intTypePromotion=1
ADSENSE

Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Asean, tỉnh Hưng Yên

Chia sẻ: Vixyliton Vixyliton | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

97
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện trên 550 sinh viên từ 18 - 20 tuổi tại Trường Cao đẳng Asean, tỉnh Hưng Yên nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ của sinh viên về sức khỏe sinh sản và đánh giá giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho sinh viên. Kết quả cho thấy nhận thức của sinh viên về sức khỏe sinh sản tương đối cao.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Asean, tỉnh Hưng Yên

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Natural Sci. 2017, Vol. 62, No. 3, pp. 127-134<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1059.2017-0016<br /> <br /> THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC<br /> VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA SINH VIÊN<br /> TRƯỜNG CAO ĐẲNG ASEAN, TỈNH HƯNG YÊN<br /> <br /> Dương Thị Anh Đào 1 và Nguyễn Thị Quyên2<br /> 1<br /> <br /> Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2 Trường Cao đẳng Asean<br /> <br /> Tóm tắt. Nghiên cứu được thực hiện trên 550 sinh viên từ 18 - 20 tuổi tại Trường Cao đẳng<br /> Asean, tỉnh Hưng Yên nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ của sinh viên về sức khỏe<br /> sinh sản và đánh giá giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho sinh viên.<br /> Kết quả cho thấy nhận thức của sinh viên về sức khỏe sinh sản tương đối cao. Đa số sinh viên<br /> ủng hộ quan điểm truyền thống cho rằng chỉ nên quan hệ tình dục sau khi kết hôn (73,3%), có<br /> 92,0% sinh viên cho rằng nên sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục, 96,8% sinh<br /> viên cho rằng nên giáo dục sức khỏe sinh sản ở trường đại học, và đa số các em mong muốn<br /> được học tất cả các nội dung liên quan đến sức khỏe sinh sản. Biện pháp can thiệp nhằm nâng<br /> cao nhận thức cho sinh viên đã cho kết quả tốt, điểm trung bình nhận thức về sức khỏe sinh<br /> sản của nhóm thực nghiệm (24,92 điểm) cao hơn nhóm đối chứng (14,00 điểm) (P < 0,001).<br /> Do vậy, cần tăng cường giáo dục về sức khỏe sinh sản, thực hiện tình dục an toàn để sinh viên<br /> nâng cao hiểu biết cũng như chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.<br /> Từ khóa: Sinh viên, giáo dục sức khỏe sinh sản, quan hệ tình dục.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Ở Việt Nam, trung bình mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi từ 15 - 19,<br /> trong đó 60% - 70% là học sinh, sinh viên. Mỗi năm, có khoảng 800.000 - 1.000.000 người điều<br /> trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), 40% trong đó là thanh thiếu niên [1].<br /> Độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở vị thành niên Việt Nam ngày càng sớm nhưng kiến thức của vị<br /> thành niên về phòng tránh thai, HIV và các BLTQĐTD khác vẫn còn rất hạn chế, chỉ có khoảng<br /> 20,7 % sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên [2].<br /> Mặc dù giáo dục sức khỏe sinh sản đã được đưa vào chương trình tích hợp ở phổ thông và<br /> một số môn học như Sinh học ở các trường chuyên nghiệp nhưng kiến thức về sức khỏe sinh sản<br /> và các BLTQĐTD của vị thành niên, thanh niên vẫn hạn chế. Vì thế, việc chăm sóc sức khỏe sinh<br /> sản cho thanh thiếu niên nhất là ở lứa tuổi sinh viên là rất quan trọng. Bởi vì, sinh viên là nguồn<br /> lao động trí óc chính của một quốc gia trong tương lai, Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh<br /> giá thực trạng kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản và đưa ra giải pháp nâng cao sức khỏe sinh<br /> sản cho sinh viên ở sinh viên Trường Cao đẳng ASEAN, tỉnh Hưng Yên. Kết quả của nghiên cứu<br /> là cơ sở để đề ra các giải pháp phù hợp cho công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên,<br /> góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của đất nước.