intTypePromotion=1

Thực trạng chính sách dân tộc thông qua hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu liên quan từ năm 1986 đến nay

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
18
lượt xem
0
download

Thực trạng chính sách dân tộc thông qua hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu liên quan từ năm 1986 đến nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này đưa ra những kết quả nghiên cứu đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại hạn chế nhất định cần khắc phục. Trước bối cảnh thực tiễn nảy sinh đang đặt ra ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong điều kiện mới đòi hỏi cần nghiên cứu, tổng kết đánh giá những kết quả đã đạt được, chỉ ra những hạn chế trong những công trình khoa học đã nghiên cứu, làm cơ sở tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển chính sách dân tộc, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng chính sách dân tộc thông qua hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu liên quan từ năm 1986 đến nay

CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> <br /> THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC THÔNG QUA<br /> HỆ THỐNG HÓA VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC NGHIÊN CỨU<br /> LIÊN QUAN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY*<br /> Trịnh Quang Cảnh<br /> <br /> Học viện Dân tộc; Email: trinhquangcanh@cema.gov.vn<br /> Thông tin chung<br /> Ngày nhận bài: 1/10/2018<br /> Ngày phản biện: 22/10/2018<br /> Ngày duyệt đăng: 7/11/2018<br /> Title<br /> CURRENT STATUS OF ETHNIC POLICY<br /> THROUGH SYSTEMATIZATION AND<br /> ASSESSMENT OF RELATED RESEARCH<br /> FROM 1986 TO PRESENT<br /> Từ khóa<br /> Kết quả nghiên cứu; Nghiên cứu chính sách<br /> dân tộc; Hệ thống hóa các nghiên cứu về<br /> chính sách dân tộc ở Việt Nam; Định hướng<br /> giải pháp xây dựng và tổ chức thực hiện<br /> chính sách dân tộc; Thực trạng chính sách<br /> dân tộc.<br /> Keywords<br /> Research results; Ethnic policy research;<br /> To systematize studies on ethnic policies in<br /> Vietnam; Orienting solutions for building<br /> and organizing the implementation of ethnic<br /> policies; Current status of ethnic policy.<br /> Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay<br /> (1986), đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính<br /> sách dân tộc, các công trình đã cung cấp những cứ<br /> luận khoa học làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên<br /> cứu xây dựng, hoàn thiện chính sách dân tộc ở Việt<br /> Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn bộc<br /> lộ những hạn chế nhất định.<br /> Các nghiên cứu về chính sách dân tộc (CSDT)<br /> từ năm 1986 đến nay được phân theo 3 nội dung với<br /> tổng số 975 nghiên cứu. Trong đó, các nghiên cứu<br /> chính sách dân tộc theo lĩnh vực (611 nghiên cứu);<br /> các nghiên cứu chính sách theo vùng (242 nghiên<br /> cứu); các nghiên cứu chính sách dân tộc theo tộc<br /> người (122 nghiên cứu).<br /> <br /> T<br /> <br /> ừ năm 1986 đến nay đã có nhiều công trình<br /> khoa học nghiên cứu về chính sách dân tộc ở<br /> những phạm vi, mức độ, thời gian và không gian khác<br /> nhau. Kết quả nghiên cứu đã đạt được những thành<br /> tựu hết sức quan trọng, tuy nhiên, vẫn còn những tồn<br /> tại hạn chế nhất định cần khắc phục. Trước bối cảnh<br /> thực tiễn nảy sinh đang đặt ra ở vùng dân tộc thiểu<br /> số và miền núi,trong điều kiện mới đòi hỏi cần nghiên<br /> cứu, tổng kết đánh giá những kết quả đã đạt được, chỉ<br /> ra những hạn chế trong những công trình khoa học<br /> đã nghiên cứu, làm cơ sở tiếp tục nghiên cứu bổ sung,<br /> phát triển chính sách dân tộc, đáp ứng nhiệm vụ cách<br /> mạng trong giai đoạn mới.