intTypePromotion=3

Thiết kế chế tạo thiết bị thí nghiệm kiểm tra đặc tính ma sát và độ chịu mài mòn của lớp bề mặt

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
32
lượt xem
2
download

Thiết kế chế tạo thiết bị thí nghiệm kiểm tra đặc tính ma sát và độ chịu mài mòn của lớp bề mặt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc kiểm tra đánh giá chất lượng và tính chất các lớp bề mặt đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi công nghệ phủ tăng bền bề mặt ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Bài báo này trình bày về một nghiên cứu chế tạo thiết bị kiểm tra đặc tính ma sát và mòn lớp bề mặt Pin-on-dics (POD). Loại thiết bị chế tạo ra có cấu tạo và nguyên lý vận hành đơn giản, đáp ứng được yêu cầu đánh giá khả năng chống mòn và đặc tính ma sát của các bề mặt vật liệu, đặc biệt máy rất thích hợp trong việc kiểm tra các lớp vật liệu bề mặt rất mỏng như các lớp phủ với chiều dày chỉ vài nanomet.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thiết kế chế tạo thiết bị thí nghiệm kiểm tra đặc tính ma sát và độ chịu mài mòn của lớp bề mặt

Nguyễn Thị Quốc Dung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 118(04): 29 - 36<br /> <br /> THIẾT KẾ CHẾ TẠO THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM KIỂM TRA ĐẶC TÍNH MA SÁT<br /> VÀ ĐỘ CHỊU MÀI MÒN CỦA LỚP BỀ MẶT<br /> Nguyễn Thị Quốc Dung*, Lý Việt Anh, Lê Văn Nhất, Nguyễn Đình An<br /> Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Việc kiểm tra đánh giá chất lượng và tính chất các lớp bề mặt đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi<br /> công nghệ phủ tăng bền bề mặt ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Bài báo này trình bày về một<br /> nghiên cứu chế tạo thiết bị kiểm tra đặc tính ma sát và mòn lớp bề mặt Pin-on-dics (POD). Loại<br /> thiết bị chế tạo ra có cấu tạo và nguyên lý vận hành đơn giản, đáp ứng được yêu cầu đánh giá khả<br /> năng chống mòn và đặc tính ma sát của các bề mặt vật liệu, đặc biệt máy rất thích hợp trong việc<br /> kiểm tra các lớp vật liệu bề mặt rất mỏng như các lớp phủ với chiều dày chỉ vài nanomet.<br /> Từ khóa: POD, độ mòn, khả năng chịu mòn, hệ số ma sát, lớp mạ.<br /> <br /> GIỚI THIỆU*<br /> Các bề mặt với yêu cầu có độ bền cao và khả<br /> năng chống mòn tốt ngày càng được sử dụng<br /> nhiều trong kỹ thuật. Đặc biệt với công nghệ<br /> phủ như phủ bay hơi; thấm Ni-tơ; mạ đơn<br /> chất; mạ tổ hợp và mạ composite, đã tạo ra<br /> một bước tiến vượt bậc về việc tăng tuổi thọ<br /> và độ bền của các chi tiết làm việc trong các<br /> điều kiện chịu mài mòn như các loại dụng cụ<br /> cắt kim loại, các chi tiết quan trọng như xilanh, pit-tông sử dụng trong động cơ máy<br /> bay, xe đua [1]…<br /> Việc kiểm tra đánh giá tính chất ma sát và khả<br /> năng chống mòn của các lớp bề mặt đóng vài<br /> trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các lớp<br /> phủ có chiều dày chỉ vài nanomet sẽ góp phần<br /> cải tiến công nghệ bề mặt cũng như tạo ra các<br /> chi tiết có khả năng đáp ứng các yêu cầu cao<br /> về độ chịu mài mòn, tăng tuổi thọ chi tiết trong<br /> những điều kiện làm việc khắc nghiệt [1].