trong cùng một mạng lưới, giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa
đồng bằng và miền núi. Hệ thống thư viện công cộng chưa nhiều và mạnh.
Cgần 40.000 dân mới một thư viện công cộng và cứ 4 người dân mới có
một bản sách trong thư viện. Là một nước nông nghiệp, nhưng mạng lưới thư
viện ở nông thôn còn chưa được chú trọng phát triển đúng mức.
- Nhìn chung, thư viện nước ta còn khá lạc hậu về sở vật chất trang
thiết bị, vốn sách báo lẫn phương thức hoạt động và phục vụ. Đầu tư ngân
sách cho ngành thư viện còn ít, chưa tương xng với chức năng, nhiệm vụ
được giao.
- Chất lượng đội ncán bthư viện chưa đáp ng yêu cầu phát triển thư
viện. Thiếu hụt các chuyên gia đầu ngành. Trình độ ngoại ngữ, các kiến thức
bản về tin học, về quản điều hành thư viện hiện đại còn yếu, do vậy
hạn chế khả năng tiếp cận với công nghệ mới.
- Ni dung và phương pháp giảng dạy trong các trường đào tạo người làm
công tác thư viện còn chậm đổi mới dẫn đến tình trạng đào tạo ạt, lãng phí
bậc đại học trong khi đó, đào tạo tiến sỹ đ chuyên gia đầu ngành hoặc
đào tạo trung cấp để kỹ thuật viên lành nghtrong từng khâu kỹ thuật thư
viện lại chưa được chú ý đúng mức.
- Việc tiêu chuẩn hoá thư viện (về svật chất, cán bộ, kỹ thuật…
tng loại hình, hạng thư viện), đặc biệt là sliên thông để khai thác nguồn
lực thông tin giữa các thư viện là mục tiêu yêu cầu của thư viện hiện đại gần
như chưa được thực hiện.
PV: Vậy theo bà, đầu phát triển hệ thống thư viện công cộng theo
hướng hiện đại hoá được thể hiện ra sao?