<br /> Abstract<br /> From 1986 up to now, there have been many<br /> scientific researches on ethnic policy in different<br /> areas, levels, time and space. The results of the<br /> research have achieved important achievements,<br /> however, there are still some shortcomings and<br /> certain limitations need to overcome. In the<br /> context of emerging realities in ethnic minority and<br /> mountainous areas, new conditions require research,<br /> review and evaluation of achieved results, indicating<br /> the constraints in the projects. scientific researches,<br /> which will serve as a basis for further researching,<br /> supplementing and developing national policies,<br /> meeting the revolutionary tasks in the new period.<br /> Có thể thấy rằng, các nghiên cứu thời gian qua<br /> chủ yếu quan tâm đến các lĩnh vực xóa đói giảm<br /> nghèo (88 nghiên cứu) và văn hóa xã hội (120<br /> nghiên cứu) vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Vấn<br /> đề môi trường và biến đổi khí hậu đang ngày càng<br /> tác động mạnh mẽ đến đời sống đồng bào dân tộc<br /> thiểu số, vì vậy cũng đã có nhiều nghiên cứu quan<br /> tâm đến lĩnh vực này (108 nghiên cứu).<br /> Các nghiên cứu về chính sách dân tộc khá đa<br /> dạng, không chỉ tập trung vào các lĩnh vực mà còn<br /> tập trung nghiên cứu để cung cấp cơ sở khoa học<br /> phục vụ xây dựng chính sách theo vùng. Trong đó<br /> những vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn luôn nhận<br /> được sự quan tâm, nghiên cứu của các cơ quan, nhà<br /> <br /> * Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp quốc gia: “Hệ thống hóa và đánh giá các nghiên<br /> cứu về chính sách dân tộc của Việt Nam từ năm 1986 đến nay”. Mã số: CTDT 06.16/16-20.<br /> <br /> Số 24 - Tháng 12 năm 2018<br /> <br /> 11<br /> <br /> CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> khoa học. Trong số 242 nghiên cứu chính sách theo<br /> vùng thì nhiều nhất là nghiên cứu chính sách dân<br /> tộc ở vùng Tây Nguyên (145 nghiên cứu); Tây Bắc<br /> (33 nghiên cứu)... Trong khuôn khổ, phạm vi bài<br /> viết, tác giả tổng hợp một số kết quả, đánh giá về<br /> thực trạng chính sách thông qua hệ thống hóa và<br /> đánh giá các nghiên cứu về chính sách dân tộc từ<br /> năm 1986 đến nay ở Việt Nam.<br /> 1. Các nghiên cứu đã chỉ ra một số bất cập,<br /> hạn chế trong xây dựng và thực hiện chính sách<br /> dân tộc<br /> Thứ nhất, về xây dựng và tổ chức thực hiện<br /> chính sách dân tộc<br /> Các vấn đề đặt ra trong xây dựng và thực hiện<br /> CSDT liên quan đến yêu tố về nguồn lực, hoạt động<br /> điều phối, năng lực trong thực hiện CSDT được<br /> nhắc nhiều hơn cả. Mặc dù, hệ thống CSDT từ năm<br /> 1986 đến nay được đánh giá là khá đầy đủ, hoàn<br /> thiện nhưng có hạn chế, tồn tại luôn được chỉ ra<br /> trong các nghiên cứu đó là sự chồng chéo của hệ<br /> thống CSDT và chính điều này đang gây cản trở<br /> trong việc thực hiện các mục tiêu của các CSDT.<br /> Giảm sự chồng chéo trong hệ thống CSDT đang<br /> là một trong những vấn đề cần được ưu tiên trong<br /> CSDT hiện nay.<br /> Sự chồng chéo trong hệ thống CSDT dẫn tới<br /> việc điều phối chính sách này trên thực tế gặp khó<br /> khăn. Các CSDT được thiết kế theo ngành, lĩnh vực<br /> khá độc lập với nhau, thiếu sự gắn kết các chính<br /> sách trong một ngành (giáo dục, y tế...) và giữa các<br /> ngành khác nhau tạo ra tính phân tán. Chồng chéo<br /> trong chính sách, không thể thực hiện việc điều phối<br /> chung để đạt được hiệu quả một cách toàn diện và<br /> tổng thể1. Theo báo cáo rà soát các chính sách dân<br /> tộc và đề xuất xây dựng hệ thống CSDT đến năm<br /> 2020 do Ủy ban Dân tộc (UBDT) và Chương trình<br /> phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) thực hiện cho<br /> thấy: Hệ thống CSDT đến năm 2011, có tổng cộng<br /> 187 chính sách khác nhau ở cấp độ Trung ương do<br /> Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành. Trong<br /> đó, số lượng Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ<br /> ban hành là 44 văn bản, đế cập gần như toàn diện<br /> các vấn đề từ giảm nghèo, y tế, giáo dục, dạy nghề,<br /> sản xuất, tín dụng... Riêng với 143 Quyết định được<br /> Thủ tướng Chính phủ ban hành hiện đang còn hiệu<br /> lực và phân chia thành 2 nhóm đó là (i) nhóm phát<br /> triển kinh tế - xã hội theo vùng (46 Quyết định).<br /> (ii) Nhóm phát triển kinh tế - xã hội theo lĩnh vực,<br /> theo ngành (97 Quyết định). Trong đó, nhiều nhất<br /> là nhóm chính sách về phát triển giao thông vận tải,<br /> tín dụng.<br /> Việc chồng chéo về CSDT thể hiện ở ba khía<br /> cạnh chính là nội dung, đối tượng thụ hưởng và<br /> thời gian thực hiện chính sách trên cùng một địa<br /> bàn. Ví dụ, về nội dung, có tới 6 chính sách hỗ trợ<br /> nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Về<br /> Ủy ban Dân tộc, UNDP& Irish aid, (2017), Báo cáo Tổng quan thực trạng<br /> kinh tế - xã hội của 53 Dân tộc thiểu số dựa trên kết quả phân tích số liệu điều<br /> tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, tr 35.<br /> 1.<br /> <br /> 12<br /> <br /> đối tượng thụ hưởng, hộ nghèo dân tộc thiểu số<br /> (DTTS) ở Đồng bằng sông Cửu Long là nhóm đối<br /> tượng hưởng nhiều chính sách nhất về giảm nghèo,<br /> do ngoài chính sách chung, còn có một chính sách<br /> riêng, mang tính đặc thù theo Quyết định 74/2008/<br /> QĐ-TTg ngày 09/06/2008 của Thủ tướng Chính<br /> phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất<br /> sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS<br /> nghèo, đời sống khó khăn vùng Đồng bằng sông<br /> Cửu Long giai đoạn 2008-2010 và nay là Quyết<br /> định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013. Riêng<br /> vấn đề chồng chéo về thời gian thực hiên chính<br /> sách trên cùng một địa bàn thể hiện rất rõ qua chính<br /> sách về nhà ở. Thống kê của báo cáo này cho thấy,<br /> có tới 6 chính sách hỗ trợ về nhà ở như 134/2004/<br /> QĐ-TTg, Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg, Quyết<br /> định số 167/2008/QĐ-TTg, Quyết định số 74/2008/<br /> QĐ-TTg, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP...<br /> Thứ hai, vấn đề vốn và phân bổ nguồn lực<br /> Theo quy định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu<br /> trách nhiệm huy động, phân bổ và quản lý các<br /> nguồn lực đầu tư trong khi đó với các nguồn vốn sự<br /> nghiệp do Bộ Tài chính quản lý và phân bổ. Điều<br /> này đồng nghĩa, các cơ quan quản lý nhà nước về<br /> công tác dân tộc như Ủy ban Dân tộc không có vai<br /> trò gì đáng kể trong phân bổ các nguồn lực tài chính<br /> cho các CSDT. Chình vì vậy, trong những năm qua<br /> một số CSDT được xây dựng trong bối cảnh nguồn<br /> lực không rõ ràng và hạn chế cho nên các nguồn lực<br /> tuy được bố trí nhưng ở mức thấp. Báo cáo Nghiên<br /> cứu rà soát chính sách dân tộc và đề xuất xây dựng<br /> hệ thống CSDT đến năm 2020 đã chỉ ra có hàng<br /> loạt các chính sách tín dụng cho người nghèo rơi<br /> vào tình trạng này. Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg<br /> ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc<br /> cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào<br /> DTTS đặc biệt khó khăn. Theo chính sách thì vốn<br /> vay cho phát triển sản xuất mặc dù có lãi 0% nhưng<br /> định mức vay chỉ 5 triệu đồng/hộ. Theo một nghiên<br /> cứu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và<br /> UNDP thì chỉ có khoảng 20% số hộ nghèo được vay<br /> vốn vì nguồn vốn vay quá hạn chế. Tương tự vậy,<br /> đối với chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo<br /> theo Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg qua đánh giá<br /> chỉ có 30% người dân tiếp cận được các nguồn vốn<br /> của ngân hàng Chính sách xã hội2. Ngay cả đối với<br /> chương trình 30a, theo báo cáo này thì để đầu tư<br /> đủ hệ thống cơ sở hạ tầng cho một huyện, kinh phí<br /> cần khoảng 3.000 tỷ đồng3. Mặc dù, mức đầu tư<br /> này tính tới năm 2020 nhưng kinh phí qua các năm<br /> 2009, 2010 mức kinh phí nhà nước đầu tư mới chỉ<br /> đạt 25 tỷ đồng, quá thấp so với nhu cầu và có thể<br /> dẫn tới nhiều tác động không tích cực trong việc đạt<br /> các mục tiêu giảm nghèo ở các huyện 30a. Hầu hết<br /> phân bổ nguồn lực cho các CSDT thường tập trung<br /> Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và UNDP, (2009), Đề xuất khung<br /> chính sách hỗ trợ giảm nghèo cho các địa phương có tỷ lệ nghèo cao ở Đồng<br /> bằng Sông Cửu Long.<br /> 3.<br /> Ủy ban Dân tộc và UNDP, (2012), Báo cáo nghiên cứu rà soát các chính<br /> sách dân tộc và đề xuất xây dựng hệ thống chính sách dân tộc thiểu số đến<br /> năm 2020, tr 31.<br /> 2.<br /> <br /> Số 24 - Tháng 12 năm 2018<br /> <br /> CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> nhiều nhất là đầu tư cho cơ sở hạ tầng, điển hình<br /> là trong chương trình mục tiêu quốc gia (MTQD)<br /> về giảm nghèo và chương trình 135. Theo báo cáo<br /> đánh giá của Chương trình MTQG về giảm nghèo và<br /> Chương trình 135 thì giai đoạn 2011-2016 tập trung<br /> khoảng 60% nguồn lực của các dự án cho phát triển<br /> hệ thống cơ sở hạ tầng và định canh, định cư.<br /> Theo đánh giá, ngoài bố trí nguồn lực còn hạn<br /> chế, nguồn lực cho việc thực hiện chính sách dân<br /> tộc thường bố trí chậm so với kế hoạch hàng năm.<br /> Ví dụ, Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 26 tháng<br /> 9 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê<br /> duyệt Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội vùng các<br /> dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao”. Hầu hết<br /> phân bổ nguồn vốn thực hiện chính sách này còn<br /> chậm, có năm không bố trí nguồn vốn để thực hiện<br /> chính sách này.<br /> Thứ ba, vấn đề về năng lực cán bộ thực hiện<br /> chính sách dân tộc<br /> Hiệu quả của các chính sách dân tộc, ngoài sự<br /> phụ thuộc vào nguồn lực, cách tiếp cận và phương<br /> pháp thực hiện chính sách dân tộc thì còn phụ thuộc<br /> rất nhiều tới năng lực của cán bộ làm chính sách<br /> dân tộc ở các cấp và phụ thuộc vào quản lý nhà<br /> nước về công tác dân tộc. Những vấn đề có liên<br /> quan tới năng lực của cán bộ làm chính sách dân<br /> tộc ở cơ sở đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả<br /> thực hiện chính sách dân tộc. Vấn đề năng lực cán<br /> bộ thực hiện chính sách dân tộc được xuất hiện liên<br /> tục trong các khuyến nghị và giải pháp chỉ ra trong<br /> các nghiên cứu. Cụ thể, có nghiên cứu chỉ ra rằng<br /> “Một số cán bộ cơ sở chỉ chú trọng thực hiện chính<br /> sách dễ làm, có lợi cho bản thân và gia đình, không<br /> tích cực thực hiện các chính sách ít có lợi cho bản<br /> thân và gia đình, khó triển khai”. Đồng thời đó là sự<br /> phân cấp, phân quyền cho cán bộ cũng ảnh hưởng<br /> tới việc triển khai chính sách “Nhiều cán bộ cơ sở<br /> vẫn còn tư tưởng ngại phân cấp cho cấp dưới, nhất<br /> là việc phân cấp làm chủ đầu tư dự án”4.<br /> Thứ tư, chính sách chưa phù hợp với đặc điểm<br /> vùng và người dân tộc thiểu số<br /> Đây cũng là một trong những trở ngại của chính<br /> sách dân tộc được chỉ ra nhiều trong các nghiên<br /> cứu. Như chúng ta biết vùng DTTS có những đặc<br /> thù về địa hình, khí hậu và người DTTS có những<br /> đặc điểm rất đặc thù trong tập quán, thói quen sinh<br /> hoạt cũng như sản xuất. Do đó, các chương trình,<br /> chính sách không tính kỹ đến đặc điểm này sẽ<br /> không khả thi. Có nghiên cứu đã chỉ ra sự không<br /> phù hợp đó trong chính sách 135 giai đoạn II, “Hợp<br /> phần tập huấn có sự không phù hợp đó là mô hình<br /> thí điểm làm ở diện tích có điều kiện tương đối<br /> thuận lợi, trong khi thực tế nhiều mảnh ruộng ở địa<br /> hình rất cao, rất manh mún, thiếu nước tưới, không<br /> thể gùi phân lên cao, chỉ thực hiện bón phân 1 lần/<br /> vụ; không đủ vốn để đầu tư theo yêu cầu kỹ thuật;<br /> một số hộ có nội lực nhưng thấy quá vất vả, khó<br /> Lê Ngọc Thắng, (2011), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân<br /> tộc, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.<br /> 4.<br /> <br /> Số 24 - Tháng 12 năm 2018<br /> <br /> khăn nên không làm theo. Hay chương trình giảm<br /> nghèo phát máy gặt lúa nhưng không sử dụng được<br /> do không phù hợp với địa hình và điều kiện canh tác<br /> của địa phương. Chính sách hỗ trợ việc làm chưa<br /> phù hợp với tập quán không thích xa nhà của người<br /> DTTS, do vậy nỗ lực xuất khẩu lao động không<br /> thực hiện được...”5. Có thể nói, sự phù hợp là điều<br /> quan trọng giúp cho việc thực thi chính sách hiệu<br /> quả, câu chuyện được bàn nhiều trong các nghiên<br /> cứu, chính sách có ý tưởng hay chưa hẳn đã phù<br /> hợp, cần đặt sự phù hợp, tập quán, thói quen trước<br /> khi nghĩ đến những giải pháp về mặt chính sách cho<br /> đồng bào DTTS.<br /> Thứ năm, hiệu quả chính sách chưa cao<br /> Mặc dù hệ thống chính sách đã bao phủ toàn<br /> bộ đời sống kinh tế xã hội vùng DTTS nhưng thực<br /> tế hiệu quả chính sách vẫn chưa như mong đợi.<br /> Theo các báo cáo nghiên cứu thì người DTTS vẫn<br /> là thuộc nhóm yếu thế, thể hiện ở chỗ: (i) Có sự cải<br /> thiện nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia<br /> tăng, nghèo đói dai dẳng trong các DTTS vẫn là vấn<br /> đề nổi cộm. (ii) Việc tiếp cận rất hạn chế đối với các<br /> dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế nhất là các dịch vụ<br /> y tế miễn phí cho người DTTS.<br /> Như vậy, các nghiên cứu về CSDT trong thời kỳ<br /> đổi mới đề cập đến khá nhiều lĩnh vực, từ các vấn<br /> đề lý thuyết, quan điểm đến các vấn đề thực tiễn,<br /> đặc biệt là các vấn đề mới đang nảy sịnh, trên tất<br /> cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ nghèo đói<br /> và giảm nghèo đến vấn đề đất đai; từ tái định cư<br /> khi xây dựng các công trình trọng điểm đến giải<br /> pháp sinh kế; từ y tế đến giáo dục; từ quan hệ dân<br /> tộc đến bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; từ<br /> an sinh xã hội đến đời sống tôn giáo và sự xuất hiện<br /> các tôn giáo mới; từ môi trường đến chất lượng dân<br /> số; từ hệ thống chính trị đến công tác đào tạo cán<br /> bộ; từ biên giới cho đến hải đảo liên quan đến quốc<br /> phòng, an ninh... Xuất phát từ yêu cầu hỗ trợ, thúc<br /> đẩy nghiên cứu cơ bản, Quỹ Khoa học công nghệ<br /> Quốc gia cũng đã hỗ trợ triển khai hàng loạt các đề<br /> tài về vấn đề này. Mặc dù vậy, chính sách dân tộc<br /> cũng còn nhiều vấn đề cần được quan tâm, nghiên<br /> cứu sâu hơn trong tình hình và bối cảnh mới.<br /> 2. Các nghiên cứu đã chỉ ra những vấn đề cần<br /> quan tâm nghiên cứu và ban hành chính sách<br /> Thứ nhất, về thành phần dân tộc trong mối<br /> quan hệ tổ chức thực hiện chính sách dân tộc<br /> Trong nghiên cứu chính sách dân tộc chúng ta<br /> cần nhận thức và tái nhận thức rõ vấn đề này việc<br /> tôn trọng các dân tộc trước hết phải tôn trọng sự<br /> hiện diện của các dân tộc. Cần được xem xét lại<br /> bảng danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam.<br /> Bản danh mục hiện nay đang sử dụng đã có cách<br /> đây gần 40 năm - là một trong những thành tựu<br /> quan trọng của giới khoa học xã hội nói chung và<br /> ngành dân tộc học nói riêng. Hiện nay, do xã hội<br /> Ủy ban Dân tộc và UNDP, (2012), Báo cáo nghiên cứu rà soát các chính<br /> sách dân tộc và đề xuất xây dựng hệ thống chính sách dân tộc thiểu số đến<br /> năm 2020, tr.39<br /> 5.<br /> <br /> 13<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> đã phát triển, trình độ dân trí ngày càng cao, tự ý<br /> thức dân tộc, nhóm địa phương càng phát triển và<br /> vấn đề này luôn gắn với chính sách dân tộc, tổ chức<br /> thực hiện chính sách dân tộc nên việc xem xét lại<br /> bản danh mục thành phần các dân tộc ở nước ta<br /> có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn cho việc hoạch<br /> định chính sách dân tộc, đáp ứng hài hòa lợi ích tộc<br /> người và lợi ích quốc gia.<br /> Thứ hai, cần nghiên cứu và quán triệt chính<br /> sách phát triển tộc người đối với các tộc người<br /> thiểu số, giải quyết hài hòa giữa lợi ích tộc người<br /> và lợi ích quốc gia, giữa phát triển kinh tế - xã hội<br /> và đảm bảo quốc phòng, an ninh<br /> Từ những vấn đề dân tộc luôn được coi là vấn đề<br /> chiến lược nặng về tính chất chính trị trong các giai<br /> đoạn cách mạng trước đây ở nước ta, nay chuyển<br /> sang vấn đề chiến lược của chính sách dân tộc mà<br /> trọng tâm là về kinh tế và phát triển. Vấn đề tôn<br /> trọng, coi trọng các dân tộc, đời sống, sinh hoạt của<br /> họ cả trong nhận thức lẫn trong việc làm từ chính<br /> sách đầu tư, hoạch định các chính sách, đến xây<br /> dựng và triển khai các chương trình, dự án là hết<br /> sức cần thiết.<br /> Thứ ba, đa dạng hóa chính sách trong phát triển<br /> Từ thực tiễn của đất nước đa dân tộc, mỗi dân<br /> tộc có những đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội, văn<br /> hoá riêng; điều kiện tự nhiên mỗi vùng, mỗi dân tộc<br /> một khác dẫn đến việc chính sách dân tộc và những<br /> chủ trương, biện pháp thực hiện các chính sách đó<br /> phải rất đa dạng, phù hợp với từng vùng, từng dân<br /> tộc hay nhóm dân tộc; tạo ra nhiều cách lựa chọn,<br /> nhiều cách đi, nhiều cách giải quyết đối với mỗi vấn<br /> đề, mỗi vùng, mỗi dân tộc.<br /> Thứ tư, đánh giá tổng kết chính sách dân tộc<br /> trong vấn đề dân tộc<br /> Cho đến thời điểm hiện nay, việc đẩy mạnh công<br /> tác nghiên cứu, phân tích chính sách và các biện<br /> pháp thực hiện các chính sách để rút ra những bài<br /> học về thành công trong thực hiện chính sách dân<br /> tộc, đặc biệt phân tích và rút ra những bài học kinh<br /> nghiệm trên thực tiễn phải trả giá về cách triển khai<br /> các biện pháp rập khuôn không phù hợp với thực<br /> tiễn vùng dân tộc và từng dân tộc đã trở thành vấn<br /> đề cấp thiết.<br /> Thứ năm, nghiên cứu các chính sách về bảo<br /> tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc phục<br /> vụ phát triển bền vững<br /> Văn hoá và các giá trị truyền thống (không phải<br /> chỉ là giáo dục, hay các hình thức bên ngoài của<br /> văn hoá như trang phục, nghi lễ, các kiểu nhà ở...)<br /> của các dân tộc cần được coi là động lực phát triển<br /> kinh tế - xã hội ở các dân tộc, vùng dân tộc thiểu số<br /> và miền núi. Văn hóa như Đảng ta xác định là nền<br /> tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là<br /> động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc<br /> tế. Đây là một quan điểm cốt lõi và xác định vị trí<br /> hàng đầu của văn hóa dân tộc. Thực thể tinh thần,<br /> di sản vật chất và tinh thần cần được tôn trọng và<br /> <br /> 14<br /> <br /> CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> phát huy đầy đủ không phải chỉ trên lĩnh vực văn<br /> hoá mà còn có ý nghĩa sâu rộng trong tất cả các lĩnh<br /> vực, các ngành. Việc xây dựng bất cứ chương trình,<br /> dự án phát triển nào cũng cần phải quán triệt quan<br /> điểm thực sự kế thừa và phát triển các giá trị văn<br /> hoá truyền thống các dân tộc, của mỗi dân tộc; phải<br /> có cái nhìn xuất phát từ nền văn hoá của mỗi dân<br /> tộc, mỗi vùng. Chúng ta cần có quan điểm nghiên<br /> cứu và kế thừa một cách thực sự những ứng xử văn<br /> hoá, những kiến thức, tri thức địa phương, hệ thống<br /> quản lý cộng đồng truyền thống của mỗi dân tộc<br /> trong phát triển .<br /> Thứ sáu, về chủ thể văn hóa và chủ thể phát<br /> triển trong quá trình xây dựng và triển khai<br /> chính sách<br /> Thực tế phát triển cho thấy, chủ thể dân tộc thiểu<br /> số, chủ thể kinh tế, xã hội, văn hoá có vai trò, tiếng<br /> nói quyết định đối với sự phát triển của mình thông<br /> qua các chương trình, dự án và do đó trong chiến<br /> lược phát triển hiện nay phải xây dựng quan niệm<br /> về chủ nhân, chủ thể văn hoá. Quan niệm và chỉ đạo<br /> thực hiện phải làm cho thực sự người dân có tiếng<br /> nói quyết định, không áp đặt dưới mọi hình thức đối<br /> với vấn đề phát triển của từng dân tộc, từng cộng<br /> đồng. Vấn đề quan trọng chủ yếu là chủ thể phải tự<br /> nhận thức, tự thấy nhu cầu phải đổi mới, thay đổi và<br /> phát triển. Nhà nước, các tổ chức xã hội, phi chính<br /> phủ không được gò ép, làm thay, áp đặt. Xây dựng<br /> tự ý thức của mỗi người dân đối với sự phát triển là<br /> yêu cầu sống còn đối với phát triển của mỗi dân tộc.<br /> Thứ bảy, đánh giá và xây dựng cơ sở lý luận<br /> cho việc thiết kế hệ thống các chương trình quốc<br /> gia, các dự án trong mục tiêu phát triển trước mắt<br /> cũng như lâu dài<br /> Cần phải tập trung: Xây dựng hệ thống quan<br /> điểm lý luận, chính sách phát triển lâm nghiệp; vấn<br /> đề quản lý và sử dụng đất ở vùng dân tộc thiểu số<br /> và miền núi; nghiên cứu, đề xuất chính sách giải<br /> quyết vấn đề phát triển thị trường; xây dựng hệ<br /> thống quan điểm lý luận, chính sách và giải pháp về<br /> an sinh xã hội, vấn đề sức khoẻ cộng đồng, y tế phù<br /> hợp với điều kiện các dân tộc thiểu số và miền núi.<br /> Vấn đề đưa tiến bộ kỹ thuật vào vùng dân tộc trong<br /> điều kiện cần được nghiên cứu phù hợp với môi<br /> trường địa lý tự nhiên, điều kiện sinh thái và con<br /> người các dân tộc thiểu số và miền núi. Xây dựng<br /> các chính sách trong chương trình xây dựng nông<br /> thôn mới đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi,<br /> không thể dập khuôn, máy móc.<br /> Thứ tám, nghiên cứu, xây dựng chiến lược<br /> phát triển con người và đội ngũ cán bộ người dân<br /> tộc thiểu số, đa dạng hoá việc xây dựng và đào<br /> tạo nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số để có thể<br /> phát huy có hiệu quả nội lực của các dân tộc<br /> Vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực<br /> là một trong những vấn đề có nội dung tổng hợp,<br /> liên quan đến nhiều lĩnh vực, có vị trí quan trọng<br /> hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội<br /> <br /> Số 24 - Tháng 12 năm 2018<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> Miền núi và vùng các dân tộc thiểu số là khu vực<br /> giàu tiềm năng và có vị trí đặc biệt trong quá trình<br /> công nghiệp hóa nhưng cũng có không ít khó khăn<br /> trong quá trình phát triển. Việc giải bài toán phát<br /> triển nguồn nhân lực không thể thực hiện một cách<br /> đơn tuyến từng lĩnh vực mà điều quan trọng là tạo<br /> ra các điều kiện và cơ hội để phát triển con người<br /> một cách toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Song<br /> song với việc đào tạo, quản lý và sử dụng nguồn<br /> nhân lực được đào tạo cũng có vai trò và vị trí<br /> không kém. Cần làm rõ cơ chế chính sách trong sử<br /> dụng nguồn nhân lực theo hướng không tách rời<br /> giữa đào tạo và sử dụng khi nhà nước đầu tư để phát<br /> triển nguồn nhân lực tại chỗ. Vấn đề đặt ra ở đây là<br /> đầu tư có kiểm soát, đầu tư có định hướng gắn với<br /> địa chỉ và nhu cầu sử dụng, đặc biệt là nguồn nhân<br /> lực có trình độ cao. Trên thực tế chúng ta chưa có<br /> cơ chế chính sách về vấn đề này và trong một thời<br /> gian dài đã buông lỏng trong quản lý sử dụng nguồn<br /> nhân lực trình độ cao.<br /> 3. Một số khuyến nghị<br /> Qua hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu về<br /> chính sách dân tộc từ năm 1986 đến nay cho thấy,<br /> ngoài những kết quả đạt được, chính sách dân tộc<br /> trong thời gian tới cần phải đổi mới trong xây dựng<br /> và thực thiện chính sách theo hướng cụ thể như sau:<br /> Một là, đổi mới cơ quan quản lý nhà nước về<br /> công tác dân tộc theo hướng tập trung đầu mối trong<br /> xây dựng, kiểm tra, đánh giá và thực hiện chính<br /> sách dân tộc để giảm sự chồng chéo chính sách.<br /> Hai là, đổi mới chính sách dân tộc theo hướng<br /> tập trung nguồn lực, tránh dàn trải, manh mún, phân<br /> tán nguồn lực. Lựa chọn, tập trung vào những vấn<br /> đề trọng yếu, có tính lan tỏa cao. Trong thời gian tới<br /> cần xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu<br /> quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào<br /> DTTS. Bổ sung luật ngân sách trong đó quy định tỷ<br /> nhất định để hỗ trợ phát triển vùng DTTS.<br /> Ba là, chính sách dân tộc cần đổi mới theo hướng<br /> trao quyền, cơ hội cho người dân tộc thiểu số. Xây<br /> dựng cơ chế, chính sách ràng buộc tái đầu tư đối<br /> với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh<br /> ở vùng DTTS, nhất là các doanh nghiệp khai thác<br /> tài nguyên, khoáng sản, thủy điện ở vùng DTTS và<br /> miền núi.<br /> Bốn là, chính sách tập trung nâng cao năng lực<br /> để đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận các cơ hội<br /> phát triển, nội lực ở vùng DTTS. Các chính sách<br /> cần phải phát huy được tiềm năng, thế mạnh của<br /> từng vùng, từng dân tộc. Những lợi thế từ rừng,<br /> sông nước...<br /> Bốn là, việc xây dựng và thực hiện chính sách<br /> dân tộc cần phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền<br /> cho địa phương, vùng dân tộc thiểu số. Đồng thời<br /> chính sách phải giảm cho không mà chuyển sang hỗ<br /> trợ cho vay, có điều kiện.<br /> Năm là, chính sách phát triển kinh tế, giảm<br /> nghèo cần thực hiện đồng bộ từ sản xuất điến tiêu<br /> <br /> Số 24 - Tháng 12 năm 2018<br /> <br /> CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC<br /> thụ sản phẩm. Tiếp cận chuỗi giá trị trong sản xuất,<br /> khuyến khích và có chính sách thu hút, ưu đãi các<br /> doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm do đồng<br /> bào sản xuất.<br /> Khuyến nghị một số chính sách cụ thể:<br /> Thứ nhất, thực hiện đồng bộ chính sách phát<br /> triển theo vùng dân tộc và chính sách phát triển<br /> theo tộc người tránh trùng lặp, manh mún<br /> Trước hết cần đẩy mạnh và khẩn trương nghiên<br /> cứu về chính sánh phát triển đồng bộ theo vùng dân<br /> tộc, chính sách phát triển theo tộc người thiểu số<br /> tránh trùng lặp, manh mún trong xây dựng chính<br /> sách và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc giữa<br /> các bộ nghành.<br /> Thứ hai, cần có các chính sách dân tộc nhằm<br /> phát triển nâng cao thể lực, môi trường sống và<br /> sinh tồn cho các tộc người<br /> Giải pháp này gắn liền với những chủ trương<br /> chiến lược phát triển kinh tế- xã hội như làm tốt<br /> chương trình xóa đói, giảm nghèo một cách căn<br /> bản và bền vững, từng bước cải thiện đời sống con<br /> người; thực hiện tốt các chính sách xã hội, bảo hiểm<br /> xã hội, đẩy mạnh công tác kế hoạch hóa gia đình,<br /> đẩy lùi các tệ nạn và tập quán không phù hợp; xây<br /> dựng nếp sống vệ sinh.<br /> Tập trung mọi nguồn lực để giải quyết bền vững<br /> vấn đề định canh định cư đối với một số tộc người,<br /> gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,<br /> quốc phòng-an ninh.<br /> Nghiên cứu, xây dựng mô hình thiết chế văn hóa<br /> ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vận dụng quy<br /> chế văn hóa cơ sở cho phù hợp với đặc điểm của<br /> từng vùng dân tộc thiểu số, giải quyết hài hòa mối<br /> quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, truyền thống<br /> và đổi mới.<br /> Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ về chăm<br /> sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em trên cơ sở đặc thù<br /> từng vùng và từng dân tộc, ngăn chặn nguy cơ suy<br /> thoái giống nòi (trước hết là đầu tư cho hệ thống<br /> nhà trẻ mẫu giáo về cơ sở vật chất về điều kiện nuôi<br /> dạy, đảm bảo chế độ dinh dưỡng để con em các dân<br /> tộc có điều kiện cơ hội phát triển về thể lực với<br /> những chính sách cụ thể).<br /> Tạo điều kiện để trẻ em và thanh thiếu niên được<br /> hưởng thụ văn hóa và phát triển trong môi trường<br /> văn hóa (cơ sở vật chất cho các hoạt động thể thao,<br /> vui chơi giải trí, nước sạch, vệ sinh ...); đưa chương<br /> trình giáo dục môi trường vào trong nhà trường để<br /> học sinh sớm hình thành kỹ năng và nhận thức về<br /> vai trò của môi trường đối với sức khỏe con người,<br /> yêu cầu về giữ gìn môi trường (cả môi trường tự<br /> nhiên và xã hội), tăng cường lòng tự hào về quê<br /> hương xứ sở.<br /> Thứ ba, các chính sách dân tộc nhằm thực hiện<br /> phát triển giáo dục đào tạo vùng dân tộc thiểu số<br /> Nhằm tạo sự chuyển biến căn bản, nâng cao dân<br /> trí để sớm hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công<br /> <br /> 15<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2