<br /> Trước kia các thiết bị kiểm tra tính chất ma sát<br /> và độ chịu mài mòn của bề mặt vật liệu tiếp<br /> xúc thường làm việc theo nguyên tắc kiểm tra<br /> từng thông số đơn lẻ. Tức là trên một thiết bị<br /> chỉ kiểm tra được một thông số ví dụ như độ<br /> mòn hoặc là hệ số ma sát,… Có thể liệt kê như<br /> các máy giúp tính toán hệ số ma sát trên<br /> nguyên lý mặt phẳng nghiêng hay nguyên lý<br /> lực kéo chớm trượt trên mặt phẳng ngang [7]<br /> hay các máy đo độ mòn đơn giản dựa trên<br /> *<br /> <br /> Tel: 0915308818; Email: quocdungktcn@yahoo.com.vn<br /> <br /> nguyên lý đo độ dày mất mát của vật liệu [8].<br /> Dẫn tới số lượng thí nghiệm phải làm rất<br /> nhiều, cần nhiều loại thiết bị thí nghiệm khác<br /> nhau, số mẫu cần sử dụng cũng rất lớn, và<br /> quan trọng nhất là khó có thể đánh giá được<br /> mức độ ảnh hưởng của các thông số đến nhau.<br /> Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các<br /> thiết bị được sử dụng để xác định hệ số ma sát<br /> và khả năng chịu mòn của vật liệu hiện nay đã<br /> có những bước cải tiến rõ rệt. Chỉ bằng một<br /> lần chạy máy, các thông số từ hệ số ma sát,<br /> lượng mòn, khả năng chịu mòn, đặc biệt ảnh<br /> hưởng của các nhân tố đến các thông số này<br /> như độ ẩm môi trường, vận tốc ma sát giữa<br /> hai bề mặt, nhiệt độ bề mặt… hoàn toàn có<br /> thể xác định được trên các phần mềm của<br /> máy [6,7]. Tuy nhiên do phải tích hợp các<br /> thiết bị kèm theo để tính toán và xác định giá<br /> trị các nhân tố nên giá thành của các máy này<br /> tăng lên rất cao; tham khảo của một số hãng<br /> chuyên sản xuất máy như: máy CH-2034<br /> Peseux của hãng Miktech (Switzerland)<br /> (8000€); máy Falex ISC-200PC của hãng<br /> Falex (Mỹ) hawei (12.000€) [4].<br /> Qua tham khảo các tài liệu trên thế giới,<br /> nhóm tác giả nhận thấy các máy kiểm tra về<br /> các thông số ma sát nêu trên phần lớn hoạt<br /> động dựa trên nguyên lý tính toán ma sát tiếp<br /> xúc giữa một đĩa quay với bề mặt các chi tiết<br /> khác, chúng được gọi chung là máy Pin-ondisc machines (máy chốt quay trên đĩa) gọi<br /> tắt là máy POD [5,6,7,8].<br /> 29<br /> <br /> Nguyễn Thị Quốc Dung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Từ điều kiện sản xuất sẵn có, một loại thiết bị<br /> kiểm tra đánh giá tính chất ma sát và khả<br /> năng chống mòn của các lớp bề mặt, POD có<br /> giá thành thấp kết cấu đơn giản phù hợp với<br /> kiện sản xuất trong nước đã được nghiên cứu<br /> và chế tạo. Các kết quả thử nghiệm cho thấy<br /> máy POD thiết kế đáp ứng được yêu cầu cần<br /> thiết như giá thành rẻ, hoạt động tin cậy với<br /> nguyên lý vận hành máy đơn giản, dễ dàng<br /> thay đổi các thông số đầu vào để kiểm tra tính<br /> chất bề mặt trong những điều kiện khác nhau,<br /> đã giúp cho các kết quả đánh giá được đầy đủ<br /> và chính xác hơn.<br /> THIẾT KẾ MÁY PIN-ON-DISC (POD)<br /> Sơ đồ nguyên lý<br /> 650<br /> <br /> A<br /> <br /> Ptd<br /> <br /> 200<br /> <br /> B<br /> <br /> 550<br /> <br /> 220<br /> <br /> 5<br /> 4<br /> 2<br /> <br /> Ptt<br /> <br /> 1<br /> A<br /> <br /> 118(04): 29 - 36<br /> <br /> sát được tạo ra nhờ tải trọng đặt lên tay đòn<br /> (5). Trên tay đòn (5) có gia công một rãnh<br /> trượt để chốt (1) và bộ phận mang chốt (4) có<br /> thể dịch chuyển dọc theo tay đòn trong<br /> khoảng 15mm.<br /> Để xác định lượng mòn của cặp vật liệu chốt<br /> và đĩa sẽ được cân trước khi lắp vào máy. Xác<br /> định tải trọng treo trên tay đòn sau đó tính<br /> toán ra phản lực liên kết trên hai bề mặt tiếp<br /> xúc. Sau khoảng chu kỳ xác định (theo thời<br /> gian hoặc số vòng quay của máy) chốt và đĩa<br /> được tháo ra cân lại. Tiến hành thí nghiệm<br /> sau nhiều lần sẽ xác định được biểu đồ lượng<br /> mòn của vật liệu. Quá trình này được trình<br /> bày rõ rằng ở phần tiến hành thí nghiệm.<br /> Tính chất ma sát giữa hai bề mặt mà đặc<br /> trưng bởi hệ số ma sát của cặp vật liệu sẽ<br /> được xác định thông qua lực ma sát nhờ<br /> Sensor đo lực gắn trên khớp nối giữa động cơ<br /> và trục mang đĩa. Sensor được sử dụng là loại<br /> Sensor điện áp nối trực tiếp với Vôn-kế. Từ giá<br /> trị điện áp người tiến hành thí nghiệm sẽ tính<br /> toán ra lực ma sát mà chốt tác dụng lên đĩa. Tỉ<br /> số giữa lực ma sát và lực tác dụng của chốt lên<br /> đĩa sẽ biểu thị hệ số ma sát của hai bề mặt.<br /> <br /> 3<br /> <br /> B<br /> <br /> 700<br /> <br /> (1: chốt; 2:đĩa; 3:động cơ; 4:bộ phận mang chốt;<br /> 5:tay đòn)<br /> Hình 1. Sơ đồ nguyên lý máy POD<br /> <br /> Máy POD làm việc trên nguyên lý tạo ma sát<br /> trượt giữa bề mặt chốt và đĩa như hình 1. Bộ<br /> phận chủ yếu là một đĩa quay (disc) (2) được<br /> gắn với động cơ điện (3), đĩa được gắn chặt<br /> trên động cơ nhờ 1 bu-lông có ren trái để khi<br /> động cơ quay đĩa không bị văng ra ngoài, trên<br /> đĩa là chốt (pin) (1). Chốt (1) được kẹp chặt<br /> trên bộ phận mang chốt (4) một vít. Chốt và<br /> đĩa có thể thay thế một cách dễ dàng để có thể<br /> tạo ra các bề mặt ma sát của các loại vật liệu<br /> khác nhau. Áp lực tác dụng trên bề mặt ma<br /> 30<br /> <br /> Hình 2. Sơ đồ nguyên lý đo Fms<br /> <br /> Lực ma sát: FCoF = Fms = FT<br /> Lực FT được xác định thông qua cảm biến<br /> (sensor) điện áp.<br /> N: là tải trọng tác dụng của chốt lên đĩa. Sau<br /> khi xác định được N thông qua vật nặng treo<br /> trên tay đòn.<br /> F<br /> Hệ số ma sát của cặp vật liệu µ ⇒ µ = ms<br /> N<br /> Mô men xoắn trên trục động cơ: T = FT . r<br /> Công suất trên trục động cơ: P = T.ω<br /> <br /> Nguyễn Thị Quốc Dung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Xác định trọng lượng đối trọng, tải trọng<br /> đặt lên tay đòn<br /> Xác định trọng lượng đối trọng<br /> Tay đòn luôn nằm ở vị trí cân bằng khi không<br /> treo tải trọng. Tuy nhiên bản thân tay đòn(5)<br /> và của bộ phận mang chốt (số (1) và (4) trên<br /> sơ đồ nguyên lý hình 1) đều có trọng lượng<br /> nên chúng sẽ tác dụng áp lực phụ lên điểm<br /> tiếp xúc giữa đĩa và chốt, gây sai lệch trong<br /> quá trình tính toán. Để khử ảnh hưởng của các<br /> khối lượng này một đối trọng sẽ được treo<br /> vào đầu bên trái của chốt quay. Dựa vào kích<br /> thước, vật liệu của tay đòn và bộ phận mang<br /> chốt có thể xác định được trọng lượng đối<br /> trọng cần đặt vào tay đòn ký hiệu là Pdt theo<br /> sơ đồ chịu lực của tay đòn dưới đây.<br /> x<br /> <br /> Pdt<br /> A<br /> c<br /> <br /> q.c (N)<br /> <br /> YB<br /> B<br /> <br /> XB = 0<br /> <br /> D<br /> <br /> C<br /> b<br /> <br /> a<br /> <br /> q.(a+b) (N)<br /> Q(N)<br /> N = 0(N)<br /> <br /> Hình 3. Sơ đồ chịu lực của tay đòn<br /> <br /> Chọn vật liệu chế tạo tay đòn được làm bằng<br /> thép hộp có kích thước mặt cắt ngang bxh có<br /> độ dày e, ứng suất uốn cho phép [σu]. Dựa<br /> vào vật liệu và kích thước của tay đòn, và giả<br /> thiết là trọng lượng của tay đòn phân bố đều,<br /> ta tính được trọng lượng của tay đòn phần<br /> phía bên trái và bên phải khớp quay B lần<br /> lượt là q.c(N) và q.(a+b)(N). Chiều dài tay<br /> đòn phía bên trái khớp B là c mm, và bên phải<br /> là (a+b) mm. q là tải trọng phân bố có đơn vị<br /> N/mm, khoảng cách từ chốt quay B đến bộ<br /> phận mang chốt là a; hình vẽ 3.<br /> Bộ phận mang chốt (4) được chế tạo bằng<br /> thép CT3 chốt (1) trong thí nghiệm là thép<br /> hợp kim 09CrSi, có trọng lượng là Q(N) tác<br /> dụng theo phương thẳng đứng dọc theo<br /> phương của chốt. Như vậy, giả sử trong thời<br /> điểm hiện tại, bộ phận mang chốt đang nằm<br /> tại vị trí cách khớp quay B một đoạn là a thì<br /> đối trọng cần đặt lên đầu trái của tay đòn cách<br /> khớp B một đoạn x sẽ có trọng lượng Pđt được<br /> xác định theo công thức sau:<br /> <br /> Q ( N ).a + q.<br /> <br /> Pdt =<br /> <br /> 118(04): 29 - 36<br /> <br /> (a + b) 2<br /> c2<br /> ( N ) − q. ( N )<br /> 2<br /> 2<br /> (1)<br /> x<br /> <br /> Như vậy khi xác định được vị trí của chốt a<br /> và vị trí treo đối trọng x ta sẽ xác định được<br /> trọng lượng đối trọng.<br /> Xác định trọng lượng tải trọng<br /> Ptt<br /> <br /> YB<br /> A<br /> <br /> Ptd<br /> C<br /> <br /> B<br /> XB = 0<br /> <br /> c<br /> <br /> a<br /> <br /> D<br /> b<br /> <br /> Hình 4. Sơ đồ tính lực tác dụng lên đĩa<br /> <br /> Sau khi treo đối trọng lực tác dụng từ chốt lên<br /> đĩa ≈ 0N. Tải trọng tác dụng lên tay đòn được<br /> xác định dựa trên yêu cầu áp lực tác dụng bề<br /> mặt ma sát. Với sơ đồ chịu lực của tay đòn<br /> như trên hình 3, với áp lực trên bề mặt ma sát<br /> là Ptd thì tải trọng cần tác dụng lên tay đòn Ptt<br /> được xác định theo công thức:<br /> P .a<br /> Ptt = td (2)<br /> a+b<br /> Kiểm tra bền cho tay đòn<br /> Trong thực tế chế tạo nhóm thiết kế chọn vật<br /> liệu chế tạo tay đòn là thép hộp 25x50 có độ<br /> dày 4,83 mm ứng suất cho phép của thép hộp<br /> [σu] = 30N/mm2.<br /> Trong điều kiện tính toán bền, giả sử tải trọng<br /> và đối trọng được treo tại hai điểm ngoài cùng<br /> của tay đòn. Kích thước a = 200 mm, b = 350<br /> mm, c = 100mm. Qua công thức (1) và (2) ta<br /> xác định được Pdt = 18N và Ptt = 3,65N.<br /> Pdt = 18N<br /> <br /> Ptt =3,65N<br /> <br /> YB<br /> Ptd = 10N<br /> <br /> B<br /> <br /> A<br /> <br /> C<br /> <br /> XB = 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 200<br /> <br /> D<br /> 350<br /> <br /> 275<br /> 50<br /> <br /> 0,9 N.m<br /> <br /> 0,55 N<br /> <br /> 1,23 N.m<br /> <br /> 3 N1,01 N.m<br /> <br /> 1,08 N.m<br /> <br /> Hình 5. Sơ đồ tính bền cho tay đòn<br /> <br /> Với lực tác dụng từ chốt lên đĩa Ptd = 10N<br /> Mô-men lớn nhất tác dụng lên tay đòn là 1,23<br /> 31<br /> <br /> Nguyễn Thị Quốc Dung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> N.m. Như vậy với ứng suất uốn cho phép của<br /> tay đòn [σu] = 30N/mm2 Mômen uốn lớn nhất<br /> tay đòn xác định theo công thức:<br /> <br /> M x = [σ ] .Wx (3)<br /> Jx =<br /> <br /> h.b3 − h1.b13<br /> (4)<br /> 12<br /> <br /> 118(04): 29 - 36<br /> <br /> Dạng sản xuất của máy là dạng sản xuất loạt<br /> nhỏ, đơn chiếc, gia công theo phương pháp<br /> tập trung nguyên công. Ví dụng chi tiết chốt<br /> số (1) gồm 5 nguyên công, chi tiết đĩa số (2)<br /> có 6 nguyên công.<br /> <br /> y<br /> <br /> x<br /> <br /> h<br /> <br /> h1<br /> <br /> b<br /> <br /> b1<br /> <br /> Hình 7. Máy POD được chế tạo<br /> <br /> Chiều dày mặt cắt ngang tay đòn là 4,83mm<br /> do đó Jx tính theo công thức (4) sẽ là:<br /> <br /> Động cơ có tốc độ 1450 v/p, công suất 200W<br /> đảm bảo tạo được tốc độ quay và mô men<br /> xoắn trên đĩa thỏa mãn áp lực lớn nhất 96N.<br /> Tấm lực kế (Sensor) 1050C dán trên trục<br /> động cơ sẽ chỉ ra giá trị điên áp qua đó ta tính<br /> được giá trị của lực ma sát giữa chốt và đĩa.<br /> Lượng mòn của vật liệu được xác định dựa<br /> vào lượng vật liệu mất mát sau mỗi chu kỳ.<br /> Lượng vật liệu mất mát được xác định bằng<br /> cách cân các mẫu sau các chu kỳ này.<br /> <br /> Ptt .550<br /> = 96( N )(9)<br /> 200<br /> Do vậy tải trọng tối đa của tải trọng treo trên<br /> thanh là 36N và áp lực tối đa của chốt lên đĩa<br /> không được vượt quá 96N. Trong trường hợp<br /> thí nghiệm với Ptt = 3,6N tạo ra Ptd ≈ 10N tay<br /> đòn hoàn toàn đủ bền.<br /> Ptd =<br /> <br /> CHẾ TẠO VÀ THỬ NGHIỆM MÁY POD<br /> Chế tạo máy POD<br /> Dựa trên sơ đồ nguyên lý trình bày ở trên,<br /> máy POD được chế tạo thực tế như hình 7.<br /> Với 16 chi tiết, với các phương pháp gia công<br /> tiện, phay, cắt, hàn, sau máy được ghép nối,<br /> lắp ráp và trang trí.<br /> 32<br /> <br /> Ø6<br /> <br /> b.(h)3 − (b − 2e).(h − 2e)3<br /> ( mm 4 ) (5)<br /> 12<br /> J<br /> Wx = x (mm3 ) (6)<br /> b/2<br /> Mô-men lớn nhất trên tay đòn trong trường<br /> hợp này là:<br /> M x = [σ u ] .Wx = 30.4246 = 12738( N .mm) (7)<br /> Tải trọng tối đa trên tay đòn là:<br /> 12738 − 3.75<br /> Ptt =<br /> ≈ 36( N ) (8)<br /> 350<br /> Lực tác dụng tối đa trên đĩa là:<br /> Jx =<br /> <br /> Ø17,5±0,5<br /> <br /> Hình 6. Sơ đồ mặt cắt ngang của tay đòn<br /> <br /> 60<br /> <br /> 10<br /> <br /> 20±0,1<br /> <br /> Ø22+0.5<br /> <br /> Ø80±0.5<br /> <br /> Hình 8. Mẫu mạ 09CrSi<br /> Sau 2 giờ đồng hồ chiều dày lớp mạ Al2O3 –Ni là<br /> ≈ 80 µm.<br /> <br /> Nguyễn Thị Quốc Dung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Thử nghiệm máy POD đã chế tạo<br /> Để thử nghiệm máy POD đã chế tạo, nhóm<br /> tác thực hiện thực nghiệm và so sánh cụ thể<br /> trên các mẫu được mạ và chưa được mạ<br /> composite. Mẫu mạ được chọn có vật liệu<br /> hợp kim 09CrSi được chế tạo với kích thước<br /> như đầu pin và đĩa mài. Với một số mẫu được<br /> mạ composite Al2O3 – Ni và một số mẫu<br /> không được mạ để so sánh khả năng chịu mòn<br /> của chúng.<br /> Tiến trình thực nghiệm được thực hiện tại<br /> phòng thí nghiệm đề tài cấp Nhà nước của<br /> trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp.<br /> Thí nghiệm đo độ mòn và hệ số ma sát được<br /> tiến hành lần lượt cho các loại vật liệu bề mặt<br /> khác nhau. Kết quả thí nghiệm cho các mẫu<br /> thử với bề mặt vật liệu thép hợp kim 09CrSi,<br /> bề mặt mẫu được làm sạch bằng phương pháp<br /> siêu âm, và được mạ Al2O3–Ni sau 2 giờ và 4<br /> mẫu không được mạ. Thực nghiệm được thực<br /> hiện với 2 mức độ áp lực là 10N và 20N tác<br /> dụng từ chốt lên đĩa, tương đương với tải<br /> trọng được treo vào đầu tay đòn là 3,65N và<br /> 7,3N. Kết quả thể hiện trên bảng 2 và sơ đồ<br /> hình 9.<br /> Quá trình đánh giá lượng mòn được thực<br /> nghiệm trên động cơ điện quay với tốc độ<br /> 1450 v/p; cứ sau 34 phút (tức là tương đương<br /> với đĩa quay được 50.000 vòng) mẫu được<br /> đem cân một lần trên cân điện tử có vạch chia<br /> 1/10 gram sau đó tính ra lượng vật liệu của<br /> mẫu mất đi theo đơn vị mm3. Tải trọng cố<br /> định được treo trên tay đòn là 30 N. Để giảm<br /> ảnh hưởng của rung động và nhiệt độ, máy<br /> POD được gắn chặt trên nền nhà bằng vít,<br /> thời gian nghỉ tối thiểu sau mỗi lần làm thực<br /> nghiệm là 15 phút. Sau tính toán quan hệ giữa<br /> lượng mòn của mẫu với thời gian tiếp xúc<br /> được vẽ lại như đồ thị hình 10.<br /> PHÂN TÍCH KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> Các kết quả về hệ số ma sát và lượng mòn<br /> trên các mẫu thử được cho trong bảng 1 và<br /> bảng 2 trong phần phụ lục và trên đồ thị hình<br /> 9 và 10.<br /> <br /> 118(04): 29 - 36<br /> <br /> Có thể thấy qua biểu đồ hệ số ma sát hình 9<br /> mẫu được mạ có hệ số ma sát nhỏ hơn mẫu<br /> chưa được mạ khoảng 30%. Sau khoảng 5<br /> chu kỳ kiểm tra (mỗi chu kỳ ≈34 phút), do<br /> mẫu kiểm tra được mài nhẵn nên hệ số ma sát<br /> đạt tới giá trị ổn định. Mẫu mạ là 0,01 và mẫu<br /> chưa mạ là khoảng 0,027.<br /> Biểu đồ lượng mòn thu được rất tương đồng<br /> với biểu đồ lượng mòn của các chi tiết máy<br /> theo lý thuyết. Có một chú ý là với mẫu mạ số<br /> 4 có thể nhận thấy khi đạt tới 1 giá trị lớn của<br /> số vòng quay tức là lúc này giá trị lượng mòn<br /> tăng rất chậm, đây là điều đáng quan tâm để<br /> phát triển khả năng chống mòn cho các vật<br /> liệu. Các nhà kỹ thuật có thể kiểm tra cơ tính<br /> của bề mặt chốt và đĩa lúc này, sau đó phân<br /> tích để đưa ra ý tưởng chế tạo các bề mặt<br /> tương tự nhằm tăng khả năng chịu mòn cho<br /> sản phẩm.<br /> <br /> Hình 9. Quan hệ S-µ<br /> <br /> Hình 10. Quan hệ S-u<br /> <br /> 33<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản