intTypePromotion=3

Bài tiểu luận: Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu. Bài học đối với Việt Nam

Chia sẻ: Mập Mập | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
72
lượt xem
20
download

Bài tiểu luận: Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu. Bài học đối với Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Với kết cấu nội dung gồm 3 chương, bài tiểu luận "Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu. Bài học đối với Việt Nam" trình bày về một số khái niệm về tỷ giá hối đoái và nhận định chung về tình hình khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế, các chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng hoảng, bài học đối với Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo để có thêm tài liệu phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài tiểu luận: Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu. Bài học đối với Việt Nam

  1. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế BÀI TẬP NHÓM 6 MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ Đề   tài:   Chính   sách   tỷ   giá   hối   đoái   của   Trung  Quốc trong khủng hoảng tài chính và suy thoái  toàn cầu. Bài học đối với Việt Nam. GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng Nhóm 6: 1. Trịnh Thị Lan Hương                 2. Mai Lan Hương                 3. Phan Thu Huyền                 4. Phạm Duy Khánh Lớp : CH 18G 1
  2. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế và hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện   nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế  ngày càng lớn. Một trong những   liên hệ mật thiết về kinh tế giữa các nước chính là tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái   là một phạm trù kinh tế  tổng hợp, là một công cụ  có hiệu lực, có hiệu quả  trong  việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia, đồng thời là yếu tố  cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đặc biệt trong nền kinh tế  mở, việc xác định một chính sách tỷ giá phù hợp đối với từng giai đoạn phát triển  của một quốc gia có tác động rất lớn đến xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập   khẩu tư bản và đến giá hàng hóa trong nước… Đợt khủng hoảng tài chính và suy   thoái toàn cầu giai đoạn vừa qua đã tác động mạnh mẽ  đến nền kinh tế  toàn thế  giới. Thế  nhưng, cũng chính trong thời gian này, nền kinh tế  Trung Quốc nổi lên  như  một điểm sáng của nền kinh tế thế giới, hứa hẹn một “sức bật” lớn. Để  có  được thành công đó, một trong những chính sách hiệu quả đã được Trung Quốc áp   dụng   chính   là   chính   sách   tỷ   giá   hối   đoái   phù   hợp.   Những chính sách tỷ giá đó được đánh giá là có hiệu quả cao và có tầm ảnh hưởng  trên toàn thế giới. 2
  3. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế Là nước láng giềng của Trung Quốc với khá nhiều điểm tương đồng về  kinh tế,  việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và sâu sắc các chính sách tỷ  giá của Trung  Quốc trong thời kỳ khủng hoảng là rất cần thiết để Việt Nam tìm ra chính sách tỷ  giá phù hợp nhất đối với nền kinh tế. Cũng chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Chính sách tỷ giá   hối đoái của Trung Quốc trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh   tế toàn cầu. Bài học đối với Việt Nam”.  2. Mục đích nghiên cứu Không nằm ngoài mục đích tìm ra một chính sách tỷ  giá thích hợp nhất đối với  Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng, trong quá trình nghiên  cứu đề tài, nhóm chúng tôi luôn hướng đến mục tiêu tìm ra những kinh nghiệm làm   nên thành công của chính sách tỷ giá của Trung Quốc cũng như những hạn chế của  các chính sách này để vận dụng vào Việt Nam một cách có hiệu quả nhất. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề  tài là các chính sách tỷ  giá mà Trung Quốc đã sử  dụng trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cụ thể hơn   là từ năm 2007 cho đến nay. Bài viết sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, thống kê mô tả, phân tích   quy nạp, so sánh chéo… để phân tích và nghiên cứu các hiện tượng kinh tế. 4. Kết cấu đề tài Ngoài các phần phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề  tài được nghiên cứu   theo ba nội dung chính: ­ Chương I: Một số  khái niệm về  tỷ  giá hối đoái và nhận định chung về  tình hình khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế 3
  4. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế ­ Chương II: Các chính sách tỷ  giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng  hoảng ­ Chương III: Bài học đối với Việt Nam Dưới sự  hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, nhóm tôi đã   cố  gắng để  hoàn thành bài viết. Tuy nhiên, do sự  hạn chế  về  thời gian, thông   tin, trình độ lý luận nên trong quá trình viết không tránh khỏi những sai sót nhất  định. Chúng tôi mong nhận được sự chỉ bảo hướng dẫn của các thầy cô, bạn bè  để hoàn thiện hơn trong việc học tập và nghiên cứu của mình. 4
  5. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ NHẬN ĐỊNH  CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY GIẢM KINH TẾ 1.1. Một số khái niệm về tỷ giá hối đoái 1.1. 1. Tỷ giá hối đoái  Tỉ  giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ  giá) là sự  so sánh về  mặt giá cả  giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể  gọi tỷ  giá hối đoái là   giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác. Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn  vị đồng tiền nước này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị  đồng tiền của   nước kia. Ví dụ: tỷ  giá hối đoái giữa  Đồng Việt Nam  và  Dollar Mỹ  là 16045  VND/USD  hay   giữa  Yen   Nhật  và   Dollar   Mỹ   là   116,729  JPY/USD  hay   giữa  Dollar Mỹ và Euro là 1,28262 USD/Euro.  Đồng tiền để   ở  số  lượng một đơn vị  trong các tỷ  lệ  như  những ví dụ  trên   gọi là đồng tiền định danh hay đồng tiền cơ sở. Vì thế, khi cần thể hiện một   cách nghiêm ngặt và chính xác, người ta thường nói: "Tỷ  giá hối đoái giữa   Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị  trường ngoại hối định danh bằng Dollar  Mỹ là 16015 Đồng bằng 1 Dollar" hoặc "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam   và  Dollar Mỹ   trên  thị  trường  ngoại hối   định danh  bằng  Đồng Việt Nam  là  0,0000624 Dollar bằng 1 Đồng". 1.1.2. Các loại tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái chính thức và Tỷ giá hối đoái song song Tỷ giá hối đoái có thể được quy định bởi thị trường trong chế độ tỷ giá hối  đoái thả nổi, và được gọi là tỷ giá thị trường. Tỷ giá hối đoái cũng có thể được  quy định bởi các cơ  quan hữu trách trong chế  độ  tỷ  giá hối đoái cố  định.  Ở  nhiều nước, cả  thị trường lẫn cơ quan hữu trách cùng tham gia quy định tỷ  giá  hối đoái. Tỷ  giá hối đoái khi đổi tại  ngân hàng thương mại và quầy giao dịch  ngoại hối phục vụ  khách hàng lẻ  thường chênh lệch so với tỷ  giá công bố  có   5
  6. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế thể vì một trong hai lý do sau: (1) đã được tính gộp cả phí dịch vụ; (2) có hai tỷ  giá đồng thời, một tỷ  giá hối đoái chính thức (có thể  do cơ  quan hữu trách qui  định, hoặc do cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách quy định) và một tỷ giá không  chính thức (còn gọi là  tỷ  giá hối đoái song song  hay  tỷ  giá chợ  đen) do thị  trường quyết định. Ở  Việt Nam, ngay cả  tỷ  giá hối đoái chính thức cũng có vài loại:  tỷ  giá bình  quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu , tỷ giá giao dịch của ngân  hàng thương mại, và tỷ giá hạch toán. Tỷ giá mua vào và bán ra ngoại tệ niêm  yết tại một số ngân hàng để phục vụ khách đổi tiền là tỷ giá giao dịch của ngân   hàng thương mại có tính thêm phí dịch vụ. Còn tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng  kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân chính   là tỷ giá hối đoái song song. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và Tỷ giá hối đoái thực tế Tỷ giá hối đoái danh nghĩa : là mức giá thị trường của một đồng tiền này  tính bằng đồng tiền khác vào một thời điểm nhất định. Tỷ  giá hối đoái  danh nghĩa không xét đến tương quan giá cả, tương quan lạm phát và các  nhân tố khác giữa hai nước. Tỷ  giá hối đoái thực tế :là tỷ  giá phản ánh sức mua tương quan của hai   đồng tiền,phản ánh trong tỷ giá. Tỷ giá hối đoái thực tế có xét đến tương  quan giá cả, tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước. Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau: Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá nước ngoài / Giá nội  địa = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Tỷ lệ lạm phát nước ngoài / Tỷ lệ lạm phát  trong nước. Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực Tỷ  giá  hối đoái giữa  hai  đồng tiền  được gọi  là tỷ  giá hối đoái song   phương. 6
  7. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế Tỷ giá hối đoái hiệu lực là tỷ lệ trao đổi giữa một đồng tiền X với nhiều   đồng tiền khác cùng lúc (thông thường là đồng tiền của các bạn hàng  thương mại lớn). Tỷ  giá này được tính dựa trên giá trị  bình quân gia quyền  của các tỷ  giá song  phương giữa đồng tiền X với từng đồng tiền kia. Tỷ giá hối đoái hiệu lực cũng   có loại danh nghĩa và loại thực tế. 1.1.3. Các chế độ tỷ giá hối đoái Tỷ giá cố định Tỷ  giá hối đoái cố  định, đôi khi còn được gọi là  tỷ  giá hối đoái neo, là  một kiểu chế  độ  tỷ  giá hối đoái trong đó giá trị  của một đồng tiền được gắn   với giá trị  của một đồng tiền khác hay với một rổ  các đồng tiền khác, hay với   một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc  giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng  chế  độ  tỷ  giá hối đoái cố  định gọi là  đồng tiền cố  định. Tỷ  giá hối đoái cố  định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi. Mặc dù việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả  nổi sẽ hạn chế khả năng  của chính phủ trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập nhằm duy  trì  ổn định kinh tế  trong nước, song trong thực tế, nhiều chính phủ  vẫn thích  chế  độ  tỷ  giá hối đoái cố  định bởi nó tạo ra sự   ổn định. Trong lịch sử, từ  sau   Chiến tranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép  Tây Âu và Nhật Bản có được tỷ giá cố định so với dollar Mỹ cho đến tận năm  1970. Gần đây,  Trung Quốc,  Hong Kong  và  Malaysia  đã rất thành công trong  việc duy trì tỷ  giá hối đoái cố  định để  giữ   ổn định kinh tế  trong nước. Đồng   euro hiện nay cũng có thể được xem là một chế độ tỷ giá hối đoái cố định giữa   các quốc gia châu Âu tham gia. Nhiều quan điểm cho rằng tỷ  giá hối đoái cố  định quá cứng nhắc nên che  mất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng. Đó là vì   7
  8. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế đồng tiền không còn thể  hiện giá trị  thị  trường thực của chúng. Sự  che đậy   thông tin nào tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ  đầu cơ "tấn công"  các đồng tiền cố  định và nhiều nước sẽ  mất sạch cả   dự  trữ  ngoại hối khi cố  gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó  mất giá. Thái Lan trong  cuộc khủng hoảng tài chính châu Á là một trường hợp như vậy. Chế  độ  tỷ  giá thả  nổi  hay còn gọi là chế  độ  tỷ  giá linh hoạt là một  chế  độ  trong đó giá trị  của một đồng tiền được phép dao động trên thị  trường  ngoại hối. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền  thả nổi. Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế độ  tỷ  giá thả  nổi tốt hơn chế độ  tỷ  giá cố  định bởi vì tỷ  giá thả  nổi nhạy với  thị  trường ngoại hối. Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ  kinh doanh nước ngoài. Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế. Thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ  thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt hơn,  nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả  nổi hoàn toàn, vì nó   quá bất ổn định. Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc   thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định tương  đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế  độ  này làm cho chính sách tiền tệ  trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sử dụng  chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng chế  độ  tỷ  giá thả  nổi, nhưng chính phủ  sẽ  can thiệp  để  tỷ  giá không hoàn toàn  phản ứng theo thị trường. 1.1.4. Vai trò của tỉ giá Tỉ giá hối đoái có tác động đến tất cả  các hoạt động kinh tế vĩ mô, các cân   đối vĩ mô. Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong chính  sách tiền tệ, nó là mục tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều hướng   8
  9. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế tới. Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc duy  trì, mở  rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tê, giúp  cho nền kinh tế  trong nước có điều kiện hội nhập khu vực và thế  giới ngày   càng mạnh mẽ hơn. Trong thương mại quốc tế, tỷ  giá hối đoái đóng vai trò chính. Nó cho phép   so sánh giá cả  của các hàng hóa và dịch vụ  sản xuất trên các nước khác nhau.  Giá hàng xuất khẩu của một nước sẽ được tính theo giá của nước nhập khẩu   nếu biết tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của hai nước. “Khi đồng tiền của một  nước mất giá, người nước ngoài nhận ra rằng, giá hàng xuất khẩu của nước   này rẻ đi, và người dân trong nước nhận thấy hàng nhập từ nước ngoài đắt lên.   Sự lên giá có hiệu quả ngược lại: người nước ngoài sẽ phải trả nhiều hơn cho  sản phẩm của nước này, và người dân trong nước phải trả ít hơn cho hàng hóa   của nước ngoài”. Chính vì điều này mà tỷ  giá hối đoái được sử  dụng để  điều   tiết chính sách khuyến khích xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa của một nước. 1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Tỷ  giá hối đoái chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố  quan   trọng nhất là sức mua của đồng tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm   phát tăng, sức mua đồng nội tệ  giảm so với ngoại tệ, làm cho tỷ  giá hối đoái  của đồng ngoại tệ  so với nội tệ  tăng (hay tỷ  giá đồng nội tệ  so với ngoại tệ  giảm) và ngược lại.  ­ Nếu giá đồng nội tệ  giảm, đồng nghĩa với  tỷ  giá hối đoái cao sẽ  kích  thích các hoạt động xuất khẩu, hạn chế  nhập khẩu, góp phần tăng thu  ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán. Kích thích tăng trưởng và việc   làm, nhưng đồng thời cũng  tạo nên áp lực làm gia tăng lạm phát. Tỷ  giá  hối đoái cao sẽ khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế các hoạt   động chuyển ngoại tệ  ra nước ngoài, kết quả  là làm cho sức mua của  đồng nội tệ  tăng lên. Tuy nhiên nó sẽ  làm giảm cạnh tranh hàng hóa và  9
  10. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế dịch vụ, làm thâm hụt cán cân vãng lai; cũng có thể  dẫn đến hậu quả  giảm tăng trưởng.  ­ Đồng nội tệ  lên giá có thể  làm giảm lạm phát. BOP thặng dư, tăng dự  trữ. Tuy nhiên khi đồng bản địa yếu, sẽ  phải đối mặt với nguy cơ  nợ  nước ngoài tăng do tỉ  giá giữa đồng bản tệ  so với đồng ngoại tệ  tăng.  Giá trị tài sản quốc gia giảm, nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn… Ngoài ra, tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của một số nhân tố khác như: Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia. Mức độ tăng hay giảm thu nhập quốc dân giữa các nước Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước. Những dự đoán về tỷ giá hối đoái. Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế. Sự can thiệp của chính phủ.  o Can thiệp vào thương mại quốc tế. o Can thiệp vào đầu tư quốc tế. o Can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối. Các nhân tố khác như: khủng hoảng kinh tế, xã hội, đình công,thiên tai... 1.2. Nhận định chung về  tình hình khủng hoảng tài chính, suy giảm   kinh tế toàn cầu Khủng hoảng tài chính 2007­2010 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự  đổ vỡ của hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt   giá chứng khoán và mất giá tiền tệ với quy mô lớn xảy ra ở nhiều nước trên thế  giới, mà nguồn gốc của cuộc  khủng hoảng này  bắt nguồn từ  khủng hoảng  tài  chính ở Hoa Kỳ. Sau những năm tăng trưởng cao, kinh tế thế giới năm 2008 và 2009 bước  vào suy thoái với sự đổ vỡ của nhiều nền kinh tế lớn. Khởi nguồn là những bất  10
  11. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế ổn tài chính và nhà đất của Hoa Kỳ, từ  tháng 9/2008 đã chứng kiến hàng loạt  các công ty lớn của nền kinh tế  lớn nhất thế  giới đang trên bờ  vực phá sản.   Khủng hoảng kinh tế đã lan rộng trong năm 2008 và các nước đều phải chống  chọi lại với cơn bão suy thoái kinh tế. Sự thất thường của giá cả, lạm phát và  thất nghiệp diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Cùng với Hoa Kỳ, các nền kinh tế  lớn khác như Nhật Bản, một số nước thuộc EU,… cũng phải tuyên bố phá sản.   Các nước đang phát triển cũng lâm vào tình trạng suy giảm kinh tế và đặc biệt  là xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn do thị  trường xuất khẩu chính của các   nước này là các nước phát triển. Tín hiệu phục hồi kinh tế  thế  giới xuất hiện  từ cuối quý I và đến hết năm 2009, một số nền kinh tế đã thoát khỏi suy thoái  với những nỗ lực không ngừng của Chính phủ  các nước. Kinh tế  thế giới năm   2009 ước tính tăng trưởng 1,1% (theo IMF) có đóng góp hàng đầu của khu vực  châu Á mà điển hình là Trung Quốc. Mặc dù kinh tế  ít biến động thất thường   hơn so với năm 2008 nhưng những nền kinh tế  hiện nay vẫn luôn tiềm  ẩn   những rủi ro. Thị  trường tài chính thế  giới tiếp tục gặp khó khăn, đầu tư  và  ngoại thương toàn cầu sụt giảm, giá hàng hoá tăng chậm, đẩy suy thoái kinh tế  rơi vào đáy trong những tháng đầu năm 2009. Các khu vực Châu Âu và Châu Mỹ  nhìn chung thoát khỏi suy thoái và có xu hướng phục hồi vào cuối năm nhưng   tính chung cả  năm 2009 kinh tế  vẫn tăng trưởng âm như  Hoa Kỳ, Nhật Bản,   một số nước trong khối EU… Trong điều kiện các nền kinh tế các nước có tốc độ tăng trưởng âm, tính   đến hết năm 2009, chỉ có 12 nước có tốc độ tăng trưởng dương trong đó Trung  Quốc có tốc độ tăng trưởng 8,7% và Việt Nam đạt 5,32%. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu có những ảnh  hưởng lớn đến nền kinh tế  Trung Quốc và đòi hỏi Chính phủ  nước này có  những phản  ứng nhất định. Trong khi các nước phải chật vật để  thoát khỏi  “cơn bão khủng hoảng” thì Trung Quốc lại xem đó như một cơ hội để tranh thủ  11
  12. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế các lợi thế  thương mại để  tạo đà tăng trưởng cho đất nước. Chính sách tỷ  giá   hối đoái của Trung Quốc trong thời kỳ này đã có những thành công nhất định và  khẳng định được sự phát triển mang tính đột phá trong việc đưa Trung Quốc trở  thành nước có kim ngạch xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới, vượt qua cả Đức.  CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG  QUỐC TRONG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2.1. Chế độ tỷ giá của Trung Quốc Chế  độ  tỷ  giá của Trung Quốc từ  năm 1997 đến ngày 21/7/2005:  đồng  Nhân dân tệ  được neo cố  định với USD tại mức tỷ  giá 8,28 CNY/USD. Theo  nhận xét của Hiệp hội các doanh nghiệp của Mỹ (NAM), so với giá trị thực của   nó, CNY đang giảm đi mất 40% và chính điều này đã tạo ra một môi trường   kinh doanh không công bằng, trong đó, hàng nhập khẩu từ  Mỹ trở  nên quá đắt   và mất đi tính cạnh tranh trên thị  trường. Theo các nhà phân tích, một minh   12
  13. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế chứng cho thấy đồng tiền CNY đang bị Chính phủ nước này “dìm giá” chính là   sự tăng lên đột biến trong nguồn ngân sách quốc gia. Đất nước được đánh giá là  khá thành công trong lĩnh vực xuất khẩu này đã trở thành “miếng nam châm” thu  hút lượng lớn ngoại tệ (Bảng 1). Các chuyên gia công nghiệp Hoa Kỳ nói rằng  sở  dĩ có được điều này là vì các nhà sản xuất Trung Quốc có lợi thế  về  đồng   tiền, được duy trì trong một chế độ hối đoái rẻ theo kiểu nhân tạo so với USD,   như  vậy giúp làm cho giá các mặt hàng xuất khẩu trở  nên rẻ  hơn. Trước tình  hình này, Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác của Trung Quốc đã gây sức ép   để đồng nhân dân tệ tăng giá. Cuối cùng Trung Quốc đã phải điều chỉnh tỷ giá  vào năm 2005. Chế độ tỷ giá của Trung Quốc từ 7/2005 đến nay: Năm 2005, Ngân hàng  Trung ương (NHTW) Trung Quốc đã công bố thay đổi chế độ tỷ giá. Trong thời  gian này Trung quốc duy trì chế  độ  tỷ  giá dựa vào rổ  tiền tệ  có biên độ  dao  động rộng được điều chỉnh định kỳ (BBC):  Chế độ tỷ giá BBC được coi là chế độ tỷ giá trung gian nằm giữa chế độ  neo tỷ giá và chế độ tỷ giá thả nổi. Đây là chế đọ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết   của Nhà nước với những đặc điểm riêng có. Chúng ta có thể  dễ  dàng nhận  dạng ra 3 đặc điểm thông qua tên gọi của cơ  chế: tỷ  giá của nội tệ  được xác  định dựa trên 1 rổ  tiền tệ  (Basket), có biên độ  dao động (Band) và được điều   chỉnh định kỳ  (Crawl), với yếu tố  Crawl tỷ  giá có thể  trượt dần dần theo 1   hướng đi lên hoặc đi xuống Tỷ  giá sẽ  được xác định dựa trên một rổ  các đồng tiền (Basket) nhưng  các thành phần và tỷ trọng các đồng tiền không được đưa ra trong lần công bố  này. Đồng thời với việc neo tỷ giá theo một rổ tiền tệ, Ngân hàng Trung ương  Trung Quốc cho phép biên độ dao động hàng ngày của các tỷ giá song phương là   0,3%. Ngày 9/8/2005, trong bài phát biểu khai mạc trụ sở thứ 2 của Ngân hàng  Trung  ương tại Thượng Hải, Thống đốc Ngân hàng Trung  ương Trung Quốc  13
  14. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế ZhouXia Chuan đã công bố 11 đồng tiền trong rổ, trong đó các đồng tiền chính  là đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật và đồng Won Hàn Quốc và các đồng Bảng Anh,  Ruble Nga và   Baht Thái cũng có mặt trong rổ  tiền tệ  nhưng có tỷ  trọng nhỏ  hơn nhiều. Tuy nhiên, căn cứ  vào số  liệu thực tế  của tỷ  giá đa phương danh nghĩa  CNY, Guonan và McCauley đã cho rằng tỷ giá này đã dao động với biên độ  2%/  năm (B ­ Band) và mức độ thay đổi theo ngày là 0,06% (C ­ Crawl). So với lý thuyết thì biên độ dao động của tỷ giá (B­band) là khá nhỏ chỉ  là  2%/ năm. Mặc dù tỷ  giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ  giá đa  phương danh nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần. Như  vậy, Trung Quốc   vẫn duy trì được lợi thế  cạnh tranh thương mại quốc tế  so với các quốc gia   bạn hàng. Do đó, đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thặng dư của   cán cân thương mại của Trung Quốc. 2.2. Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong khủng hoảng Chính sách tỷ  giá hối đoái của Tung Quốc được thực hiện có tính nhất  quán gắn trực tiếp với lợi thế  thương mại về  hàng giá rẻ  và khối lượng lớn   của Trung Quốc. Có thể  nói chính sách tỷ giá này đã hỗ trợ hữu hiệu cho mục   tiêu thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc. Nhờ sự nhạy bén của của các công cụ  trong chính sách tỷ  giá mà Trung Quốc đã đạt được sự   ổn định giá cả  trong   nước và cân bằng tài chính tiền tệ với bên ngoài (trong khi các chính sách kinh   tế khác như chính sách tiền tệ  bị vô hiệu hoá để giảm lạm phát thì chính sách  tỷ giá vẫn đạt được mục tiêu là đẩy mạnh xuất khẩu). Tung Quốc đã cho thấy   việc duy trì tỷ giá trong thời gian dài cùng với sự phá giá hợp lý của đồng nhân  dên tệ  đã tạo ra sự  phát triển tối  ưu cho nền kinh tế  và áp dụng những biện  14
  15. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế pháp hỗ trợ khôn khéo để giảm bớt tác động ngược chiều. Đảm bảo cung ứng   ngoại tệ được duy trì thường xuyên, liên tục đảm bảo cho sự thành công trong   việc điều hành chính sách tỷ giá. Điều hành chính sách tỷ giá hối đoái phải luôn   hướng tới mục tiêu hỗ  trợ  tốt nhất cho chính sách xuất khẩu, từ  đó cải thiện   cán cân thanh toán quốc tế  và tăng dự  trữ  ngoại tệ, hướng tới mục tiêu phát  triển bền vững. Các vấn đề  đươc thực thi trong chính sách tỷ  giá hối đoái của  Trung Quốc có nhiều khía cạnh khác nhau: Kể  từ  đợt điều chỉnh cuối cùng vào tháng 7/2005, đồng nhân dân tệ  đã  tăng khoảng 20% so với USD, nhưng mức tăng này vẫn thấp, nhất là sau đợt đổ  vỡ tín dụng tại Mỹ vào cuối năm 2007 và dẫn đến khủng hoảng toàn cầu. Tại  trong nước, việc duy trì đồng nhân dân tệ  yếu tuy có tác dụng thúc đẩy xuất   khẩu của Trung Quốc, nhưng lại đã tạo sự cạnh tranh khốc liệt về giá cả giữa   các doanh nghiệp Trung Quốc với nhau, mà hậu quả  là nhiều mặt hàng không  đảm bảo chất lượng, nổi bật là máy tính và một số  đồ  điện dân dụng, đây là   những mặt hàng cần đến nguồn nguyên liệu thô, nhất là kim loại và chất dẻo,  trong khi nguồn nguyên liệu này ngày càng khan hiếm và đắt đỏ. Sản xuất tăng  mạnh, hàng hóa bán được nhiều, thị  trường chứng khoán tăng mạnh và có vẻ  đang phát triển bong bóng, nhưng nguy hiểm hơn là lợi nhuận giảm mạnh và   điều này làm tăng xác suất phá sản doanh nghiệp. Suy cho cùng, việc duy trì  đồng nhân dân tệ  yếu quá lâu hoàn toàn không có lợi cho chính nền kinh tế  Trung Quốc, và điều này buộc Chính phủ  Trung Quốc phải can thiệp để  tăng   giá bản tệ với mục tiêu chính là giảm bớt rủi ro đối với kinh tế trong nước. Trong thương mại quốc tế, Trung Quốc luôn theo đuổi chế độ tỷ giá hối   đoái trên cơ  sở  định giá thấp đồng nhân dân tệ  so với các ngoại tệ  khác (đặc   biệt với USD) để  tạo lợi thế  thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tăng   thặng dư cán cân thương mại, duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp, tạo sự ổn định và   bền vững trong dự trữ ngoại hối. 15
  16. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế Bảng 1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại, dự trữ ngoại tệ và tỷ lệ   thất nghiệp của Trung Quốc 2002­2009 Năm   Tỷ giá  CCTM (triệu  Dự trữ ngoại hối  Tỷ lệ thất nghiệp  (CNY/USD)  USD)   (triệu USD)  (%)  2002  8,2770  44.167  286.407    2003  8,2770  44.652  403.251    2004  8,2768  58.982  609.932    2005  8,1943  134.189  818.872    2006  7,9734  217.746  1.066.340    2007  7,6075  261.9  1.528.250  4  2008  6.949  297  1.946.000  4,2  2009  6.831  198  2.400.000  4,3        (Nguồn: http://tradingeconomics.com/Economics) Với việc duy trì tỷ giá phù hợp đã giúp Trung Quốc luôn đạt được thặng  dư  thương mại, kể cả trong giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế thế giới  (Cán cân thương mại thặng dư 261,9 triệu USD trong năm 2007 đến năm 2008  tăng lên 297 triệu USD, năm 2009 giảm nhưng không đáng kể, đạt 198 triệu   USD. Bên cạnh thặng dư cán cân thương mại liên tiếp qua các năm phải kể đến  sự bền vững kho dự trữ ngoại hối của Trung Quốc (tăng từ 1.528 tỷ USD trong   năm 2007 lên 1.946 tỷ USD và tính đến hết năm 2009, con số này lên đến 2.400  tỷ USD). Tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc trong giai đoạn khủng hoảng kinh   tế thấp, dao động trong khoảng 4%. Về thương mại của Việt Nam và Trung Quốc:  Về xuất khẩu: Năm 2008,  trị  giá hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc  đạt gần 4,54 tỷ  USD, tăng 35% so với năm 2007 (trong đó 2 mặt hàng đạt kim ngạch lớn nhất là   16
  17. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế cao su: 1,06 tỷ USD tăng 26% và than đá đạt 743 triệu USD, tăng 14,2%); Năm  2009, trị  giá hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đạt gần 4,91  tỷ USD, tăng 8,2 so với năm 2008. Về nhập khẩu: Năm 2008, Trung Quốc là đối  tác lớn nhất cung cấp hàng hoá cho Việt Nam, với trị  giá 15,64 tỷ  USD, tăng   25,1% so với năm 2007 và chiếm tới hơn 19% tổng kim ngạch nhập khẩu của   Việt Nam (các nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ  yếu từ  thị  trường Trung Quốc   trong năm 2008 là máy mõc, thiết bị, dụng cụ  và phụ  tùng: 3,77 tỷ  USD, sắt   thép: 1,81 tỷ USD, vải các loại: 1,54 tỷ USD). Năm 2009, Trung Quốc tiếp tục   là đối tác lớn nhất cung cấp hàng hoá cho Việt Nam, tổng trị giá nhập khẩu từ  thị  trường Trung Quốc   đạt 16,4%, giảm 4% so với năm 2008 và chiếm tới  23,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Biểu đồ 1: Tỷ giá CNY/USD trung bình qua các năm  (Nguồn: Reuter) Một số  nước đã hối thúc Trung Quốc nới lỏng kiểm soát tiền tệ  hơn   nữa, mục tiêu là giảm sự  mất cân đối thương mại và tiết kiệm giữa các quốc  gia. Đề xuất này đã buộc Trung Quốc phải lưu tâm và mới đây đã tiến hành nới   lỏng tiền tệ, góp phần tăng tỉ  giá giữa đồng nhân dân tệ  với USD. Đồng nhân  17
  18. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế dân tệ lên giá đã tạo ra khả năng đa dạng hóa cơ cấu dự trữ quốc gia, hệ quả là  đẩy đồng đô la giảm sâu hơn so với các đồng tiền mới nổi nhưng tăng lên so   với euro. Một số  Ngân hàng Trung  ương vốn đã mua USD nhằm duy trì việc   neo tỉ giá này đã nhanh chóng đa dạng hóa danh mục dự  trữ  bằng cách bán 1/3  lượng USD thu được để mua những ngoại tệ khác, chủ  yếu là euro vì có rất ít   lựa chọn khác và nếu đồng nhân dân tệ  tăng giá thì tương quan euro/đô la sẽ  giảm xuống. Điều này được nhiều nhà đầu tư  và đầu cơ  kỳ  vọng, kết cục là   giá vàng đã tăng lên so với euro, bảng anh và yên nhật trong thời gian qua (bắt  đầu từ ngày 23/11/2009).  Biểu đồ 2: Tỷ giá CNY/USD theo ngày trong 2 tháng đầu năm 2010 Có nhiều áp lực phải đánh giá lại đồng nhân dân tệ, nhất là sự  mất giá   gần 40% của USD trong 8 năm qua thể  hiện sự  không tương xứng với những   ngoại tệ chủ chốt, trong khi Trung Quốc và nhiều nền kinh tế mới nổi lại neo tỉ  giá với USD vốn đang trượt giá để hỗ trợ xuất khẩu. 18
  19. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế Trong khi đó, các nền kinh tế  mới nổi khác với tỉ  giá linh hoạt hơn đã   phải vật lộn với sự suy giảm tỉ giá. Từ  tháng 3/2009, hầu hết các đồng bản tệ  tại những nước này đã lên giá mạnh, ảnh hưởng xấu đến năng lực xuất khẩu.  Từ  đầu năm nay, đồng real brazil cũng tăng mạnh tới 35% so với USD, buộc  chính phủ Brazil phải đánh thuế 2% đối với thu nhập và cổ phiếu của nhà đầu   tư nước ngoài. Không ngạc nhiên gì, Brazil là một trong số các nước G20 đã lên  tiếng mạnh mẽ về nhu cầu tăng giá đồng nhân dân tệ nhằm lập lại sự cân bằng   kinh tế toàn cầu và qua đó phục hồi USD vốn đang suy yếu.  Tuy nhiên, việc tăng giá đồng nhân dân tệ  có thể tiếp tục làm tăng thêm  việc tập trung euro so với USD đồng thời với việc tăng cường dòng vốn vào các  nền kinh tế mới nổi, dẫn đến tăng giá những đồng tiền này hơn là giảm giá, các   nhà đầu tư  có thể  tiếp tục nâng cao vị  thế  của họ  nhờ các đồng tiền mới nổi  bởi lẽ  việc điều chỉnh đồng nhân dân tệ  chỉ  là sự  bắt đầu của một quá trình  điều chỉnh thị trường ngoại hối dài hơi.  Do đồng nhân dân tệ  được định giá thấp 20­30% so với USD, việc tăng   giá đồng nhân dân tệ thêm 3,4% chẳng có nghĩa lý gì so với mức tăng giá đồng  tiền này trong 12 tháng qua. Do đồng nhân dân tệ chỉ tăng nhẹ, các nền kinh tế  mới nổi, nhất là những đối thủ  cạnh tranh xuất khẩu của Trung Quốc tại châu  Á, phải tiếp tục đối mặt với áp lực tăng giá bản tệ. Trước đó, các Ngân hàng  Trung ương từ Liên bang Nga đến Hàn quốc, Brazil đã hành động để kiềm chế  làn sóng đầu cơ đang đe dọa tốc độ  phục hồi kinh tế trong nước. Trong tháng   10, Ngân hàng Trung ương Nga đã chi 15 tỉ USD và từ đầu tháng 11 đến nay đã   mua trên 5 tỉ  USD để  kiềm chế  tốc độ  tăng giá đồng rúp, đồng thời đang tính  đến khả  năng mua đô la Canada và những đồng tiền khác trong giỏ  ngoại tệ  mạnh. Trong tháng 10, Ngân hàng Trung ương Brazil đã mua 6,7 tỉ USD, gấp đôi  so với tháng trước. Đầu tuần này, Ngân hàng Trung  ương  Ấn Độ  tỏ  ý muốn  19
  20. Nhóm 6 – CH18G                                                                           Bài tập Kinh tế Quốc  tế mua thêm nhiều vàng sau khi đã mua 200 tấn vàng từ  Quỹ  tiền tệ  Quốc tế  (IMF), v.v.  Đồng Euro cũng phải gánh chịu những nỗ  lực kiềm chế tăng giá bản tệ  của Trung Quốc và những nước khác, những đồng tiền này đã tăng giá khoảng  20% so với USD trong 12 tháng qua, và rất ít sự can thiệp ngoại hối có thể hỗ  trợ  các nhà xuất khẩu châu Âu, thậm chí gây ra sự  đảo chiều. Trong bối cảnh   đồng nhân dân tệ  tăng giá, nếu USD phục hồi thì tương quan euro/đô la sẽ  giảm, nhưng sự  phục hồi USD không tác động đến những đồng tiền mới nổi.   Trên thực tế, quyết định của Fed về việc tiếp tục duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ  phục hồi kinh tế sẽ tiếp sức cho hoạt động thương mại. Theo đó, các nhà đầu  tư sẽ vay đô la để mua những tài sản sinh lời cao hơn, nhất là tại các thị trường  mới nổi, do các nhà đầu tư và phân tích kinh tế lạc quan hơn về triển vọng tại  các thị trường mới nổi.  Tóm lại, xu hướng lên giá đồng nhân dân tệ mới đây sẽ làm giảm luồng  vốn từ Trung Quốc và nhiều nước châu Á vào euro và những đồng tiền thả nổi   khác, nhưng không giảm nhẹ áp lực tăng giá bản tệ tại các thị  trường mới nổi.  Mặc dù bị  các quốc gia trên thế  giới lên án về  việc thực thi chính sách tiền tệ  song Trung Quốc vẫn cố gắng kiên định với chế độ tỷ giá BBC nhằm mục tiêu  khuyến khích xuất khẩu, tạo lợi thế thương mại so với các nước bạn hàng và  dần đưa đồng nhân dân tệ trở thành đồng tiện mạnh trong hệ thống tiền tệ thế  giới, nhằm củng cố vị trí tài chính trên trường quốc tế. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản