intTypePromotion=1
ADSENSE

Sự phát triển của quan điểm kiến tạo xã hội về giáo dục: Nhìn từ mối liên hệ với sự phát triển của khoa học thời kì khai sáng ở Châu Âu

Chia sẻ: Comam1902 Comam1902 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

45
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này được thực hiện cho thấy một cách tiếp cận mới về sự hình thành và phát triển của quan điểm kiến tạo xã hội dựa trên quan điểm lịch sử với hoạt động liên hệ đến sự phát triển của khoa học thời kì Khai sáng ở châu Âu. Bài viết có ý nghĩa giúp cho các nhà giáo dục trong việc nắm bắt, theo đuổi hoặc xây dựng những quan điểm giáo dục và thiết kế nên những chương trình, bài học hợp lí, qua đó thúc đẩy sự phát triển giáo dục trong thực tiễn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sự phát triển của quan điểm kiến tạo xã hội về giáo dục: Nhìn từ mối liên hệ với sự phát triển của khoa học thời kì khai sáng ở Châu Âu

HNUE JOURNAL OF SCIENCE<br /> Educational Sciences, 2018, Volume 63, Issue 5, pp. 146-152<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0071<br /> <br /> SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUAN ĐIỂM KIẾN TẠO XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC:<br /> NHÌN TỪ MỐI LIÊN HỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN<br /> CỦA KHOA HỌC THỜI KÌ KHAI SÁNG Ở CHÂU ÂU<br /> <br /> Ngô Vũ Thu Hằng<br /> Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> Tóm tắt. Quan điểm kiến tạo xã hội đã và đang được nghiên cứu, vận dụng vào trong thực tế<br /> đổi mới giáo dục ở nhà trường bậc phổ thông lẫn bậc đại học ở Việt Nam cũng như trên thế<br /> giới. Cho đến nay vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu đầy đủ về sự phát triển của quan<br /> điểm kiến tạo xã hội đặt trong mối liên hệ với sự phát triển của khoa học. Điều này khiến cho<br /> việc nhìn nhận toàn diện, thấu đáo quan điểm kiến tạo xã hội bị hạn chế. Bài viết này được<br /> thực hiện cho thấy một cách tiếp cận mới về sự hình thành và phát triển của quan điểm kiến<br /> tạo xã hội dựa trên quan điểm lịch sử với hoạt động liên hệ đến sự phát triển của khoa học<br /> thời kì Khai sáng ở châu Âu. Bài viết có ý nghĩa giúp cho các nhà giáo dục trong việc nắm bắt,<br /> theo đuổi hoặc xây dựng những quan điểm giáo dục và thiết kế nên những chương trình, bài<br /> học hợp lí, qua đó thúc đẩy sự phát triển giáo dục trong thực tiễn.<br /> Từ khóa: Kiến tạo xã hội, khoa học, dạy học, giáo dục, Khai sáng.<br /> <br /> 1. Mở đầu<br /> Quan điểm kiến tạo xã hội (KTXH) vẫn đang được nghiên cứu và vận dụng vào trong thực tế<br /> đổi mới chương trình và hoạt động dạy học (DH) tại nhà trường bậc phổ thông lẫn bậc đại học ở<br /> Việt Nam cũng như trên thế giới [1-4]. Nhiều công trình nghiên cứu trình bày quá trình phát triển<br /> của quan điểm KTXH theo chuyên ngành dọc, gắn liền với các quan điểm về hành vi, nhận thức,<br /> đặc biệt là từ quan điểm kiến tạo căn bản. Trong khi đó, khoa học (KH) cho rằng sự phát triển của<br /> bất cứ lí thuyết, KH nào cũng không thể tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội hay tư<br /> tưởng gắn liền với quan điểm triết học của người tạo ra hay người theo đuổi nó. Thế nhưng, cho<br /> đến nay vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu đầy đủ về sự phát triển của quan điểm KTXH trong<br /> mối liên hệ với sự phát triển của KH. Điều này khiến cho việc nhìn nhận toàn diện, thấu đáo quan<br /> điểm KTXH bị hạn chế, ảnh hưởng phần nào đến sự vận dụng hiệu quả quan điểm này trong thực<br /> tế DH. Trong khi đó, không khó để nhận thấy sự ra đời và phát triển của quan điểm KTXH có mối<br /> liên hệ mật thiết với sự phát triển của khoa học (KH) ở châu Âu thế kỉ XVII, XVIII. Hay nói cách<br /> khác, chính sự phát triển của KH thời kì Khai sáng ở châu Âu đã tác động rất nhiều đến việc hình<br /> thành niềm tin, tư tưởng, triết lí của các nhà KTXH tiên phong. Bài báo này được thực hiện trong<br /> nỗ lực kết nối nhằm làm rõ mối quan hệ giữa sự hình thành và phát triển của quan điểm KTXH<br /> với sự phát triển của KH trong lịch sử. Nó nhằm trả lời cho câu hỏi: Sự phát triển của khoa học ở<br /> châu Âu thế kỉ XVII, XVIII đã ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển các quan điểm KTXH<br /> như thế nào?<br /> Ngày nhận bài: 19/2/2018. Ngày sửa bài: 19/3/2018. Ngày nhận đăng: 20/4/2018.<br /> Tác giả liên hệ: Ngô Vũ Thu Hằng. Địa chỉ e-mail: hangnvt@hnue.edu.vn<br /> <br /> 146<br /> <br /> Sự phát triển của quan điểm kiến tạo xã hội về giáo dục: nhìn từ mối liên hệ với sự phát triển…<br /> <br /> Để trả lời câu hỏi đó, tác giả đã sử dụng các phương pháp hồi cứu, liên hệ, phân tích, tổng<br /> hợp dựa trên những tài liệu thu thập liên quan đến lý thuyết KTXH cũng như về sự phát triển của<br /> KH ở châu Âu thế kỉ XVII, XVIII. Cụ thể trong bài báo này, tác giả hệ thống hóa lại một số vấn<br /> đề lí thuyết của quan điểm KTXH, trình bày tổng quan về giáo dục (GD) “bản chất KH” [5], [6]<br /> theo cách tiếp cận lịch sử gắn liền với sự phát triển của KH thời kì Khai sáng ở châu Âu, qua đó<br /> tác giả làm rõ ảnh hưởng của sự phát triển KH lên sự hình thành và phát triển các quan điểm<br /> KTXH về DH. Bài báo có ý nghĩa đóng góp thêm những tri thức KH mới về mối liên hệ mật thiết<br /> giữa quan điểm KTXH về DH với sự phát triển của KH, giúp cho các nhà GD có cái nhìn thấu<br /> đáo, toàn diện và đúng đắn hơn về quan điểm KTXH để từ đó có thể có những phương hướng<br /> hành động phù hợp nhằm thúc đẩy GD trong thực tiễn.<br /> <br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Quan điểm KTXH về DH<br /> DH theo quan điểm KTXH có tính phức hợp cao. Quan điểm KTXH về hoạt động học có 5<br /> nguyên lí chính [1-3] đó là:<br /> i. Hoạt động học có tính xã hội (Learning is social): Nguyên lí này đòi hỏi học sinh (HS) học<br /> tập trong sự tương tác với giáo viên (GV) hay với bạn học gắn liền với sự tích cực chia sẻ ý kiến,<br /> tranh luận, hợp tác với nhau. Do đó, hình thức học theo nhóm được đề cao và đưa vào vận dụng.<br /> ii. Kiến thức được xây dựng dựa trên sự trải nghiệm/kinh nghiệm của người học (Knowledge<br /> is experience-based): Nguyên lí này được hiểu là kiến thức, kinh nghiệm/trải nghiệm sẵn có của<br /> người học chính là “tài nguyên” cần được khai thác và làm giàu lên qua hoạt động học, giúp thúc<br /> đẩy hoạt động học của HS. GV nên bắt đầu giờ học từ HS chứ không nên bắt đầu giờ học từ chính<br /> bản thân mình hay từ nội dung kiến thức trong sách giáo khoa với những điều xa rời đối với HS.<br /> iii. Kiến thức được kiến tạo bởi chính người học (Knowledge is constructed by learners):<br /> Nguyên lí này đòi hỏi HS cần được “nhấn chìm” vào những bối cảnh học tập có tính thực tế chứa<br /> đựng vấn đề cần được giải quyết, ở đó HS có thể đào sâu, lí giải lại những trải nghiệm, kiến thức<br /> của mình, kiểm tra sự lí giải ấy thông qua các hoạt động thực hành, thảo luận, tranh luận để từ đó<br /> tự mình đi đến được nội dung, ý nghĩa bài học.<br /> iv. Tất cả các khía cạnh của con người đều được kết nối với nhau trong hoạt động học (All<br /> aspects of a person are connected): Nguyên lí này đòi hỏi thái độ, cảm xúc, giá trị, hành động của<br /> HS cần được kết nối với nhau để thúc đẩy hoạt động học. HS được phép, được khuyến khích bày<br /> tỏ những thái độ, cảm xúc mang tính cá nhân con người khi tham gia học tập, đặc biệt là những<br /> thái độ tích cực như tò mò, hứng thú, hoài nghi…<br /> v. Các cộng đồng học tập nên tham gia và bình đẳng với nhau (Learning communities should<br /> be inclusive and equitable): Nguyên lí này đòi hỏi những cộng đồng học tập ngoài nhà trường như<br /> gia đình, nhà máy, xí nghiệp, câu lạc bộ… đều cần thiết tham gia để thúc đẩy hoạt động học của<br /> HS và chúng bình đẳng với nhau trong vai trò đó. Nguyên lí này hướng đến mối quan hệ dân chủ,<br /> bình đẳng trong giao tiếp trên lớp giữa GV và HS, giữa HS với HS.<br /> Kể từ khi ra đời, quan điểm KTXH đã tạo ra một làn sóng về sự đổi mới trong cách tiếp cận<br /> GD, DH. Những năm 80 của thế kỉ XX đã chứng kiến sự bùng nổ các cuộc cải cách GD diễn ra<br /> trên khắp thế giới mà ở đó quan điểm KTXH và tư tưởng DH lấy HS làm trung tâm được coi như<br /> “thần chú” [7]. Một chuỗi sự thay đổi trong hoạt động DH đã diễn ra, cụ thể là: chuyển từ cách<br /> tiếp cận theo lí thuyết hành vi sang cách tiếp cận theo lí thuyết nhận thức, từ hoạt động tái hiện (để<br /> truyền thụ thông tin) sang tổng hợp (để kiến tạo tri thức), và từ logic đường thẳng sang logic<br /> không thẳng hàng, logic mạng lưới, từ lối DH ghi chép sang lối học trải nghiệm, khám phá gắn<br /> liền với tình huống, bối cảnh cụ thể. Sự vận dụng quan điểm KTXH đã góp phần vào việc bẻ gẫy<br /> ranh rới cơ học giữa các môn học với sự phát triển của của hoạt động học dựa vào dự án, hoạt<br /> 147<br /> <br /> Ngô Vũ Thu Hằng<br /> <br /> động học gắn liền với đời sống, thế giới thực tiễn với các đánh giá có tính thực tế cao. DH theo lối<br /> KTXH được ghi nhận là mang đến cho HS những giờ học thú vị, sôi nổi và bổ ích [1]. Ở đó, các<br /> em được tham gia vào một môi trường học tập tự do, cởi mở hơn, được mạnh dạn thể hiện những<br /> ý kiến, quan điểm cá nhân cùng với việc tham gia vào những hoạt động thực hành hấp dẫn. HS do<br /> đó không chỉ được phát triển về kiến thức mà còn về cả những kĩ năng, thái độ tích cực. Nhờ vậy,<br /> HS được phát triển một cách toàn diện hơn về phẩm chất, năng lực mang tính cá nhân con người.<br /> <br /> 2.2. Quan điểm KTXH và quan niệm GD về bản chất của KH<br /> Một điều dễ dàng nhận thấy đó là quan điểm KTXH về DH thống nhất với quan niệm về GD<br /> “bản chất KH”, ở đó hoạt động DH dựa trên tìm tòi, khám phá (inquiry-based learning) được nhấn<br /> mạnh cần thực hiện để GD KH cho HS [8], [9]. Những quan niệm về GD “bản chất KH” được<br /> hình thành dựa trên sự phê phán hoạt động GD KH thiên về lí thuyết vốn chỉ nhằm cung cấp cho<br /> HS kiến thức dữ kiện KH một cách rời rạc, khô cứng, thiếu tính liên hệ, vận dụng, HS học bằng<br /> cách ghi nhớ là chính, dễ làm cho HS cảm thấy chán và sợ học KH. Tri thức về GD “bản chất<br /> KH” được phát triển dựa trên sự nhìn nhận lại về hoạt động KH đúng đắn [6]. Những năm 1960<br /> được cho là đã chứng kiến sự nhấn mạnh việc đưa các hoạt động tìm tòi khám phá, những kĩ năng<br /> mang tính quy trình KH vào nhằm GD KH cho HS ở trường phổ thông, vốn đang bị thống trị bởi<br /> các hoạt động DH theo kiểu kinh viện, gắn liền với lối DH thầy nói, trò nghe, thầy đọc, trò chép,<br /> thầy truyền thụ, trò ghi nhớ. Đến những năm 1970, các quan điểm về bản chất của KH đã trở nên<br /> rõ ràng. Tri thức KH được hiểu không phải chỉ là những kiến thức KH rời rạc, tuyệt đối đúng. Tri<br /> thức KH được mô tả có tính tương đối và có thể bị thay thế; Trong trường hợp này là đúng nhưng<br /> trong trường hợp khác có thể là không đúng, lúc này là đúng nhưng lúc khác chưa chắc đã đúng.<br /> Tri thức KH có tính thực tế, thăm dò, và phát triển, gắn liền với sự phát triển của lịch sử. Các nhà<br /> KH nhấn mạnh chủ nghĩa hoài nghi, các hoạt động giao tiếp mở cũng như những tương tác giữa<br /> các niềm tin vốn có tính cá nhân, xã hội, văn hóa trong việc hình thành kiến thức [4]. GD bản chất<br /> KH, do đó, khuyến khích các hoạt động thực hành, thực nghiệm kiểm tra bên cạnh những hoạt<br /> động tổng hợp, phân tích, tranh luận trong việc tạo nên những tri thức khoa học hợp lí, mang tính<br /> thuyết phục. Quan điểm này được thể hiện rõ trong cuốn sách “Khoa học Nghệ thuật Tự do” [10].<br /> Theo đó, hoạt động DH KH được cho là cần phải khai thác mối quan hệ tương hỗ giữa KH và các<br /> hoạt động văn hóa, trí tuệ con người mà ở đó khoa học vốn không thể tách rời.<br /> <br /> 2.3. Sự phát triển của KH thời kì Khai sáng ở châu Âu<br /> Nhìn rộng ra sẽ thấy sự phát triển của quan điểm KTXH và tri thức về GD bản chất KH nằm<br /> trong sự phát triển của KH. Về điều này, Michael Matthews, một nhà nghiên cứu KH GD đương<br /> thời, khẳng định giá trị và vai trò của thời kì Khai sáng ở châu Âu đối với sự phát triển của KH<br /> hiện đại và ông cho đó chính là triết học mới [11]. Theo ông, thời kì Khai sáng đã thay đổi nhiều<br /> quan điểm triết học và cuộc Cách mạng KH chính là hạt giống làm nảy mầm cây Khai sáng.<br /> Những thành tựu của cuộc Cuộc Cách mạng KH thế kỉ 17 trong nhiều lĩnh vực như giải phẫu,<br /> thiên văn, cơ khí, thủy lực, khí lực, và quang học đều đã được thừa nhận rõ ràng. Các nhà triết học<br /> tự nhiên, cũng như nhiều triết gia và học giả khác, ngay lập tức đã liên hệ lại một cách hệ thống<br /> những quy trình hay phương pháp được sử dụng bởi Copernicus, Kepler, Galileo, Pascal, Huygens<br /> hay Newton trong hoạt động khám phá KH của họ. Một câu hỏi lớn được đặt ra là: Các nhà triết<br /> học tự nhiên mới đã làm gì khác với những nhà triết học thời trung cổ hay những người theo<br /> trường phái Aristotle? Điều này dẫn đến những câu hỏi quan trọng về quy trình thực hiện được áp<br /> dụng trong các KH mới. Thêm nữa, một số triết gia cố gắng xác định những bối cảnh xã hội bên<br /> ngoài đã cho phép và thúc đẩy sự ra đời của KH mới cùng với những khám phá có ảnh hưởng<br /> rộng rãi. Nhiều người đã tự hỏi: Những bối cảnh xã hội, văn hóa, pháp lí hay giáo dục nào đã<br /> thúc đẩy sự thực hành các KH mới và ngược lại, có những nhân tố như thế không ngăn chặn sự<br /> phát triển và lan tỏa của các khoa học mới và phương pháp thực hiện chúng?. Trong quá trình đi<br /> 148<br /> <br /> Sự phát triển của quan điểm kiến tạo xã hội về giáo dục: nhìn từ mối liên hệ với sự phát triển…<br /> <br /> tìm câu trả lời, các nhà KH đã nhận thấy các KH mới đều được thực hiện bởi hệ phương pháp mới,<br /> và họ gọi đó là sự đổi mới phương pháp của cuộc Cách mạng KH. Các phương pháp này được cho<br /> là được khởi đầu bởi Galileo và thực hiện tốt bởi Newton. Theo Michael Matthews [11], chúng<br /> bao gồm:<br /> - Phương pháp thí nghiệm. Chủ trương không “quấy rầy” tự nhiên nếu muốn hiểu tự nhiên<br /> của những người theo trường phái Aristotle bị bác bỏ đầu tiên bởi Galileo, với thí nghiệm mặt<br /> phẳng nghiêng nổi tiếng của ông nhằm tìm hiểu về hiện tượng rơi tự do. Về sau, phương pháp này<br /> được các nhà KH khác tiếp tục phát huy, sử dụng.<br /> - Phương pháp lí tưởng hóa. Galileo là người đầu tiên xây dựng phương pháp lí tưởng hóa<br /> vào trong hoạt động tìm hiểu tự nhiên, và đây là điều giúp cho KH của ông ấy nổi lên. Galileo đã<br /> nhận ra rằng các định luật tự nhiên không được tìm thấy trong tự nhiên; chúng không được đưa ra<br /> trong những trải nghiệm tức thời. Những định luật đó chỉ có thể vận dụng được vào trong những<br /> hoàn cảnh nhất định (lí tưởng hóa). Phương pháp lí tưởng hóa cũng trái ngược với cách thực hiện<br /> KH theo trường phái thực nghiệm Aristotle, ở đó KH là về thế giới chỉ thông qua những gì được<br /> nhìn thấy và trải nghiệm.<br /> - Phương pháp toán học. Trái ngược với những người theo trường phái Aristotle, Galileo<br /> đã vận dụng các tri thức toán học vào trong KH hay triết học về tự nhiên của mình. Ông sử dụng<br /> phép suy luận của toán trong việc mô tả và phân tích các vấn đề hay sử dụng hình học trong quá<br /> trình tìm hiểu về cơ khí. Mặc dù có sự kết hợp sử dụng các kiến thức KH khác nhau (chủ yếu là<br /> quang học và thiên văn), những người theo trường phái Aristotle không tin rằng có thể sử dụng<br /> toán học vào việc tìm hiểu tự nhiên.<br /> Sự thay đổi phương pháp luận được khởi đầu bằng cuộc Cách mạng KH đã sản sinh ra Triết<br /> học Hiện đại Ban đầu (Early Modern Philosophy), một sự chuyển động trí tuệ đi ngược lại với<br /> triết học kinh viện vốn thống trị ở châu Âu một thời. Những nhà triết học hiện đại ban đầu như<br /> Bacon, Hobbes, Locke, Hume, Leibniz, và Kant đã nuôi dưỡng và phát triển các quan điểm triết<br /> học của họ trong ánh sáng của nền KH mới. Triết học mới tràn ngập những tìm hiểu về nguyên tử,<br /> cơ khí, và mang tính thực tế. Cách nhìn nhận mới về thế giới mang tính duy vật nhiều hơn, do đó,<br /> không còn chỗ cho mối quan tâm về những thực thể mà những người theo trường phái Aristotle sử<br /> dụng để giải thích các hiện tượng trong thế giới hay sự tồn tại của thế giới như vật chất siêu hình,<br /> bản chất, các dạng tồn tại, chất và lượng, căn nguyên… Những điều này nói lên rằng trong triết<br /> học mới, những câu hỏi Tại sao (thuộc dạng mục đích luận) đã bị thay thế bằng câu hỏi Như thế<br /> nào (thuộc dạng mô tả).<br /> Triết học mới cho thấy rõ về sự phát triển của khoa học, là một cú giáng mạnh vào triết học<br /> kinh viện bênh vực cho thần học vốn thống trị hàng nghìn năm ở châu Âu, được o bế và duy trì<br /> bởi quyền uy của nhà thờ Thiên Chúa giáo, đặc biệt trong thời kì thời trung thế kỉ. Triết học kinh<br /> viện thường dùng những phương pháp cực kì rắc rối để luận chứng cho sự tồn tại của thế giới –<br /> vốn được hiểu là sản phẩm của thần linh, luận chứng cho sự chính xác của các giáo điều tôn giáo.<br /> Tư tưởng này làm cho con người xa rời tự nhiên, xa rời KH, bịt chặt con đường nhận thức tự<br /> nhiên của con người. Triết học kinh viện được cho là chịu nhiều ảnh hưởng của Aristotle với<br /> những quan điểm cao siêu và đã khiến cho nhiều nhà khoa học, đặc biệt là những nhà khoa học<br /> thực nghiệm cảm thấy tù túng và có hại. Francis Bacon (1561 – 1626) cho rằng triết học kinh viện<br /> không mang thai sinh đẻ được, chỉ có thể đẻ ra sự tranh luận chát ngắt, lằng nhằng, không đem lại<br /> con người kiến thức KH. Ông cho rằng triết học chân chính phải cung cấp những phát hiện mới<br /> cho mọi người và con người muốn chế ngự được tự nhiên hay thế giới thì phải nắm được tri thức<br /> KH. Ông cũng cho rằng chỉ có trải qua thực nghiệm KH mới có được tri thức chân chính [12].<br /> <br /> 149<br /> <br /> Ngô Vũ Thu Hằng<br /> <br /> 2.4. Sự ảnh hưởng của KH thời kì Khai sáng tới các nhà KTXH<br /> KH, hay chính là triết học mới với tính duy vật và thực tế cao phát triển ở thế kỉ 17, 18 đã<br /> ảnh hưởng nhiều đến sự hình thành tư tưởng, quan điểm của các nhà KTXH tiên phong, đặc biệt<br /> là tới Lev Vygotski được coi là người có quan điểm triết học duy vật Marxism, và John Dewey –<br /> nhà triết học theo chủ nghĩa thực dụng. Vygotsky [13] ủng hộ quan điểm vật chất quyết định ý<br /> thức. Ông coi trọng vai trò, ý nghĩa to lớn của ngôn ngữ và môi trường văn hóa xã hội trong sự<br /> phát triển nhận thức và tư duy của trẻ em. Đây chính là tiền đề cho các nhà KTXH kêu gọi việc<br /> thúc đẩy hoạt động tương tác sư phạm trong DH [14], [15].<br /> Quan điểm GD của Vygotsky [15] thống nhất với quan điểm dân chủ về GD của John Dewey<br /> [15]. Dewey cho rằng thời đại mới hầu như là hệ quả của KH tự nhiên ra đời vào thế kỷ 16, 17<br /> gắn với tên tuổi của Galileo và Newton. Có thể nói, KH và dân chủ là hai nội dung lớn nhất có<br /> mối quan hệ biện chứng với nhau bao trùm trong triết lý GD thể hiện rõ quan điểm KTXH của<br /> John Dewey.<br /> Dewey khẳng định ứng dụng của KH tự nhiên đã làm thay đổi hoàn toàn cung cách sống và<br /> những mối quan hệ giữa con người. Với Dewey, triết học không phải là để giải thích “tồn tại”,<br /> “thực tại” là gì. Ông cho rằng triết học phải giải quyết những vấn đề nằm trong các mối quan hệ<br /> của con người. Ông thừa nhận không có chân lý tuyệt đối và khẳng định tri thức hoặc chân lý<br /> tuyệt đối đều bị giới hạn trong các giải pháp cho các vấn đề cụ thể. Dewey cho rằng sự hiểu biết<br /> của con người phải xuất phát từ kinh nghiệm và kinh nghiệm chính là quá trình tương tác giữa con<br /> người và môi trường. Quá trình tương tác làm nảy sinh vấn đề, đòi hỏi con người cần có giải pháp<br /> để giải quyết. Điều này giúp con người phát triển tư duy. Tư duy như vậy được hiểu là tư duy KH<br /> gắn với thực nghiệm, hay khoa học cần gắn liền với thực tế, ứng dụng. Dewey đã đối lập triết học<br /> GD của ông với GD của nhà trường truyền thống mà ông phê phán có nhiều điểm lạc hậu: chủ yếu<br /> mang tính chất tĩnh về nội dung, độc đoán về phương pháp, và trẻ em chủ yếu là thụ động và tiếp<br /> nhận. Trong triết lí GD của Dewey, có hai yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau được nhấn mạnh ảnh<br /> hưởng nhiều đến chất lượng GD: đó là yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường xã hội. Dewey cho<br /> rằng mục tiêu của GD là phát triển tối đa những tiềm năng cá nhân và quá trình GD là quá trình<br /> hoạt động của con người trong một xã hội. Những quan điểm này hoàn toàn thống nhất với quan<br /> điểm của Vygotsky về vai trò của các yếu tố văn hóa, xã hội trong việc GD, phát triển nhận thức<br /> cho HS.<br /> Với Dewey, trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con các bài học kiến<br /> thức và bài học luân lý, DH không phải là việc thầy nói, trò nghe mà là quá trình kiến tạo tri thức,<br /> ở đó HS là trung tâm của hoạt động diễn ra trên lớp. GD là một hoạt động của đời sống, là bản<br /> thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ<br /> hồ nào đấy. Không có nội dung hoặc giá trị tự thân tuyệt đối nào từ bên ngoài được mang áp đặt<br /> cho học sinh. Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của<br /> trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức<br /> thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, thông qua “trải nghiệm” của chính bản thân.<br /> Nói tóm lại, quan điểm KTXH ra đời và phát triển là hệ quả của sự phát triển KH mà trực tiếp<br /> đó chính là KH tự nhiên thời kì Khai sáng ở châu Âu. Nó thể hiện rõ ràng các quan điểm của triết<br /> học mới. Khác với triết học cũ quan tâm nhiều đến các vấn đề thuộc bản thể luận, triết học mới<br /> quan tâm nhiều hơn về các vấn đề thuộc nhận thức luận gắn liền với hoạt động khám phá thế giới.<br /> Quan điểm KTXH về GD được hình thành và phát triển gắn liền với các câu hỏi như Con người<br /> nghĩ như thế nào? Con người làm như thế nào? Con người học như thế nào? Những câu hỏi cốt<br /> lõi của quan điểm KTXH đã cho thấy rõ tính “động” trong cách tiếp cận vấn đề hay trong các hoạt<br /> động GD mà nó hướng đến. Cách tiếp cận này khác với những cách tiếp cận truyền thống chỉ<br /> thuần túy tập trung vào những nội dung tĩnh tại, gắn với các câu hỏi như Nó là cái gì?. Sự phát<br /> 150<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2