<br /> <br /> Ngày nhận bài: 28/2/2017. Ngày nhận đăng: 27/3/2017.<br /> Tác giả liên hệ: Dương Thị Anh Đào, e-mail: daodangduc@gmail.com<br /> <br /> 127<br /> <br /> Dương Thị Anh Đào và Nguyễn Thị Quyên<br /> <br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu<br /> * Đối tượng nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu là khoảng 550 sinh viên đang học tập tại Trường Cao đẳng ASEAN,<br /> tỉnh Hưng yên. Tất cả các đối tượng có sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩm sinh hoặc bệnh<br /> truyền nhiễm, có trạng thái tâm sinh lí bình thường. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08 năm<br /> 2015 đến tháng 06 năm 2016.<br /> * Thiết kế nghiên cứu<br /> Nghiên cứu được chia thành 2 giai đoạn:<br /> - Giai nghiên cứu cắt ngang: Tiến hành trên 450 sinh viên Khoa Điều dưỡng và khoa Dược.<br /> Các đối tượng được chọn ngẫu nhiên và chia thành ba nhóm gồm sinh viên năm thứ nhất (khối I khoa Điều dưỡng), sinh viên năm thứ 2 (khối II - khoa Dược ) và sinh viên năm thứ 3 (khối III Hệ liên thông ngành Dược).<br /> - Giai đoạn nghiên cứu can thiệp: Chọn ra 100 sinh viên năm thứ nhất, khoa Dược để tiến<br /> hành nghiên cứu can thiệp. Chia thành 2 nhóm: đối chứng (ĐC) - nhóm không được can thiệp và<br /> thực nghiệm (TN) - nhóm được can thiệp. Biện pháp can thiệp là giảng dạy các nội dung về SKSS<br /> trong thời gian 4 tiết.<br /> * Phương pháp nghiên cứu<br /> - Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu: Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn, đã được phê duyệt bởi<br /> Trung tâm SKSS và Kế hoạch hóa gia đình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để thu thập số liệu<br /> về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, các thông tin về mức độ nhận thức, thái độ về sức khỏe<br /> sinh sản (đặc điểm tuổi dậy thì, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua<br /> đường tình dục...) và quan điểm về giáo dục SKSS.<br /> - Phương pháp thiết kế bài giảng, hoạt động: Các hoạt động và bài giảng được thiết kế theo<br /> hướng tiết học riêng: dạy kiến thức về SKSS như tuổi dậy thì, sức khỏe tình dục, tình dục an toàn,<br /> các bệnh LTQĐTD, các BPTT trong 4 tiết học; cósử dụng các phương pháp dạy học tích cực như<br /> phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai; phương pháp trò chơi.<br /> - Phương pháp kiểm tra đánh giá: Sau thời gian can thiệp tiến hành kiểm tra đánh giá bằng bộ<br /> câu hỏi trắc nghiệm được thiết kế sẵn, gồm 30 câu, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm.<br /> - Phương pháp xử lí số liệu: Số liệu thu thập được sẽ được nhập và quản lí bằng phần mềm<br /> Epidata 3.1. Các phân tích thống kê được thực hiện trên phần mềm SPSS 16.0. Ý nghĩa thống kê<br /> được xác định với giá trị P < 0,05 theo 2 phía. So sánh tỉ lệ phần trăm bằng 2– test.<br /> <br /> 2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> 2.2.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu<br /> Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1.<br /> Đối tượng nghiên cứu được chia làm 3 khối, mỗi khối có 150 sinh viên. Trong đó 80,4% là<br /> nữ giới; dân tộc Kinh là chủ yếu (95,1%), 4,9% còn lại là các dân tộc khác (gồm các dân tộc Dao,<br /> Ê Đê, Hơ Mông, Mường, Nùng, Sán Chỉ, Sán Dìu, Tày, Thái). Về tình trạng hôn nhân có sự khác<br /> biệt giữa 3 khối (P < 0,001), sinh viên chưa kết hôn chiếm 74,4%, sinh viên đang có gia đình<br /> chiếm 23,8%, đặc biệt có 1,3% sinh viên góa vợ (chồng) và 0,5% sinh viên sống chung và không<br /> kết hôn. Về khu vực sống nông thôn chiếm 87,3 %, thành thị chiếm 12,7%.<br /> <br /> 128<br /> <br /> Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên Trường Cao đẳng Asean…<br /> <br /> Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu<br /> Đặc điểm<br /> <br /> Khối I<br /> (%)<br /> <br /> Khối II<br /> (%)<br /> <br /> Khối III<br /> (%)<br /> <br /> Tổng<br /> (%)<br /> <br /> P<br /> <br /> Giới tính<br /> Nam<br /> <br /> 18,0<br /> <br /> 23,3<br /> <br /> 17,3<br /> <br /> 19,6<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 82,0<br /> <br /> 76,7<br /> <br /> 82,7<br /> <br /> 80,4<br /> <br /> 0,357<br /> <br /> Dân tộc<br /> Kinh<br /> <br /> 92,0<br /> <br /> 96,7<br /> <br /> 96,7<br /> <br /> 95,1<br /> <br /> Khác<br /> <br /> 8,0<br /> <br /> 3,3<br /> <br /> 3,3<br /> <br /> 4,9<br /> <br /> 0,096<br /> <br /> Tình trạng hôn nhân<br /> Chưa kết hôn<br /> <br /> 95,3<br /> <br /> 90,0<br /> <br /> 38,0<br /> <br /> 74,4<br /> <br /> Đang có gia đình<br /> <br /> 2,0<br /> <br /> 7,3<br /> <br /> 62,0<br /> <br /> 23,8<br /> <br /> Góa vợ/chồng<br /> <br /> 2,0<br /> <br /> 2,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 1,3<br /> <br /> Sống chung, không kết<br /> hôn<br /> <br /> 0,7<br /> <br /> 0,7<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,5<br /> <br /> < 0,001<br /> <br /> Khu vực sống<br /> Nông thôn<br /> <br /> 87,3<br /> <br /> 85,3<br /> <br /> 89,3<br /> <br /> 87,3<br /> <br /> Thành thị<br /> <br /> 12,7<br /> <br /> 14,7<br /> <br /> 10,7<br /> <br /> 12,7<br /> <br /> 0,581<br /> <br /> 2.2.2. Thực trạng nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên<br /> * Hiểu biết về tuổi dậy thì<br /> Nghiên cứu nhận thức của sinh viên về các dấu hiệu của tuổi dậy thì (sự thay đổi thể chất,<br /> sinh lí và tâm lí) cho thấy hầu hết các em có hiểu biết tốt về vấn đề này.<br /> Với các dấu hiệu thay đổi về thể chất và sinh lí thì dấu hiệu “Tăng lên về chiều cao và cân<br /> nặng” có tỉ lệ hiểu biết cao nhất chiếm 94,9% (khối I, II, III lần lượt là 96,7%; 99,3% và 88,7%).<br /> Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu chỉ có 54,4 % [3]. Dấu hiệu<br /> “Xuất tinh lần đầu (với nam)” có tỉ lệ hiểu biết thấp nhất, chỉ chiếm 41,4%. Kết quả này cao hơn<br /> so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu (22,4 %) [3] và nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga<br /> cùng cộng sự thực hiện tại Na Rì, Bắc Kạn (22,8 %) [4].<br /> Dấu hiệu thay đổi về tâm lí mà sinh viên nhận thấy rõ nhất khi bắt đầu tuổi dậy thì là<br /> “Tính tình thay đổi” chiếm 73,3% và có sự sai khác giữa các khối (P = 0,01), tiếp đến là<br /> “Quan tâm nhiều đến hình thức” chiếm 72,2%; “Muốn người khác chú ý đến mình” chiếm 54,7%;<br /> “Tò mò” chiếm 51,1%; “Thích giao tiếp với bạn khác giới” chiếm 48,4% và “Hiếu thắng” là<br /> 26,0%; các lí do khác như “Thích nhìn cơ thể bạn khác giới”, “Thích chơi với bạn khác giới”<br /> chiếm 2,1%. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu tiến hành ở Thừa<br /> Thiên Huế với “Tính tình thay đổi” là 30,1 % và “Thích giao tiếp với bạn khác giới” là 27,1 % [3].<br /> Tỉ lệ sinh viên nhận biết được trên 5 dấu hiệu thay đổi về thể chất và sinh lí chiếm 45,3%, về<br /> tâm lí chỉ có 11,1%. Điều này cho thấy mặc dù các em đã cảm nhận được và chú ý đến những<br /> thay đổi của mình trong giai đoạn này, nhưng những dấu hiệu về tâm lí là những dấu hiệu không<br /> rõ ràng nên các em vẫn khó nhận biết.<br /> * Hiểu biết về quan hệ tình dục<br /> Hiểu biết về quan hệ tình dục (QHTD) của sinh viên được thể hiện như trong Bảng 2.<br /> 129<br /> <br /> Dương Thị Anh Đào và Nguyễn Thị Quyên<br /> <br /> Bảng 2. Hiểu biết về quan hệ tình dục của sinh viên<br /> Đặc điểm<br /> <br /> Ý<br /> kiến về<br /> QHTD<br /> trong và<br /> ngoài<br /> hôn<br /> nhân<br /> <br /> Hậu quả<br /> của việc<br /> QHTD<br /> trước và<br /> ngoài<br /> hôn<br /> nhân<br /> <br /> Khối I<br /> (n = 150)<br /> <br /> Khối II<br /> (n = 150)<br /> <br /> Khối III<br /> (n = 150)<br /> <br /> Tổng<br /> (n = 450)<br /> <br /> P<br /> <br /> %<br /> <br /> %<br /> <br /> %<br /> <br /> %<br /> <br /> Chỉ nên có QHTD<br /> trong hôn nhân<br /> <br /> 72,0<br /> <br /> 64,0<br /> <br /> 84,0<br /> <br /> 73,3<br /> <br /> < 0,001<br /> <br /> Có thể QHTD khi<br /> yêu nhưng chắc chắn<br /> sẽ kết hôn<br /> <br /> 42,7<br /> <br /> 36,7<br /> <br /> 28,0<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 0,029<br /> <br /> Có thể QHTD khi<br /> yêu nhau<br /> <br /> 31,3<br /> <br /> 22,7<br /> <br /> 18,0<br /> <br /> 24,0<br /> <br /> 0,023<br /> <br /> Có thể QHTD khi có<br /> ham muốn<br /> <br /> 5,3<br /> <br /> 16,0<br /> <br /> 16,0<br /> <br /> 12,4<br /> <br /> 0,005<br /> <br /> Không biết<br /> <br /> 3,3<br /> <br /> 3,3<br /> <br /> 7,0<br /> <br /> 2,4<br /> <br /> 0,225<br /> <br /> Có thể có thai ngoài<br /> ý muốn<br /> <br /> 96,7<br /> <br /> 86,7<br /> <br /> 97,3<br /> <br /> 93,6<br /> <br /> < 0,001<br /> <br /> Có thể phải nghỉ học<br /> và kết hôn sớm<br /> <br /> 84,0<br /> <br /> 80,7<br /> <br /> 86,7<br /> <br /> 83,8<br /> <br /> 0,369<br /> <br /> Có thể mắc các bệnh<br /> LTQĐTD<br /> <br /> 98,0<br /> <br /> 84,0<br /> <br /> 92,0<br /> <br /> 91,3<br /> <br /> < 0,001<br /> <br /> Ý kiến của sinh viên về QHTD trong và ngoài hôn nhân có sự khác biệt đáng kể giữa 3 khối<br /> (P < 0,05). Đa số các em cho rằng “Chỉ nên có QHTD trong hôn nhân” (73,3%), 35,8% sinh viên<br /> cho rằng “Có thể QHTD khi yêu nhưng chắc chắn là sẽ kết hôn”; 24,0% chọn “Có thể QHTD khi<br /> yêu”, đặc biệt có 12,4% sinh viên cho rằng “Có thể QHTD khi có ham muốn”. Kết quả này thấp<br /> hơn với nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga và cộng sự (80,6 % vị thành niên trả lời “Không thể<br /> chấp nhận việc QHTD trước hôn nhân”) [5]. Điều này cho thấy các em có suy nghĩ hiện đại hơn<br /> về tình dục trong và ngoài hôn nhân và đây là một xu hướng đang dần được giới trẻ chấp nhận.<br /> Do đó, việc giáo dục theo quan niệm truyền thống chỉ nên QHTD sau hôn nhân hoặc theo hướng<br /> “ngăn cấm” là không còn phù hợp. Điều cần thiết bây giờ là trang bị kiến thức, kĩ năng và cung<br /> cấp phương tiện để vị thành niên, thanh niên có được một đời sống tình dục an toàn và lành mạnh.<br /> Hậu quả có thể xảy ra khi có QHTD trước hôn nhân mà sinh viên lựa chọn nhiều nhất là “Có<br /> thể có thai ngoài ý muốn” chiếm 93,6%; “Có thể phải nghỉ học và kết hôn sớm” chiếm 83,8 %<br /> “Có thể mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục” chiếm 76,2 %. Tuy nhiên, còn 2,4% sinh<br /> viên trả lời “Không biết”. Mặc dù kết quả này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi ở sinh viên<br /> trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình (tỉ lệ sinh viên trả lời “Không biết” là 9,1%) [2] nhưng cho<br /> thấy vẫn còn một tỉ lệ nhỏ sinh viên chưa nhận thức được hậu quả của việc QHTD trước hôn nhân.<br /> * Hiểu biết về các biện pháp tránh thai và hậu quả của nạo phá thai<br /> Kết quả nghiên cứu hiểu biết của sinh viên về các biện pháp tránh thai (BPTT) được thể hiện<br /> trong Hình 1.<br /> Có 92,0% sinh viên cho rằng nên sử dụng BPTT khi QHTD, 6,2% các em không đưa ra được<br /> quan điểm nên lựa chọn “Không biết” và 1,8% cho rằng không nên sử dụng BPTT khi QHTD.<br /> Biện pháp tránh thai sinh viên biết đến và nghĩ nên sử dụng nhiều nhất là bao cao su (93,6%).<br /> Kết quả này cao hơn với nghiên cứu của Phạm Thị Hương Trà Linh trên đối tượng sinh viên<br /> Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ là 80% [5] và sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình<br /> 130<br /> <br /> Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên Trường Cao đẳng Asean…<br /> <br /> (80,2%) [6]. Điều này có lẽ do bao cao su là BPTT được tuyên truyền, quảng cáo nhiều, dễ sử<br /> dụng và có hiệu quả tránh thai cũng như phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục cao.<br /> Về nạo, phá thai, có 88,2 % sinh viên hiểu đúng về nạo, phá thai không phải là BPTT. Còn<br /> khi được hỏi về “Hậu quả của nạo phá thai”, hầu hết các em đều nhận thức rõ được các tác hại của<br /> nạo, phá thai. Hậu quả mà các em biết đến nhiều nhất là vô sinh (96,9%).<br /> Tuy nhiên, vẫn còn 8% sinh viên không biết hoặc cho rằng không nên sử dụng BPTT khi<br /> QHTD; 7,3% không biết bất kì một BPTT nào; và 11,8% sinh viên không biết hoặc hiểu không<br /> đúng về nạo, phá thai.<br /> <br /> Hình 1. Tỉ lệ hiểu biết của sinh viên về các BPTT<br /> * Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục<br /> Điều tra hiểu biết của sinh viên về bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) cho thấy<br /> bệnh mà sinh viên biết nhiều nhất là bệnh giang mai (91,3%), tiếp đến là bệnh lậu (90,9%), bệnh<br /> nấm cơ quan sinh sinh dục (84,2%). Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng<br /> Hạnh và cộng sự (bệnh giang mai 89,9%; bệnh lậu 88,3%) [7] và nghiên cứu ở sinh viên Cao đẳng<br /> Sư phạm Thái Bình (bệnh giang mai 75,3%, bệnh lậu 71,3%) [6]. Tuy nhiên, còn một tỉ lệ lớn<br /> sinh viên (chiếm 87,1%) cho rằng “Bệnh viêm nhiễm cơ quan sinh dục” là BLTQĐTD và 5,1%<br /> sinh viên không biết về các BLTQĐTD.<br /> Về các con đường lây truyền BLTQĐTD, có 97,1% sinh viên cho rằng “Qua QHTD”. Nhưng<br /> vẫn còn nhiều sinh viên cho rằng việc muỗi đốt (14,4%), việc sử dụng bể bơi, nhà vệ sinh công<br /> cộng (17,8%), việc tiếp xúc, ôm hôn, bắt tay với người mắc bệnh (9,6%) là con đường lây truyền<br /> các BLTQĐTD. Đây là những hiểu biết sai lệch, làm ảnh hưởng đến tâm lí sợ bệnh quá mức và có<br /> thái độ xa lánh người bệnh.<br /> Hầu hết các em đều hiểu biết khá cao về cách phòng tránh cơ bản các BLTQĐTD như “Sử<br /> dụng bao cao su khi QHTD” (92,0%); “Không QHTD với gái mại dâm” (90,0%); “Không QHTD<br /> với nhiều người” (89,6%); “Không dùng chung bơm kim tiêm” (76,9%). Kết quả này tương<br /> đương với nghiên cứu SAVY 2 (hầu hết VTN, TN đều biết BCS có thể giúp phòng tránh các bệnh<br /> LTQĐTD và HIV (93,7%) [1].<br /> 2.2.3. Quan điểm của sinh viên về giáo dục sức khỏe sinh sản<br /> * Ý kiến của sinh viên về giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh niên<br /> Hầu hết tất cả sinh viên cho rằng cần thiết phải giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh<br /> niên (98,9%). Các lí do nên giáo dục tình dục chủ yếu mà các em đưa ra là “Để nâng cao kiến<br /> thức về SKSS và tình dục” (96,0%); tiếp đến là “Để tránh những hiểu biết sai lầm trong QHTD”<br /> chiếm 90,9%, “Để tránh mang thai ngoài ý muốn” chiếm 82,2%.<br /> 131<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2