intTypePromotion=1

Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An

Chia sẻ: Kinh Kha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

0
28
lượt xem
4
download

Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi một cách sâu sắc vai trò của các tác nhân trong nền kinh tế nông nghiệp. Hộ gia đình nông dân trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ có tư cách pháp nhân và hợp tác xã trở thành một đơn vị dịch vụ. Mời các bạn cùng tìm hiểu vấn đề này qua nội dung bài báo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An

  1. TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 28, 2005 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XàNÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NGHỆ AN Mai Văn Xuân            Trường Đại học Kinh tế, Đại học   Huế  1. Đặt vấn đề  Công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi một cách sâu sắc vai  trò của các tác nhân trong nền kinh tế  nông nghiệp. Hộ  gia đình nông dân trở  thành  một đơn vị  kinh tế  tự  chủ có tư  cách pháp nhân và hợp tác xã trở  thành một đơn vị  dịch vụ. Công cuộc trên đòi hỏi phải đổi mới các mô hình hợp tác xã (HTX) đã có   trước đây. Vì vậy, ngày 01/01/1997, Luật Hợp tác xã có hiệu lực và đã trở  thành cơ  sở pháp lý để các địa phương thay đổi mô hình hoạt động kinh tế HTX. Nghệ An là   một trong những địa phương có nhiều nỗ  lực trong việc cũng cố  và phát triển HTX  và bước đầu các HTX đã trở  thành cầu nối chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản   xuất nông nghiệp, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giúp   kinh tế  hộ  phát triển. Tuy nhiên, các mô hình HTX vẫn còn nhiều tồn tại, năng lực  hoạt động và quản lý của cán bộ  HTX còn hạn chế, hiệu quả  hoạt động và lợi ích   mang lại cho xã viên chưa nhiều. Nghiên cứu này nhằm phản ảnh một số nét về tình   hình đổi mới hoạt động kinh tế  HTX và tìm ra một số  giải phát để  đẩy mạnh phát  triển HTX ở Nghệ An.  Phương pháp nghiên cứu: điều tra 12 HTX ở ba huyện Quỳnh Lưu, Đô Lương,  và Nghĩa Đàn (mỗi huyện lựa chọn 4 HTX) để nắm bắt tình hình hoạt động của các  HTX; các báo cáo về  tình hình phát triển HTX của Sở  NN&PTNT, của UBND tỉnh   Nghệ  An và các nguồn tài liệu có liên quan khác, trao đổi với các chuyên gia và các   nhà khoa học để đánh giá thực trạng của HTX; các phương pháp thống kê mô tả  và  phân tích kinh tế cũng được sử dụng trong nghiên cứu này. 2. Thực trạng tình hình phát triển HTXNN ở Nghệ An a) Tình hình hoạt động của các HTX 5
  2. Sau  hơn  6 năm  thực  hiện  Luật  hợp  tác  xã,  đến nay  toàn  tỉnh  Nghệ  An  đã  chuyển đổi và thành lập mới được 363 HTXNN (trong đó chuyển đổi 311 HTX và  thành lập mới được 52 HTX). Kết quả  hoạt động của các HTX được thể  hiện  ở  bảng 1. 6
  3. Bảng 1: Tình hình hoạt động của các HTX NN tỉnh Nghệ An, năm 2002 ĐVT  Số lượng  Tỷ lệ (%) Tổng số HTXNN toàn tỉnh HTX 363 100  Số xã viên đăng ký vào lại HTX % ­ 86,0  Số xã viên bình quân một HTX Xã viên 1.764 ­  Số cán bộ quản lý/HTX Người  5­6 ­  Số HTX hoạt động hiệu quả khá  HTX 127 35,0  Số HTX hoạt động hiệu quả trung bình  HTX 184 51,0  Số HTX hoạt động kém hiệu quả  HTX 52 14,0   Số   HTX   được   cấp   giấy   đăng   ký   kinh  HTX 231 63,6 doanh  Số HTX có góp vốn mới HTX 24 6,6  Số HTX kinh doanh có lãi HTX 158 43,5  Số HTX có lãi từ 20 triệu trở lên  HTX 74 47,0 Nguồn: báo cáo của Sở NN&PTNT Nghệ An về kết quả thực hiện đổi mới HTXNN theo  tinh thần Nghị quyết TW lần thứ 5 (khóa IX); tháng 7 năm 2003. Số liệu trên chứng tỏ hầu hết các HTX hoạt động còn ở mức trung bình, số hợp  tác xã hoạt động có kết quả tốt còn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (khoảng 35%), trong   khi đó còn tồn tại một tỷ  lệ  đáng kể  các HTX hoạt động còn yếu kém (14% số  HTX). Tuy nhiên, bước đầu các HTX đã thích  ứng với cơ  chế  mới, số  HTX kinh  doanh có lãi chiếm trên 43% tổng số HTX toàn tỉnh, trong đó gần một nửa (47%) có   mức lãi từ  20 triệu đồng trở  lên. Rõ ràng, trong bối cảnh thay đổi cơ  chế  quản lý   kinh tế và đặc biệt là thay đổi nội dung và phương thức hoạt động, phong trào HTX  ở Nghệ An bước đầu đạt được những kết quả đáng kích lệ. b) Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý HTX Trong những năm qua, chính quyền địa phương đã tích cực đào tạo và nâng cao   trình độ  cho cán bộ cơ sở với các hình thức liên kết với các trường Đại học và Cao   đẳng, mở  các lớp đào tạo ngắn hạn cho cán bộ. Song nhìn chung, trình độ  của đội   ngũ cán bộ quản lý HTX còn yếu, phần lớn thiếu kiến thức về quản lý kinh tế, kinh   doanh. Thậm chí nhiều người, đặc biệt là đội ngũ kế toán trưởng, chưa qua đào tạo   về  chuyên môn, nghiệp vụ nên đã làm  ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả  hoạt động  kinh doanh của HTX. Số liệu bảng 2 còn cho thấy, thù lao của cán bộ  quản lý HTX   còn rất thấp, bình quân thu nhập của chủ nhiệm trên 200.000 đồng/tháng. Điều này   7
  4. đã làm cho một bộ  phận cán bộ  HTX có năng lực muốn chuyển sang hoạt động  ở  chính quyền hoặc đơn vị khác để có thù lao cao hơn và có bảo hiểm. 8
  5. Bảng 2: Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý của HTX  năm 2002 Chia theo trình độ (%) Tổng số  Lương Đại học,  Trung  Sơ cấp Chưa  (người) (1000đ/th) C.đẳng  cấp đào tạo 1. Chủ nhiệm  HTX 363 27,0 31,7 9,4 31,9 210 2. Kế toán trưởng  363 4,2 32,5 55,0 8,3 170 3. Trưởng Ban kiểm soát  346 2,9 14,7 20,2 62,8 150 Nguồn: báo cáo của Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn Nghệ An  năm 2003 c) Vốn kinh doanh của HTX Vốn kinh doanh bình quân của HTX còn thấp, trên 1 tỷ  đồng. Điều đáng quan  tâm là hầu hết vốn của HTX đều bị  chiếm dụng (gần 94%) chỉ còn trên 6% là thực  tế đưa vào hoạt động kinh doanh. Khi chuyển sang hoạt động theo mô hình mới, với   tư cách là đơn vị kinh doanh dịch vụ, hầu hết các HTX đều thiếu vốn. Lý do là phần   vốn của HTX cũ chuyển sang không đáng kể, hầu hết xã viên có thu nhập thấp vì   vậy cổ phần thấp, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn của ngân hàng. Kết  quả điều tra 12 HTX ở các huyện cho thấy rằng trên 75% số HTX cho rằng khó tiếp  cận được các nguồn vay từ ngân hàng, tín dụng chính thống, không chính thống. Bảng 3: Tình hình vốn kinh doanh của các HTX NN tỉnh Nghệ An  năm 2002 ĐVT Số lượng ­ Vốn kinh doanh của HTX Triệu đồng 1.100 ­ Trong đó: vốn thực tế đưa vào  % 6,3 KD Vốn bị chiếm dụng % 93,7 ­ Nợ phải thu bình quân 1 HTX Triệu đồng 159,3 Trong đó: phải thu từ xã viên Triệu đồng 122,6 ­ Nợ phải trả bình quân 1 HTX Triệu đồng 82,5 Trong đó: phải trả cho ngân hàng Triệu đồng 23,3 Nguồn: báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An về đề án tiếp tục đổi mới, phát triển và  nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác và HTX NN  năm 2003. Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp là có lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi   vốn dài và mức độ rủi ro cao...  nên có 75% các HTX đều xác định rằng cần phải có  sự thay đổi tích cực hơn nữa từ các chính sách của Chính phủ về vấn đề vay vốn cho  các HTX và thời gian vay vốn cần phải dài hơn. Ngoài ra, có đến 66,7% các HTX yêu   cầu cần phải có nhiều nguồn vốn cho vay hơn, thủ  tục đơn giản hơn, thế  chấp ít   hơn và lãi suất thấp hơn đối với loại hình các HTX nông nghiệp. 9
  6. d) Các hoạt động của HTX Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng do thủy lợi là một nội dung không thể thiếu   được trong sản xuất nông nghiệp, mặc khác các công trình thủy lợi lại được Nhà   nước đầu tư, nên có đến 96% số  HTX đảm nhận dịch vụ  thủy nông; 92% số  HTX   đảm nhận dịch vụ  bảo vệ  thực vật và khuyến nông, 62% các HTX đảm nhận dịch  vụ điện. Tuy nhiên, hầu hết các HTX đều không đảm nhận dịch vụ thú y (trên 80%),  cung cấp phân bón và giống (73%), đặc biệt là dịch vụ  tiêu thụ  sản phẩm cho nông   dân (94%). Nguyên nhân chính là do năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ  còn hạn  chế, thiếu nhạy cảm với thông tin thị trường, vốn kinh doanh ít ỏi, và khả năng cạnh  tranh của các HTX với tư nhân trong việc thực hiện các dịch vụ này còn yếu. Bảng 4: Mức độ đảm nhận các hoạt động dịch vụ của các HTX (% số HTX) Các hoạt động dịch vụ Số lượng Thủy nông  96,0 Bảo vệ thực vật và khuyến nông  92,0 Điện (thắp sáng) 62,0 Cung cấp phân bón và giống  27,0 Thú y 19,0 Tiêu thụ sản phẩm 6,0 Số HTX hoạt động dịch vụ từ 5 khâu trở lên. 72,0 Nguồn: báo cáo của Sở NN&PTNT về kết quả thực hiện đổi mới HTXNN  theo tinh thần Nghị quyết TW lần thứ 5 (khóa IX) tháng 7 năm 2003. e) Một số nét đặc trưng của HTX kiểu mới Bảng 5.  So sánh một số đặc trưng của mô hình HTX cũ và mới Đặc trưng cơ bản HTX kiểu  cũ HTX kiểu mới Quá trình hình thành  Vận động và bắt buộc  Tự nguyện, bình đẳng Quy mô HTX Theo đơn vị hành chính Không theo đơn vị hành chính Cơ chế quản lý  Tập trung, bao cấp  Cơ chế thị trường  Chủ thể quản lý  HTX  Hộ gia đình xã viên, HTX Chế độ sở hữu  Tập thể  Cổ phần Lĩnh vực hoạt động  Sản xuất  Dịch vụ, sản xuất Thước đo hoạt động  Quan hệ sản xuất Hiệu quả kinh tế  Phân phối  Ngày công (công điểm) Vốn góp, lao động Nguồn để phân phối Thu nhập của HTX Lãi của HTX 10
  7. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp đã tác động và làm thay đổi  một cách sâu sắc hình thức tổ chức và nội dung hoạt động của mô hình HTX. Nghiên   cứu các đặc trưng cơ  bản giữa mô hình HTX kiểu cũ và mới có ý nghĩa lý luận và   thực tiễn sâu sắc nhằm giúp cho chúng ta phân biệt được hình thức tổ chức sản xuất  kinh doanh, sở hữu về tư liệu sản xuất và tài sản, đặc biệt cách thức phân phối kết  quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, giúp cho xã viên thấy được lợi ích và   trách nhiệm của mình trong quá trình xây dựng HTX. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của   các chuyên gia, các nhà khoa học và tham khảo những tài liệu liên quan khác, bước  đầu chúng tôi xin nêu ra một số đặc trưng cơ bản giữa hai mô hình HTX ở bảng 5.    3. Đánh giá chung về kết quả đổi mới và hoạt động của các HTX     Qua nghiên cứu tình hình phát triển HTXNN trong những năm qua, có thể  thấy  rằng HTXNN đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ  kinh tế  hộ  gia đình phát  triển, thúc đẩy dịch chuyển cơ  cấu kinh tế, cơ  cấu cây trồng vật nuôi của các địa   phương, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và giống mới vào sản xuất. HTXNN cũng góp  phần đáng kể  trong việc xây dựng cơ  sở  hạ  tầng, xóa đói giảm nghèo, giải quyết   việc làm cho người lao động. Song nhìn chung, quá trình chuyển đổi và thành lập còn   bộc lộ một số tồn tại sau: ­ Phương án sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã chưa bám sát nhu cầu thực tế  của các hộ  gia đình và trang trại; chưa nắm bắt được nhu cầu thị  trường, thụ  động  trong kinh doanh; liên doanh, liên kết giữa các HTX, giữa HTX với các tổ  chức, cá   nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhà nước còn lỏng lẽo.  ­ Phần lớn cán bộ quản lý HTX chưa qua đào tạo, thiếu kiến thức quản lý và thị  trường; Chế độ thù lao đối với cán bộ HTX chưa được quan tâm đúng mức; Xã viên  chưa tin tưởng vào HTX.  ­ Hầu hết các HTX đều đang trong tình trạng thiếu vốn hoạt động. Việc vay từ  các ngân hàng, kho bạc hay các kênh tài chính khác thường gặp khó khăn do không có   tài sản thể  chấp. Việc huy động vốn góp từ  xã viên cũng gặp nhiều khó khăn do   phần lớn dân còn nghèo, hơn nữa xã viên chưa thực sự tin tưởng vào HTX, hầu hết   có tâm lý lo ngại hoạt động của HTX như mô hình cũ. ­ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch chậm, sản xuất chưa theo   sát nhu cầu thị trường, đa số  sản phẩm sản xuất ra chất lượng không đảm bảo, giá   thành cao nên khó tiêu thụ.  11
  8. 4. Các giải pháp cơ  bản để  nâng cao hiệu quả  hoạt động kinh doanh của   các HTX  ­ Tăng cường công tác tuyên truyền luật HTX và các văn bản khác để củng cố và   phát triển các HTX đúng luật. Phát triển kinh tế HTX cần gắn liền với phát huy cơ  chế  dân chủ cơ  sở, đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát. Tăng cường sự  lãnh đạo  của Đảng, sự quản lý Nhà nước đối với HTX. ­ Làm tốt công tác qui hoạch, xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh   của HTX. Củng cố  và đổi mới các hoạt động dịch vụ  của HTX (dịch vụ  chế  biến,  tiêu thụ nông sản phẩm, giống và các tiến bộ kỹ thuật, tín dụng...). ­ Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ HTX. Cần có chính sách khuyến khích cán   bộ quản lý, cán bộ KHKT được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng và trung học   về  làm việc tại các HTX. Tạo khung pháp lý trong việc phân chia lợi nhuận hoạt  động của các HTX và xã viên để khuyến khích hoạt động HTX ngày càng hiệu quả  hơn.  ­ Tăng cường và mở rộng mối liên doanh, liên kết giữa các HTX, giữa HTX với   các tổ chức kinh tế và khoa học khác. Xây dựng các HTX ngoài chức năng phục vụ  kinh tế hộ còn hoạt động như là doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp và là trung tâm   chuyển giao các tiến bộ  KHKT trên địa bàn. Khuyến khích phát triển các tổ, nhóm  hợp tác (liên gia, liên hộ trong địa phương). Cần xây dựng môi trường thuận lợi cho  các HTX hoạt động, tránh can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của HTX.    5. Kết luận:    Hợp tác là một quá trình tất yếu trong sản xuất kinh doanh. Việc khẳng định hộ  gia đình là đơn vị  kinh tế  tự  chủ, rõ ràng HTX cần được củng cố  và phát triển để  cung cấp các dịch vụ cho phát triển kinh tế hộ gia đình. Nhờ  thực hiện được những   đổi mới theo Luật Hợp tác xã năm 1997, quá trình chuyển đổi và thành lập mới các   HTX ở Nghệ An đã đạt được những thành tích đáng kể, xã viên tìm thấy được lợi ích   khi tham  gia và tự  nguyện xây dựng HTX. Tuy nhiên, do  ảnh hưởng của nhiều   nguyên nhân, trong đó đặc biệt là năng lực đội ngũ cán bộ  HTX còn hạn chế, hệ  thống chính sách của Nhà nước còn thiếu đồng bộ... mà nhiều HTX còn lúng túng   trong việc hoạch định phương hướng hoạt động, hiệu quả  kinh doanh còn thấp, xã   viên chưa thực sự tin tưởng, tâm lý lo ngại xây dựng theo mô hình HTX kiểu cũ vần  tồn tại. Nghiên cứu đã đề xuất được hệ thống các giải pháp khá đồng bộ để giúp địa  phương trong quá trình chuyển đổi và xây dựng HTX theo mô hình mới.   TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An (2000 ­ 2003) 2.  Báo cáo của sở  NN&PTNT về  kết quả  thực hiện đổi mới HTXNN theo tinh thần   Nghị quyết TW lần thứ 5 khóa IX (7/2003). 12
  9. 3. Báo cáo của UBND tỉnh Nghệ an về đề  án tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao   hiệu quả kinh tế hợp tác và HTX NN (2002). 4. Luật Hợp tác xã (1997). 5. Đào Thế Tuấn. Kinh tế hộ nông dân. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội (1997). 6. Chu Tiến Quang. Việc làm ở nông thôn: Thực trạng và giải pháp. NXB Nông nghiệp.  Hà Nội (2001). 7. Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng. Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và   Châu Á. NXB Thống kê Hà Nội (1993). 8. Phạm Đỗ  Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt.  Những vấn đề  kinh tế  Việt Nam:   Thử thách của Hội nhập. NXB tp. HCM (2002). 9. Yuan. Sự  phát triển nông trại nhỏ ở  Đài Loan ở  Đài Loan ­ Một chương trình có ý   nghĩa trên thế giới. NXB Nông nghiệp (1994). 10. K. Peter & W. Sophia. The Economics of Household Behaviour. Macmillan Press Ltd,  (1997). 11. E.   Frank.  Peasant   Economics:   Farm   Households   and   Agrarian   Development.  Cambrigge University Press. Second edition. STATUS AND SOLUTIONS OF THE DEVELOPMENT AGRICULTURAL  COOPERATIVES IN NGHE AN PROVINCE Mai Van Xuan College of Economics, Hue University SUMMARY The   innovation   of   economic   mechanism   has   changed   dramatically   the   role   of   the   agricultural cooperatives. The farming households have become  the  autonomous  grass­root   unit   of   agricultural   economy   and   the   cooperatives’   service­providing   units.   Therefore,   reorganizing and restructuring the function of the cooperatives are indispensable. The study   shows   that   the   agricultural   cooperatives   in   Nghe   An   Province   plays   an   important   role   in   transferring technical advances into production, building infrastructure, creating jobs as well   as   making   their   contribution   to   hunger   eradication   and   poverty   reduction.   However,   the   knowledge and agricultural business doing skills of the cooperative staff are still limited, and   the operation mode of the cooperatives proves to be poor and inefficient.  In order to enhance the business efficiency of the cooperatives, the following solutions   should be done: a) improving business planning; b) training the cooperatives’ staff, especially   their   knowledge   and   business   doing   skills;   c)   strengthening   the   relationship   between   the   cooperatives and other organizations such as banks, scientific institutions...; and d) creating a   13
  10. favorable   environment   for   their   cooperative   activities,   and   minimizing   the   intervention   in   cooperative business activities.   14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản