intTypePromotion=3

Tiểu luận: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước

Chia sẻ: Hà Nguyễn Thúy Quỳnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:24

0
199
lượt xem
83
download

Tiểu luận: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI, TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI THƠNG MẠI. 1.1 Những vấn đề lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến những cân bằng bên ngoài mà còn tác động đến cả những cân đối bên trong nền kinh tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước

  1. TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- TIỂU LUẬN Đề tài: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước
  2. Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI, TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI THƠNG MẠI. 1.1 Những vấn đề lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến những cân bằng bên ngoài mà còn tác động đến cả những cân đối bên trong nền kinh tế. Phân tích những tác động chủ yếu của tỷ giá hối đoái đến thơng mại nói riêng và nền kinh tế nói chung giúp chúng ta thấy rõ tầm quan trọng cũng nh vai trò của nó đối với phát triển kinh tế của các nớc. Đó cũng là cơ sở cho việc lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay đợc các chính phủ rất coi trọng. 1.1.1 Tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một nớc khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Nó là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia. Về cơ bản, phân tích vấn đề tỷ giá cần tập trung chú trọng vào hai vấn đề cơ bản sau: các nhân tố tác động đến sự biến động của tỷ giá hối đoái và các chế độ tỷ giá hối đoái. 1.1.1.1 Các nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái.
  3. Ngày nay, tỷ giá hối đoái biến động rất thờng xuyên và thất thờng. Sự tăng hay giảm của tỷ giá hối đoái chịu ảnh hởng rất nhiều nhân tố khác nhau, trong đó ta chia hai dạng : đó là nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá dài hạn và nhân tố ngắn hạn. Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá dài hạn: Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động tới quan hệ cung cầu ngoại tệ. Đó là: mức giá cả tơng đối, chính sách bảo hộ, sở thích của ngời tiêu dùng và năng suất lao động. Mức giá cả tơng đối Khi mức giá cả hàng hoá, dịch vụ trong nớc tăng so với mức giá cả của hàng hoá - dịch vụ nớc ngoài, các hãng sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng, các hãng sản xuất của một nớc nói chung có xu hớng thu hẹp quy mô sản xuất do chi phí đầu vào tăng. Do đó xuất khẩu giảm, cung ngoại tệ giảm, đồng thời cầu về hàng nội tệ giảm xuống và cầu về hàng hoá nớc ngoài tăng lên, cầu ngoại tệ tăng lên. Đồ thị đờng cầu ngoại tệ D1,D2: E(VND/USD) S2 S1,S2: đờng cung ngoại tệ E2 S1 E1 D1 D2 Q Sự dịch chuyển đờng cung và đờng cầu ngoại tệ do tác động gia tăng của mức giá cả hàng hoá một nớc, làm cho tỷ giá hối đoái tăng và đồng tiền của nớc đó giảm. Nh vậy, về lâu dài, sự gia tăng trong mức giá của một nớc so với mức giá của nớc ngoài sẽ làm cho tỷ giá hối đoái biến đổi theo hớng tăng lên và đồng tiền của nớc đó giảm giá. Chính sách bảo hộ Chính sách bảo hộ là các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đợc các nớc dựng lên để bảo vệ lợi ích và tạo sức cạnh tranh cho các ngành công nghiệp non trẻ của một nớc trong thơng mại quốc tế. Chính sách bảo hộ này đã ngăn cản tự do buôn bán và làm tổn hại đến lợi ích của một số các ngành kinh tế, các khu vực kinh tế khác và làm giảm lợi ích của những ngời tiêu dùng. Sự tăng cờng các biện bảo hộ dới các hình thức nh thuế quan, quato,
  4. làm hạn chế khối lợng hàng hoá nhập khẩu, do đó làm giảm cầu về ngoại tệ, chuyển dịch đờng cầu ngoại tệ xuống phía dới, về lâu dài làm giảm tỷ giá, đẩy giá trị của đồng nội tệ tăng lên E(VND/USD) S1 E1 E2 D2 D1 Q Sở thích ngời tiêu dùng Thực tế trên thị trờng nói chung và trong thơng mại quốc tế nói riêng cho thấy ngay cả khi hàng hoá trong nớc và nớc ngoài đã có những đặc điểm giống nhau nh về giá cả, chất lợng, hình thức... thì chúng vẫn không có khả năng thay thế hoàn toàn cho nhau chỉ vì ngời tiêu dùng có sở thích khác nhau V í dụ : E(VND/USD) S1 E1 E2 D2 D1 Q Khi ngời dân thích dùng hàng nội hơn, cầu về hàng nội tăng, cầu về hàng ngoại giảm, đờng cầu ngoại tệ dịch trái, tỷ giá hối đoái giảm từ E1 xuống E2, và đồng VND tăng giá. Ngợc lại, thì tỷ giá hối đoái tăng và đồng tiền nớc đó giảm giá. Năng suất lao động
  5. Năng suất lao động tăng lên thể hiện sự phát triển kinh tế và sử dụng nó hiều quả cao hơn các nguồn lực khác. Năng suất lao động tăng lên làm chi phí sản xuất giảm, các cơ sở sản xuất có cơ hội mở rộng kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm. Hàng nội có giá rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao hơn và các nhà sản xuất thu đợc lãi nhiều hơn. Năng suất lao động cao hơn là cơ sở để hàng nội thay thế hàng ngoại ở thị trờng trong nớc và vơn ra thị trờng nớc ngoài; kích thích tăng xuất khẩu, tăng cung ngoại tệ và đờng cung ngoại tệ dịch phải. Đồng thời làm nhu cầu hàng ngoại giảm, nhập khẩu giảm, cầu ngoại tệ giảm, đờng cầu ngoại tệ dịch trái, kéo tỷ giá xuống E2 và đồng nội tệ tăng giá E(VND/USD) S1 E1 S2 E2 D1 D2 Q Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động. Đó là: Mức chênh lệnh lạm phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự đoán về tỷ giá hối đoái. Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia Nếu nh mức độ lạm phát giữa hai nớc khác nhau, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng hoá ở hai nớc đó có những biến động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ, làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Ảnh hởng của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái có thể đợc minh họa ở đồ thị sau:
  6. Giả sử Việt Nam có tỷ lệ lạm E(USD/VND) S2 phát cao hơn Mỹ. Thì tăng nhu cầu về S1 USD, cung USD giảm, làm cho đồng VND giảm giá. D2 D1 Q Nếu tỷ lệ lạm phát ở một nớc cao hơn so với nớc khác, giá cả hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ nớc đó sẽ tăng lên, và do đó nhu cầu về hàng hoá dịch vụ này ở nớc khác sẽ giảm xuống. Cùng với nhu cầu về hàng hoá dịch vụ giảm, nhu cầu về đồng tiền nớc đó ở nớc ngoài cũng sẽ giảm xuống. Sự giảm nhu cầu về đồng nội tệ, tơng đơng với sự giảm cung trên thị trờng ngoại hối. Ngợc lại, nhu cầu hàng hoá dịch vụ của nớc ngoài tăng lên, do đó cầu ngoại tệ tăng. Sự tăng lên nhu cầu ngoại tệ xẩy ra cùng với sự giảm xuống của cung ngoại tệ sẽ gây lên sự giảm giá của đồng nội tệ. Tơng tự nh vây, nếu tỷ lệ lạm phát ở nớc này tăng lên so với tỷ lệ lạm phát của nớc khác, thì đồng nội tệ sẽ tăng giá. Mức chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia Khi mức lãi suất ngắn hạn của một nớc tăng lên một cách tơng đối so với các nớc khác, trong những điều kiện bình thờng, thì vốn ngắn hạn từ nớc ngoài sẽ đổ vào nớc nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra. Điều đó làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, dẫn đến sự thay đổi tỷ giá. Những dự đoán về tỷ giá hối đoái
  7. Dự đoán của những ngời tham gia vào thị trờng ngoại hối về triển vọng lên giá hay xuống giá của một đồng tiền nào đó có thể là một nhân tố quan trọng quyết định tỷ giá. Những dự đoán này có liên quan chặt chẽ đến những dự đoán về biến động tỷ lệ lạm phát, lãi suất và thu nhập giữa các quốc gia. Giả sử rất nhiều ngời tham gia vào thị trờng ngoại hối đều cho rằng đồng USD sẽ giảm giá trong thời gian tới, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Điều này dẫn đến cung về USD sẽ tăng lên vì nhiều ngời muốn bán chúng. Đồng thời, cầu về USD sẽ giảm xuống Ảnh hởng này đợc minh hoạ bằng đồ thị: E(USD/VND) S1 S2 . D1 D2 Q Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hởng của các nhân tố khác nh khủng bố, thiên tai đình công, các quyết sách lớn cảu nhà nớc... Điều này có thể giải thích sự thay đổi đột ngột, thất thờng của tỷ giá mà không theo quy luật nào. Nh vậy, trong điều kiện hiện nay, tỷ giá hối đoái chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố. Việc xác định đúng và kịp thời các nhân tố này là cơ sở quan trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc. 1.1.1.2 Các dạng chế độ tỷ giá hối đoái.
  8. Các chế độ cố định cơ bản: Tỷ giá gắn : ỹ Vào một đồng tiền: nền kinh tế gắn đồng tiền của mình vào những đồng tiền quốc tế chủ chốt mà không hoặc rất hiến khi điều chỉnh giá trị so sách của chúng; các nền kinh tế thờng công bố trớc lịch điều chỉnh tỷ giá của đồng tiền nớc mình so với đồng tiền mà nó gắn vào theo mức cố định. ỹ Vào một rổ các loại đồng tiền: các nớc gắn đồng tiền mình vào một rổ đồng tiền giao dịc chính hoặc hỗn hợp các đồng tiền tiêu chuẩn. ỹ Trong khoảng chênh lệch xác định trớc: các nớc gắn đồng tiền mình vào một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền trong khoảng chênh lệch nhất định. ỹ Cố định nhng có điều chỉnh: biên độ khoảng + 2% Các chế độ linh hoạt cơ bản: tỷ giá có điều chỉnh và linh hoạt ỹ Theo các chỉ số: nền kinh tế tự động điều chỉnh đồng tiền của mình theo sự that đổi trong các chỉ số cho trớc. ỹ Thả nổi có kiểm soát: các nớc thờng xuyên điều chỉnh tỷ giá hiện nay trên cơ sở đánh giá diễn biến của các biến số nh tình hình dự trữ và thanh toán. ỹ Thả nổi tự do: các nớc cho phép thị trờng và các lực lợng thị trờng quyết định tỷ giá đồng tiền của mình. 1.1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ đợc dùng để tác động tới quan hệ cung- cầu ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái gồm hai vấn đề lớn: một là vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và hai là vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái. 1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận của hệ thống chính sách tài chính, tiền tệ, thực hiện các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Trong nền kinh tế mở, mục tiêu của việc hoạch định chính sách nói chung, chính sách tài chính, tiền tệ và chính sách tỷ giá nói riêng là nhằm đạt đợc các cân đối bên trong và cân đối bên ngoài của nền kinh tế. Cân bằng nội đạt đợc khi các nguồn lực kinh tế của một quốc đợc sử dụng đầy đủ với mức giá ổn định. Việc sử dụng không thiếu hoặc quá nguồn lực dẫn đến lãng phí không đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra còn làm cho mức giá chung bị biến động, giá trị thực tế của đồng tiền không ổn định, dẫn đến giảm hiệu quả của nền kinh tế. Sự không ổn định của giá cả còn có tác động làm thay đổi hoặc tăng tính rủi ro cao của các món nợ.
  9. Vì vậy, với mục tiêu tránh tình trạng mất ổn định của giá cả và ngăn chăn sự dao động lớn trong tổng sản phẩm, chính sách tỷ giá đã tránh cho nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hoặc giảm phát kéo dài và đảm bảo việc cung ứng tiền không quá nhanh hoặc quá chậm. Khác với cân bằng nội, cân bằng ngoại đạt đợc lại dựa vào trạng thái của cán cân tài khoản vãng lai. Một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy rằng nớc đó đang đi vay nợ của nớc ngoài. Khoản nợ này, sẽ đáng lo ngại khi nó đợc sử để đầu t có hiệu quả, bảo đảm trả đợc nợ trong tơng lai và có lãi. Nhng nếu khoản thâm hụt này kéo dài và không tạo ra đợc những cơ hội đầu t có hiệu quả thì nó sẽ tạo ra nguy hiểm đến nền kinh tế. Ngợc lại, khi tài sản vãng lai d thừa cho thấy rằng nớc đó đang tích tụ tài sản của mình ở nớc ngoài, nghĩa là họ là ngời cho vay. Nếu sự d thừa này diễn ra liên tục có thể dẫn đến có ảnh hởng nghiêm trọng đến cân đối bên trong nền kinh tế, đồng thời tăng rủi ro về khả năng thu hồi các khoản cho vay. Sẽ có nhiều nguồn lực bị bỏ lãng phí không đợc sử dụng, sản xuất một số ngành bị đình trệ, tăng trởng giảm và thất nghiệp gia tăng. Nh vậy, mục tiêu cân đối bên ngoài đòi hỏi chính sách tỷ giá phải duy trì tài khoản vãng lai không thâm hụt hoặc dc thừa quá mức để tránh những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế quốc gia. 1.1.2.2 Căn cứ để lựa chọn chính sách tỷ giá. Việc lựa chọn chế độ tỷ giá xoay quanh hai vấn đề chính: mối quan hệ giữa các nền kinh tế quốc gia với cả hệ thống toàn cầu và mức độ hoạt tính của các chính sách kinh tế trong nớc. Vấn đề thứ nhất, thực chất là lựa chọn hệ thống mở cửa hay đóng cửa. Các phơng án đặt ra cho việc lựa chọn hệ thống tỷ giá thiên về hoặc tỷ giá cố định hoặc tỷ giá linh hoạt hoặc kết hợp cả hai. Nếu quốc gia lựa chọn hệ thống tỷ giá cố định, là tơng đơng với việc chọn hệ thống mở cửa, trong đó luôn có sự tơng tác giữa các nhân tố quốc gia và cả hệ thống còn lại. Bởi vì việc hoạch định chính sách đối nội trở thành ngoại sinh và tuân thủ theo thoả ớc tỷ giá khi quốc gia đó lựa chọn chế độ này. Ngợc lại, phơng án tỷ giá linh hoạt, về nguyên tắc, không chấp nhận một ràng buộc nào vào các chính sách kinh tế đối nội. Các chính sách có tác động gì đi nữa thì sự giao động tỷ giá sẽ giữ chúng chỉ gây ảnh hởng trong phạm vi quốc gia. Và tơng ứng với điều đó, kết quả của các chính sách kinh tế nớc ngoài dù thế nào đi chăng thì điều chỉnh tỷ giá sẽ giữ ảnh hởng của chúng nằm ngoài phạm vi quốc gia. Vậy việc lựa chọn cơ chế hối
  10. đoái linh hoạt đồng nhất với lựa chọn hệ thống đóng cửa, trong đó tỷ giá linh hoạt sẽ tách rời nền kinh tế quốc gia khỏi môi trờng quốc tế. Vấn đề mức độ hoạt tính của các chính sách kinh tế đối nội, rõ ràng có các mức độ khác nhau. Vì tỷ giá cố định thể hiện sự cam kết áp đặt các ràng buộc đối với chính sách kinh tế quốc gia, không thể theo đuổi chính sách đối nội một cách độc lập. Ngợc lại, tỷ giá linh hoạt là một công cụ chính sách có thể sử dụng để giữ cho các hoạt động kinh tế của hệ thống quốc tế, có thể thực hiện các chính sách quốc gia mà không cần quan tâm đến môi trờng bên ngoài. Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn khác để xem xét lựa chọn chính sách tỷ giá nh các hình thức rối loạn kinh tế, đặc thù cơ cấu kinh tế và tính chất rủi ro và các mục tiêu theo đuổi.. Nếu dựa vào các hình thức rối loạn kinh tế. Ngời ta thờng phân biệt rối loạn thực và rối loạn danh nghĩa để lựa chọn chế độ tỷ giá. Đối với rối loạn danh nghĩa thì tốt nhất là dùng hệ thống tỷ giá cố định. Ví dụ, sự rối loạn gây ra quá nhiều tiền cung ứng sẽ dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán do hao tốn dự trữ ngoại tệ để phục hồi sự cân đối trong thị trờng tiền tệ. Rối loạn này sẽ không thực sự ảnh hởng tới nền kinh tế vì nó đợc đảm bảo bằng chế độ tỷ giá cố định. Ngợc lại, các rối loạn thực nh rối loạn phát sinh từ sự mất cân đối thị trờng hàng hoá, để chống lại tác động này tốt nhất là sử dụng hệ thống tỷ giá linh hoạt vì các biến động mức cầu trong nớc sẽ dẫn đến thay đổi tỷ giá do đó sẽ điều chỉnh mức cầu ngoài nớc, vì vậy sản phẩm trong nớc không bị ảnh hởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này khó thực hiện vì không thể thay đổi chính sách thờng xuyên để đối phó với các hình thức rối loạn, đặc biệt khi mà hiện nay các hình thức này rất phong phú và đa dạng. 1.1.2.3 Vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Nguyên nhân dẫn tới việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái là sự tách rời giữa tỷ giá danh nghĩa và thực tế, nhng sự tách rời này không thể đi quá xa một biên độ nhất định. Điều quan trọng là phải xác định đợc biên độ nào sẽ có nhiều tác động tích cực nhất đến nền kinh tế. Để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu đã định, Chính phủ các nớc đã sử dụng rất nhiều biện pháp nhng có hai biện pháp cơ bản nhất thờng dùng: Đó là công cụ lãi suất tái chiết khấu và công cụ nghiệp vụ thị trờng mở. Phơng pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái đợc thực hiện với mục tiêu thay đổi ngắn hạn về tỷ giá. Tác động của công cụ này đợc thực hiện theo cơ
  11. chế khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất thị trờng, làm thay đổi lợi tức của các tài sản nội- ngoại tệ sẽ dẫn tới thay đổi dòng vốn đầu t quốc tế, cung cầu tài sản nội- ngoại tệ thay đổi và tỷ giá thay đổi theo. Nh khi lãi suất tái chiết khấu tăng, làm cho lãi suất trong nớc tăng, dòng vốn ngắn hạn trên thị trờng tài chính quốc sẽ đổ vào trong nớc để hởng chênh lệch lãi suất. Kết quả, tỷ giá hối đoái giảm và đồng nội tệ tăng giá. Ngợc lại, khi muốn tỷ giá tăng, đồng nội tệ giảm giá sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết khấu. Còn đối với công cụ nghiệp vụ thị trờng mở ngoại tệ, thực chất là hoạt động của ngân hàng trung ơng can thiệp vào thị trờng ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá hối đoái lên cao, ngân hàng trung ơng sẽ bán ngoại tệ và mua đồng nội tệ kéo tỷ giá hối đoái giảm xuống. Muốn thực hiện đợc ngân hàng phải có dự trữ ngoại hối lớn. Khi tỷ giá hối đoái ở mức thấp, trình tự sẽ ngợc lại, dự trữ ngoại tệ tăng, cung tiền tăng, lãi suất của tiền gửi nội tệ giảm, đồng nội tệ sẽ giảm giá và đồng ngoại tệ tăng giá. Ngoài hai công cụ cơ bản nói trên, các quốc gia còn sử dụng một loạt công cụ khác nh: nâng giá tiền tệ, phá giá tiền tệ, quỹ dự trữ bình ổn hối đoái. 1.2 Tác động của chính sách tỷ giá tới ngoại thơng. Cơ sở và mục đích của thơng mại quốc tế Đó chính là lợi thế so sánh và lợi thế nhờ quy mô. Sự khác biệt về tài nguyên thiên nhiên, trình độ sản xuất và điều kiện sản xuất dẫn tới sự khác biệt về chi phí sản xuất và giá cả sản phẩm giữa các nớc. Thông qua trao đổi quốc tế, các nớc có thể cung cấp cho nền kinh tế thế giới những loại hàng mà họ sản xuất tơng đối rẻ hơn và mua của nền kinh tế thế giới những loại hàng tơng đối rẻ hơn từ các nớc khác. Những lợi ích thơng mại này càng lớn khi kết hợp với lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Thay vì mỗi nớc phải có nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ không khai thác đợc công suất tối u, các nớc khác nhau có thể hợp tác xây dựng những cơ sở sản xuất có qui mô lớn và mọi ngời đều đợc lợi do việc giảm bớt những chi phí về sản xuất. Trớc hết, dựa vào lợi thế so sánh của mình các nớc sẽ xuất khẩu những sản phẩm mà mình sản xuất tơng đối có hiệu quả đó là những hàng hoá cần nhiều nguồn lực mà họ dồi dào và nhập khẩu những sản phẩm mà họ sản xuất tơng đối kém hiệu quả hay đó là những hàng hoá cần nhiều nguồn lực mà họ không có nhiều. Do các nớc có nguồn lực khác nhau, nên một nớc có thể có nhiều lao động, tài nguyên phong phú nhng thiếu vốn và trình độ công nghệ trong khi nớc khác có ít lao động nhng trình độ công nghệ cao nên khi tham gia vào thơng mại quốc tế các nớc có thể phát huy đợc lợi thế của mình. Bên cạnh đó,
  12. khi tham gia thơng mại quốc tế khả năng tiêu dùng ở mỗi nớc đợc mở rộng, mỗi ngời dân đợc cung cấp nhiều loại hàng hoá hàng với chất lợng đợc cải thiện hơn, phong phú hơn và thoả mãn đợc những nhu cầu cao hơn. Mặt khác, dựa vào lợi thế kinh tế nhờ qui mô khi tham gia quan hệ thơng mại quốc tế cũng thu đợc lợi ích, ngoài những lợi ích thu đợc từ lợi thế so sánh. Lợi thế qui mô giải thích tại sao các nớc lại tiến hành thơng mại trong ngành đó là việc một nớc vừa xuất khẩu và nhập khẩu cùng một loại hàng hoá nào đó. Do ngày nay sự phát triển của các nớc công nghiệp ngày càng trở nên giống nhau về trình độ công nghệ và các nguồn lực, lợi thế so sánh ở nhiều ngành không bộc lộ rõ nữa, cho nên để tiếp tục duy trì thơng mại quốc tế lợi thế về qui mô thực hiện sự trao đổi nhiều chiều trong nội bộ ngành đợc coi là biện pháp chiếm lợc. Thông qua thơng mại trong ngành, một nớc cùng một lúc có thể giảm bớt số loại sản phẩm tự mình sản xuất và tăng thêm sự đa dạng của hàng hoá cho ngời tiêu dùng trong nớc. Do sản xuất ít chủng loại hơn, nớc đó có thể sản xuất mỗi loại hàng hoá ở qui mô lớn hơn, với năng xuất lao động cao hơn và chi phí thấp hơn. Vì vậy, ngời sản xuất sẽ có lợi nhuận cao hơn và ngời tiêu dùng cũng đợc lợi hơn bởi chi phí rẻ hơn và có phạm vi lựa chọn rộng hơn. Mọi quốc gia khi tham gia vào thơng mại quốc tế đều có thể thu đợc lợi, những lợi ích cụ thể này lại phụ thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển của từng quốc gia. Nhng cho dù với bất kỳ quốc gia nào thì không thể phủ nhận lợi ích thu đợc từ thơng mại quốc tế. Và việc sử dụng tỷ giá hối đoái vừa là chính sách, vừa là công cụ có tác động lớn tới quy mô và mức độ của những lợi ích này. Vai trò của thơng mại quốc tế đến sự phát triển kinh tế của các nớc Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng thơng mại quốc tế đều mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia. Nếu các nớc này biết khai thác các cơ sở thơng mại của mình thì sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và có thể đẩy nhanh quá trình phát triển nền kinh tế. Trớc hết là hoạt động xuất khẩu, có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế của đất nớc. Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất trong nớc, nâng cao trình độ tay nghề và thói quen làm việc của những lao động trong sản xuất hàng xuất khẩu, tăng thu nhập, cải thiện mức sống của nhân dân. Bên cạnh đó, ngoại tệ thu đợc sẽ làm tăng nguồn dự trữ ngoại tệ giúp cho quá trình ổn định đồng nội tệ và chống lạm phát dẫn đến ổn định nền kinh tế. Vai trò của xuất khẩu còn thể hiện ở việc tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Điều đó tạo ra những lợi thế so sánh mới của một
  13. nớc và thúc đẩy ngoại thơng của nớc đó phát triển. Khi mà xuất khẩu càng phát triển, càng có điều kiện mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm và tăng khả năng cung cấp những nguồn lực khan hiếm cho quá trình sản xuất và nâng cao năng lực sản xuất trong nớc. Đối với các nớc đang phát triển thì xuất khẩu có thể nâng cao năng lực sản xuất trong nớc, còn đối với các nớc phát triển xuất khẩu có thể giải quyết đợc mâu thuẫn giữa sản xuất và thị trờng. Với vai trò to lớn đối với nền kinh tế nh vậy, các nớc cần khai thác hợp lý những lợi ích thu đợc từ hoạt động xuất khẩu, nhất là trong giai đoạn đầu khi mới tham gia vào thơng mại quốc tế. Song song với hoạt động xuất khẩu là hoạt động nhập khẩu. Nếu nh xuất khẩu đợc coi là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội thì nhập khẩu lại đợc coi là nền tảng để thực hiện vai trò đó. Thực tế đã cho thấy, nhập khẩu có thể tác động trực tiến đến sản xuất, kinh doanh và thơng mại thông qua việc đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất, cung cấp các nguồn lực khan hiếm....Đồng thời nhập khẩu còn giúp cho việc cải thiện và nâng cao đời sống dân c của một nớc bằng việc cung cấp nhiều hàng hoá hơn, chất lợng hơn và rẻ hơn. Tuy nhiên, không nên khai thác quá mức lợi ích của nhập khẩu, nếu không sẽ có thể biến quốc gia thành bãi thải của công nghệ lạc hậu, không thúc đẩy sản xuất trong nớc, tạo tâm lý tiêu dùng trong nớc không tốt... Tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái tới thơng mại Có thể nói, tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là những công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thơng mại quốc tế theo mục tiêu định trớc của một nớc. Trớc hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hởng trực tiếp đến mức giá cả hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu của một nớc. Khi tỷ giá thay đổi theo hớng làm giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá dịch vụ của nớc đó sẽ tơng đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nớc khác ở cả thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế. Dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của nớc đó sẽ tăng, cầu về hàng hoá dịch vụ nớc ngoài của nớc đó sẽ giảm và tạo ra sự thặng d của cán cân thơng mại. Ví dụ: Trớc đây 1USD = 14000VND . 1 chiếc máy tính giá 750USD đợc nhập khẩu và tính ra đồng nội tệ của Việt Nam là 10.500.000VND. Đến nay, giả sử giá chiếc máy tính không đổi, trong khi tỷ giá thay đổi 1USD = 15000VND thì cũng chiếc máy tính đó đợc nhập khẩu và bán với giá 11.250.000VND. Giá đắt hơn, nhu cầu nhập máy tính sẽ giảm. Nhng đối với xuất khẩu thì ngợc lại khi tỷ giá 1USD = l4000VND, giá xuất khẩu 1
  14. tấn gạo với chi phí sản xuất là 3,5 triệu VND là 250USD, nhng với chi phí sản xuất không đổi thì giá bán chỉ khoảng 233USD. Giá giảm cầu xuất khẩu sẽ tăng. Trong trờng hợp ngợc lại, khi tỷ giá biến đổi theo hớng làm tăng giá đồng nội tệ. Sự tăng giá của đồng nội tệ có tác động hạn chế xuất khẩu vì cùng một lợng ngoại tệ thu đợc do xuất khẩu sẽ đổi đợc ít hơn đồng nội tệ. Tuy nhiên, đây là cơ hội tốt cho các nhà nhập khẩu, nhất là nhập khẩu nguyên liệu, máy móc để phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nớc. Đồng thời, lợng ngoại tệ chuyển vào trong nớc có xu hớng giảm xuống làm khối lợng dự trữ ngoại tệ ngày càng bị xói mòn vì khuynh hớng giá tăng nhập khẩu để có đợc lợi nhuận, có thể gây nên tình trạng mất cân đối cán cân thơng mại quốc tế. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái không chỉ tác động trực tiếp đến ngoại thơng thông qua sự tác động của nó đến xuất khẩu, mà còn tác động một cách gián tiếp đến ngoại thơng thông qua sự tác động làm thay đổi luồng di chuyển t bản ra vào quốc gia. Nh khi tỷ giá thay đổi theo hớng giảm giá đồng nội tệ sẽ có tác động gia tăng việc thu hút đầu t nớc ngoài. Khi luồng vốn chảy vào trong nớc sẽ tạo điều kiện mở rộng sản xuất trong nớc, tránh đợc những rào cản của chính sách bảo hộ thơng mại, sẽ đẩy mạnh hoạt động ngoại thơng. Những tác động kể trên của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thơng nói riêng và nền kinh tế nói chung làm cho các nhà quản lý ở các quốc gia đều mu ốn quản lý, điều tiết tỷ giá và chính sách tỷ giá theo những mục tiêu kinh tế xã hội đã định. 2. CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC 2.1 Điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong quá trình cải cách và chuy ển đổi. 2.1.1 Thời kỳ chuyển từ chính sách tỷ giá cố định sang thả nổi theo sát với những diễn biến của tỷ giá thị trờng( 1981- 1993) Cho đến đầu những năm 1980, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định, gắn đồng NDT luôn cao hơn giá trị thực của nó. Điều này kéo theo một loạt tiêu cực nh: hàng xuất khẩu kém sức cạnh tranh, mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế. Ngân sách quốc gia hàng năm phải bù lỗ nhiều cho cả sản xuất và tiêu dùng. Nh năm 1989 mức bù lỗ là 76,3 tỷ NDT tơng đơng với 29% thu nhập tài chính. Vào lúc này tổng số nợ của Trung Quốc lên tới 47 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ quốc gia hầu nh cạn kiệt và lạm phát trong nớc lên cao. Để đẩy mạnh xuất khẩu, nhằm đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng, đồng
  15. thời cùng với việc thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế, Trung Quốc đã liên tục tiến hành điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa theo hớng giảm giá trị đồng NDT bị đánh giá cao trớc đây cho phù hợp với sức mua thực tế của nó trên thị trờng trong suốt thời gian đầu của quá trình cải cách cho đến đầu những năm 90. Từ năm 1981-1985, Trung Quốc luôn luôn mu ốn thực hiện chế độ một loại giá hàng, một tỷ giá thống nhất nhng do nhiều nguyên nhân nên trong giai đoạn cải cách này bên cạnh sự tồn tại tỷ giá giao dịch thơng mại nội bộ, tỷ giá chính thức thờng xuyên thay đổi, hầu hết là phá giá. Theo thống kê, đồng NDT đợc điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong năm 1982 và 56 lần trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ giá thực của nó. Cải cách, điều chỉnh phần lớn là phá giá dẫn đến tỷ giá chính thức ngang bằng với tỷ giá nội bộ vào cuối 1984, và cuối cùng là thống nhất một tỷ giá. Cho tới cuối những năm 80, tỷ giá chính thức ít biến động nhng lại có mức phá giá nhanh khi biến động, bên cạnh đó sự phát triển của thị trờng ngoại hối đã tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ của tỷ giá. Ra đời từ đầu những năm 1980 ở Trung Quốc, thị trờng ngoại hối phát triển rất nhanh từ sau năm 1986 dẫn tới hình thành một mạng lới thanh toán dựa vào thị trờng . Cơ sở cho sự tồn tại thị trờng này là quyền tự chủ của các doanh nghiệp Trung Quốc cho phép các nhà xuất khẩu đợc đợc giữ một phần ngoại hối, nhằm khuyến khích tăng khả năng hoạt động xuất khẩu. Với sự hiện diện của thị trờng này, đã làm cho tỷ giá trao đổi từng bớc đợc dao động tự do hơn. Chính sách tỷ giá trong thời kỳ này đã giúp Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân thơng mại, cán cân thanh toán và đa đất nớc ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế. Nếu nh năm 1978 tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 20,64 tỷ USD bằng 9,8% GDP, đứng thứ 27 trên thế giới về buôn bán đối ngoại và cán cân thơng mại là - 15.002 triệu USD thì nhờ thơng mại phát triển đến năm 1990 cán cân thơng mại là 8.646 triệu USD. Sau những điều chỉnh thử nghiệm thành công ban đầu, chính phủ Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách tỷ giá theo hớng đã vạch ra. Cho nên, đầu những năm 90 (1991- 1993), Trung Quốc chính thức công bố áp dụng một tỷ giá thả nổi. Trong giai đoạn này, tỷ giá trao đổi của đồng NDT thờng xuyên dao động, đồng NDT hầu nh hạ giá. Nhờ tăng tỷ lệ ngoại hối phân bổ thông qua tơng tác giữa cung và cầu trên thị trờng, những hoạt động kiểm soát về ngoại hối đã giảm dần, trong khi đó các lực lợng thị trờng đợc tính đến nhiều hơn trong các quyết định liên quan đến tỷ giá. Sau khi tỷ giá đợc điều chỉnh tơng đối sát với biến đổi của thị trờng và sức mua thực tế của đồng NDT, tỷ giá danh nghĩa giữa đồng NDT với USD tơng đối ổn định ở mức 5,2 -> 5,8
  16. NDT/USD. Tuy nhiên, mức điều chỉnh này đợc dựa vào mức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho lạm phát cao ở Trung Quốc tác động xấu tới mục tiêu tăng trởng và thúc đẩy xuất khẩu của nền kinh tế. Nh từ mức thặng d thơng mại là 9.165 triệu USD với tốc độ lạm phát 3,06% năm 1990 thì đến năm 1993 cán cân thơng mại bị thâm hụt –10.654 triệu USD và tốc độ lạm phát là 14,58%. Có thể nói đây là những bớc đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá hối đoá và chính sách tỷ giá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trớc đây đợc thả nổi theo sát với những diễn biến của thị trờng. 2.1.2 Thời kỳ phá giá mạnh đồng NDT và thống nhất hai tỷ giá hớng tới một đồng NDT có khả năng chuyển đổi (1994- 1997). Nhận thấy nguy cơ đồng NDT có khả năng trở lại tình trạng bị đánh giá cao so với sức mua thực tế, chính phủ Trung Quốc đã quyết định chuyển hớng điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái. Ngày 1-1-1994, đồng NDT chính thức bị tuyên bố phá giá mạnh từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, và thống nhất các mức giá thành một tỷ giá chung. Tuy nhiên, tỷ giá danh nghĩa bắt đầu lên giá chậm chạp và cuối cùng ổn định ở mức 8,3NDT/USD. Để giảm bớt tác động của sự thay đổi trong chính sách tỷ giá lên thị trờng tiền tệ, vào thời kỳ này chính phủ Trung Quốc đã ban hành một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối nh : thực hiện chế độ ngân hàng kết hối, xoá bỏ sự găm giữ ngoại tệ và tăng giá ngoại hối của các công ty, xây dựng thị trờng giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng; cải tiến cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái; xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối… kết hợp với kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ơng Trung Quốc. Đối với công ty nớc ngoài, Trung Quốc yêu cầu phải có bảng cân đối ngoại tệ hàng năm. Đối với các doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài phải có giấy phép đổi ngoại tệ mạnh sang NDT. Còn đối với doanh nghiệp nhà nớc, yếu cầu phải nộp 100% ngoại tệ thu đợc thay vì 50% trớc đây. Tuy nhiên, Trung Quốc đã có những điều chỉnh quản lý ngoại hối lỏng hơn nh: cho phép các công nớc ngoài từng bớc đợc giao dịch, mua bán ngoại tệ mạnh, tạo điều kiện để đồng NDT xâm nhập mạnh hơn vào thị trờng tiền tệ, tài chính thế giới… Kết quả của điều chỉnh và phá giá mạnh đồng NDT trong thời kỳ này của Trung Quốc đã giúp nớc này không chỉ thu đợc những lợi ích trong ngắn hạn, nhanh chóng đẩy mạnh xuất khẩu, chiếm lĩnh nhiều thị phần quan trọng trên thị trờng quốc tế, mà còn tạo cơ sở để Trung Quốc duy trì chính sách tỷ giá ổn định trong một thời gian dài, giảm thiểu những rủi ro hối đoái và tạo môi trờng hấp dẫn thu hút mạnh các nguồn đầu t nớc ngoài.:
  17. Nă m 1994 1995 1996 1997 FDI- tỷ USD 33,79 35,84 40,18 44,23 Lạm phá (%) 24,2 16,9 8,3 8,3 XK- tỷ USD 121,0 148,8 151,2 182,9 NK- tỷ USD 115,7 129,1 138,9 142,2 Nguồn chính IMF. International Financial Statistics T5/2001 2.1.3 Chính sách tỷ giá duy trì ổn định đồng NDT yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng trởng kinh tế cao và giảm những cú sốc từ bên ngoài (1997-nay). Dới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, môi trờng kinh tế quốc tế đã có nhiều biến động đáng kể. Các nớc bị khủng hoảng rơi vào tình trạng suy thoái, mức sống của ngời dân bị sụt giảm đáng kể. Cuộc khủng hoảng này đã làm cho tốc độ tăng trởng kinh tế và thơng mại toàn cầu chậm lại. Trung Quốc không phải là một ngoại lệ. Xuất khẩu và đầu t nớc ngoài giảm mạnh. Vấn đề sản xuất d thừa ngày càng trở nên trầm trọng trong các ngành công nghiệp chế biến. Giá thị trờng liên tục giảm xuống và dần dần xuất hiện những dấu hiệu giảm phát. Trớc tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã có chủ trơng không phá giá đồng NDT, tỷ giá vẫn giữ ở mức 8,3NDT/USD, với biên độ giao đông là nhỏ. Nhờ đó mà những tác động của cuộc khủng hoảng khu vực Châu Á đối với nền kinh tế Trung Quốc và cả nền kinh tế thế giới đã ít nghiêm trọng hơn. Để bảo vệ đồng NDT trớc tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, năm 1998 Trung Quốc đã quay trở lại kiểm soát chặt chẽ thị trờng ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại tệ. Thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp bắt buộc phải bán cho những ngân hàng đã đợc chỉ định trớc, việc bán ngoại tệ cũng phải có hoá đơn theo quy định mới đợc rút, thậm chí các nhà đầu t nớc ngoài cũng phải bán ngoại tệ cho các ngân hàng Trung Quốc để đổi lấy một lợng NDT nhất định sử dụng trong lãnh thổ nớc này. Song song với việc quản lý chặt chẽ thị trờng ngoại hối, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trởng của nền kinh tế, Trung Quốc còn phối hợp với các chính sách kinh tế nh nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu. Trong năm này, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền cho vay và tiền gửi bằng đồng NDT, lãi suất chiết khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc giảm cả lãi suất với các loại tiền gửi bằng ngoại tệ, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng ở các tầng lớp dân c... Với cơ chế
  18. quản lý rất chặt chẽ nh vậy, tỷ giá giữa đồng NDT và USD vẫn cố định là 8,3NDT/USD cho tới ngay nay. Theo các chuyên gia hàng đầu về kinh tế thì cho rằng với tỷ giá hiện nay đồng NDT đã bị đánh giá thấp khoảng 30% so với các đồng tiền khác,theo nhận định của Mỹ là 40% và theo EU thì tỷ lệ này là 20%. Theo họ với tỷ giá thấp, đã tạo ra những lợi thế thơng mại bất bình đẳng cho hàng Trung Quốc tràn ra thị trờng quốc tế, làm suy yếu sức cạnh tranh của các nhà xuất khẩu khác. Cùng với những lợi thế về tài nguyên và nhân lực, việc duy trì tỷ giá hối đoái không cân đối giữa NDT và USD trong lúc USD đang giảm đi tơng đối so với các đồng tiền khác đang giúp các nhà xuất khẩu của Trung Quốc có lợi thế trong cuộc chiến giá cả và nâng cao tính cạnh tranh thu hút đầu t của nớc này. Còn về quan điểm của phía Trung Quốc lại trái ngợc với các nớc, họ cho rằng đồng NDT không những không giảm giá mà trái lại còn đang lên giá so với các đồng tiền khác. Theo nhận định của Trung Quốc thì về danh nghĩa trong giai đoạn 1994-2002, đồng NDT đã tăng 5,1% so với đồng USD, tăng 17,9% so với đồng Euro và tăng 17% so với đồng yên Nhật, nếu tính đến yếu tố lạm phát thì mức tăng thực tế của đồng NDT so với các đồng tiền này là 18,5%, 39,4%, 62,9%. Mặc dù có những quan điểm trái ngợc nhau, thực tế đã cho thấy cho tới nay việc điều chỉnh tỷ giá và chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã tạo ra khả năng góp phần giảm tác động trớc những cú sốc từ bên ngoài và đạt đợc thành tựu to lớn kể từ năm 1997. Trong năm 2002, tổng doanh số thơng mại của Trung Quốc đạt 620,79 tỉ USD, trong đó xuất khẩu tăng 22,3%, đạt 325,57 tỉ USD; nhập khẩu tăng 21,2%, đạt 295,22 tỉ USD. Thặng d thơng mại đạt 30,33 tỉ so với 22,6 tỉ USD trong năm 2001. Dự trữ ngoại tệ đạt mức cao kỷ lục là 286,4 tỉ USD. Tốc độ tăng trởng trung bình của nền kinh tế Trung Quốc là 8%/năm, và cao nhất trên thế giới. Mặt khác, đồng NDT hiện đang mạnh lên so với đồng USD. Tuy cha phải là đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn, nhng nó đang ngày càng đợc sử dụng nhiều ở bên ngoài biên giới Trung Quốc, đặc biệt là dọc biên giới Trung Quốc với các nớc Đông Nam Á. Theo tính toán hiện có khoảng 30 tỷ NDT đang lu hành ở bên ngoài Trung Quốc, điều này chứng tỏ niềm tin của quốc tế vào kinh tế Trung Quốc. Và đồng NDT đợc dự đoán là sẽ đóng vai trò khu vực lớn hơn đồng Eruo, có thể trở thành đồng tiền dự trữ thay thế các đồng tiền quốc tế khác ở Châu Á. Bên cạnh những thành tựu đạt đợc một phần là nhờ vào chính sách tỷ giá hiện nay, thì vẫn còn những hạn chế. Khi mà đồng tiền giảm giá, nó làm cho các khoản vay bằng
  19. ngoại tệ của nớc đó và rủi ro của đầu t trong tơng lai tăng lên khi các nhà đầu t dự kiến tăng về tính không ổn định của tỷ giá hối đoái. Hiện nay, nợ quá hạn của Trung Quốc đã lên đến mức 1.800 tỷ nhân dân tệ, tơng đơng 140% GDP so với mức 88% trong năm 1996. Và những khoản nợ khó đòi tập trung ở bốn ngân hàng lớn của Trung Quốc- đó là những ngân hàng hiện nay mất khả năng thanh toán xét trên phơng diện kỹ thuật. Kể từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã bỏ ra 200 tỷ USD để tái cấp vốn và mua lại các khoản nợ khó đòi của các ngân hàng. Mặc dù hiện nay Trung Quốc đang phải đối mặt với tình hình tài chính bất ổn, nhng chính phủ Trung Quốc vẫn hết sức thận trọng tránh làm tổn hại đến xuất khẩu. Theo cảnh báo của các nhà nghiên cứu kinh tế, rằng việc điều chỉnh giá trị của đồng nhân tệ có thể làm cho kinh tế Trung Quốc "mất ổn định" do khuyến khích các luồng vốn đầu t, làm tăng s phụ thuộc của nền kinh tế vào yếu tố bên ngoài nhất là khi hiện nay có tới 50% hàng xuất khẩu là của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Đây chính là sự mâu thuẫn mà việc lựa chọn chính sách tỷ giá phải đối mặt. Tóm lại: Đầu những năm 1980, khi Trung Quốc bớc vào công cuộc cải cách và mở cửa kinh tế, Trung Quốc ấn định mức tỷ giá 2,4 NDT/USD. Tới những năm 1990, khoảng 10 năm sau cải cách, nền kinh tế Trung Quốc có những bớc phát triển mạnh mẽ thể hiện ở xuất khẩu và tốc độ tăng trởng kinh tế. Các nhà quản lý ở Trung Quốc hiểu rằng một tỷ giá hối đoái cố định sẽ không giúp kích thích tăng trởng và xuất khẩu. Do vậy Trung Quốc bắt đầu hớng tới một cơ chế tỷ giá mềm dẻo với sự tham gia nhiều hơn của yếu tố thị trờng nhng vẫn có sự kiểm soát của nhà nớc. Tỷ giá đồng NDT vào khoảng 5,8 - 5,9 NDT/USD những năm 1990-1993. Đến cuối năm 1993, đầu năm 1994, để kích thích xuất khẩu hơn nữa, Trung Quốc đã quyết định chuyển tỷ giá lên 8,7 NDT/USD. Sau nhiều lần điều chỉnh, tỷ giá này dừng ở mức khoảng 8,2 - 8,3 NDT/USD và duy trì từ năm 1994 tới nay. 2.2 Tác động chính sách tỷ giá TQ tới thơng mại một số nớc. Tác động tới Mỹ Từ năm 1993, Trung Quốc và Mỹ đã mở rộng quan hệ buôn bán. Năm 2000, Mỹ chiếm 20,9% kim ngạch xuất khẩu và trở thành đối tác quan trọng số một trong xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc, xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc sang Mỹ đạt 103,3 tỷ USD, chiếm 8,2% giá trị nhập khẩu của Mỹ. Trung Quốc trở thành đối tác nhập khẩu lớn thứ 5 của Mỹ. Thơng mại của Mỹ với Trung Quốc đã tăng 50%. Tuy nhiên, trong những năm qua Mỹ chủ yếu bị thâm hụt thơng mại với Trung Quốc.
  20. Năm 2002, thâm hụt thơng mại của Mỹ vào khoảng 500 tỷ USD thì có tới 103 tỷ USD là thâm hụt với Trung Quốc. Trong 8 tháng đầu năm 2003, xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ lên tới 120 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng không đáng kể, chỉ nhích từ 13 lên 19 tỷ USD. Mỹ cho rằng việc Trung Quốc kìm giữ tỷ giá giao dịch đồng NDT trong một biên độ hẹp khoảng 8,3 NDT/USD trong một thời gian dài đã giúp các nhà xuất khẩu Trung Quốc có đợc lợi thế cạnh tranh không công bằng trên thị trờng thế giới và ngay cả trên thị trờng Mỹ, khiến nhiều việc làm Mỹ trong khu vực sản xuất khàng xuất khẩu bị cắt giảm. Trong những năm vừa qua, do buôn bán bất lợi với Trung Quốc, Mỹ đã mất đi khoảng 2,6 triệu công ăn việc làm chiếm 10% trong tổng số ngời thất nghiệp vì các cơ sở sản xuất ở Mỹ khó lòng cạnh tranh với chính sách về giá đối với các hàng nhập khẩu của Trung Quốc. Hơn nữa, có một đồng NDT rẻ đã khiến môi trờng đầu t của Trung Quốc hấp dẫn và các nhà đầu từ Mỹ đã và đang chuyển sang đầu t sản xuất ở Trung Quốc. Do những nguyên nhân trên, Mỹ đang gia tăng sức ép với Trung Quốc trong vấn đề điều chỉnh chính sách tỷ giá. Một loạt những chuyến viếng thăm, gặp gỡ, bài phát biểu của các quan chức chính quyền ông Bush với Trung Quốc diễn ra gần đây nhằm gây áp lực để Trung Quốc chấm dứt tình trạng can thiệp vào tiền tề và để thị trờng quyết định tỷ giá giữa nhân dân tệ và đô-la. Tuy nhiên, cũng có thể Mỹ chỉ gây sức ép để Trung Quốc điều chỉnh chút ít giá trị nhân dân tệ để tránh gây thiệt hại lớn về xuất khẩu cho Trung Quốc. Cong nếu Mỹ buộc Trung Quốc phải nhanh chóng điều chỉnh giá trị NDT nh là một thủ đoạn chính trị thì sẽ dẫn đến cuộc tranh chấp thơng mại giữa hai bên. Tác động tới Nhật Bản Sự tăng trởng chậm chạp của nền kinh tế Nhật hơn một thập kỷ qua đã buộc chính phủ nớc này cần can thiệp mạnh mẽ vào thị trờng ngoại hối, cố gắng duy trì đồng yên yếu để tăng trởng xuất khẩu nhằm khôi phục nền kinh tế. Chỉ chiếm 12% GDP của Nhật, nhng xuất khẩu hiện là nguồn động lực tăng trởng duy nhất hữu hiệu hiện nay. Ngoài ra, một đồng yên yếu còn giúp đẩy giá hàng hoá nhập khẩu lên cao, đặc biệt là hàng hoá từ Trung Quốc, nhờ đó trợ giúp đợc các nhà sản xuất trong nớc và đẩy chỉ số giá cả lên cao. Cho nên chính sách của Trung Quốc hiện nay có thể làm tổn hại tới xuất khẩu của Nhật Bản. Trớc hết, để đối phó với thâm hụt thơng mại ngày càng lớn một phần là do thâm hụt thơng mại với Trung Quốc ngày càng tăng, chính phủ Mỹ đã theo đuổi chính sách đồng USD yếu. Điều này đã khiến cho đồng Yên Nhật tăng giá chóng mặt so với đồng USD làm

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản