Tiểu luận môn triết học: Tư tưởng triết học của âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Chia sẻ: Hgfch Hgfch | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

0
765
lượt xem
265
download

Tiểu luận môn triết học: Tư tưởng triết học của âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận môn triết học: Tư tưởng triết học của âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trình bày về cơ sở lý luận của học thuyết âm dương, nguồn gốc và bản chất của triết lý âm dương, ảnh hưởng của tư tưởng triết học của âm dương gia đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận môn triết học: Tư tưởng triết học của âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

  1. Tiểu luận Triết học BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM CAO HỌC KHÓA K19 …………………... .. …..………………. TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC Đề tài: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT GVHD : TS Bùi Văn Mưa SVTH : Thạch Tố Kim LỚP : D1K19 THÁNG 3 NĂM 2010 1 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  2. Tiểu luận Triết học LỜI MỞ ĐẦU “Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những qui tắc chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy”. Để có một định nghĩa hoàn chỉnh về Triết học, lịch sử triết học đã trãi qua bao thăng trầm, biến cố. Thời Trung Cổ triết học bị xem như con sen của thần học; thời nay, nhiều người vẫn xem nó như một trợ thủ cho khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Socrates nói rằng một đời sống không được khảo chứng thì không đáng sống và chúng ta nên theo đuổi mọi chứng lý đến bất cứ nơi đâu khi chưa ngã ngũ. Luôn luôn tìm kiếm, luôn luôn nghi vấn là thái độ căn bản trong sinh hoạt triết học. Nó cũng cho thấy một ý hướng luân lý của một đời sống tốt đẹp vốn là điều cần nhấn mạnh luôn mãi trong triết học. Con người từ cổ xưa đã đã nhận thức được thế giới và bắt đầu đi tìm hiểu để giải thích thế giới. Lịch sử phát triển của Triết học là lịch sử đấu tranh giữa thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật cổ đại, điển hình là trường phái Âm Dương- Ngũ Hành. Thuyết Âm-Dương, Ngũ hành ra đời đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần truyền thống mang lại. Và học thuyết này đã có ảnh hưởng đến thế giới quan của triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả người Việt Nam. Từ khi hình thành và phát triển đến nay tư tưởng Âm Dương Gia đã ăn sâu vào đời sống văn hóa Người Việt. Trong cuộc sống hàng ngày ta dễ dàng bắt gặp tư tưởng này, và người ta vẫn tìm hiểu và nghiên cứu nó. Việt Nam nền văn hóa được kết tinh với bao thăng trầm của lịch sử, một nền văn hóa có nguồn gốc cổ xưa và chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa khác, như nền văn hóa phương Đông, Phương Tây, nền văn hóa của các nước Ấn Độ, Trung Quốc,... Trong đó bị ảnh hưởng sâu đậm nhất là văn hóa phương Đông, là những sản phẩm đặc thù của lối tư duy tổng hợp và trong quan hệ biện chứng, để lại dấu ấn sâu đậm hơn cả là những tri thức về vũ trụ quan và nhân sinh quan. Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển và văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người và đặt mục tiêu “ xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Chính vì thế, sự tìm hiểu nguồn gốc, học thuyết Âm Dương, Ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông và văn hóa Việt Nam. Do đó tôi chọn đề tài “ Tư tưởng triết học của Âm Dương Gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt”. 2 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  3. Tiểu luận Triết học CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN I. HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 1. Triết lí âm dương: khái niệm, nguồn gốc và bản chất 1.1. Âm dương theo Dịch học Học thuyết Âm-Dương được thể hiện sâu sắc trong "Kinh Dịch". Trời đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến hóa.Thái Cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương luôn luôn chuyển hóa làm cho vũ trụ vận động và vạn vật sinh tồn. Thái Cực thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. “ Thị sinh” ở đây không có nghĩa là từ cái “ không” mà sinh ra cái “ có”, mà có nghĩa là đã có sẵn trong đó rồi, và có thể nhận thấy được khi phân hai (sinh) mà hoạt động. Thái (lớn quá cao xa quá), Cực (là chỗ tận cùng, chỗ chấm dứt, và cũng có nghĩa là rất lắm, quá nhiều quá lớn) là nguyên lí tạo dựng và chi phối Vũ Trụ. Lí Thái Cực là lí Nhất Nguyên Lưỡng Cực có nghĩa là một nơi (Nhất Nguyên) khi nói chung (khi bất động) có hai phần Âm Dương (Lưỡng Cực) khi nói riêng ra (khi hoạt động). Nói ngược lại sự hoạt động của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Toàn thể Vũ Trụ này sinh tồn là do lí Thái Cực, và mội vật đều do Âm Dương tác tạo, nên cũng có một lí Thái Cực cho riêng mình. Âm Dương là khí vô hình, có hai phần khác nhau là Dương và Âm để bù đấp cho nhau và sinh động lực. 1.2. Khái niệm âm dương Âm và Dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Là hai khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại. Và mọi tai họa trong vũ trụ xảy ra cũng là do không điều hòa được hai lực lượng ấy. Âm thể hiện cho những gì yếu đuối nhỏ bé, tối tăm, thụ động, nữ tính, mềm mại ... đối lập nó là dương thể hiện sự mạnh mẽ, ánh sáng, chủ động, nam tính, cứng rắn ... Triết lý giải thích vũ trụ dựa trên âm và dương được gọi là triết lý âm dương. 1.3. Nguồn gốc của âm dương Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Lý luận về Âm-Dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách "Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả Âm-Dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược... Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất". 3 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  4. Tiểu luận Triết học Lão Tử (khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm Âm-Dương. Ông nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng dương”, ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn, đó là Âm-Dương. Nói về nguồn gốc của âm dương và triết lí âm dương, theo rất nhiều người như Khổng An Quốc và Lưu Hâm ( nhà Hán) cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo. Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) đi chơi ở sông Hoàng Hà nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con Long Mã (con vật tưởng tượng mình ngựa đầu rồng) mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, Phục Hy mới đem lẽ đó vạch thành nét làm ra Hà Đồ. Lại có một số tài liệu cho rằng đó là công lao của “ âm dương gia”, một giáo phái của Trung Quốc. Nhưng Phục Hy chỉ là nhân vật huyền thoại, không có thực còn âm dương gia chỉ có công áp dụng âm dương để giải thích địa lí- lịch sử, và phái này hình thành vào thế kỉ thứ ba nên không thể sáng tạo âm dương. Vì vậy cả hai giả thuyết này đều không có cơ sở khoa học. Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận “ khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam” ( “ phương nam” ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam). Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa đã trãi qua hai thời kì: thời kì “ Đông tiến”, và thời kì “ Nam tiến”. Trong quá trình “ Nam tiến”, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam. Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương. Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹ-cha" và "đất-trời" này, người ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác. Đến lượt mình, các cặp này lại là cơ sở để suy ra vô số các cặp mới. 2. Trừu tượng hóa âm dương Từ việc khái niệm âm dương được dùng để chỉ những cặp đối lập cụ thể ở trên, người xưa tiến thêm một bước là dùng nó để chỉ những cặp đối lập trừu tượng hơn ví dụ như "lạnh-nóng", rồi cặp "lạnh-nóng" lại là cơ sở để suy tiếp như về phương hướng: "phương bắc" lạnh nên thuộc âm, "phương nam" nóng nên thuộc dương; về thời tiết: "mùa đông" lạnh nên thuộc âm, "mùa hè" nóng nên thuộc dương; về thời gian: "ban đêm" lạnh nên thuộc âm, "ban ngày" nóng nên thuộc dương. Nếu tiếp tục suy diễn nữa thì: đêm thì tối 4 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  5. Tiểu luận Triết học nên "tối" thuộc âm, ngày thì sáng nên "sáng" thuộc dương; tối có màu đen nên "màu đen" thuộc âm, ngày sáng thì nắng "đỏ" nên "màu đỏ" thuộc dương. Từ cặp "mẹ-cha" (nữ-nam, cái-đực) có thể suy ra rằng:  Giống cái có khả năng mang thai (tuy một mà hai), nên về loại số, thì số "chẵn" thuộc âm; giống đực không có khả năng ấy, một là một, nên số "lẻ" thuộc dương. Điều này giải thích tại sao quẻ dương là một vạch dài (-), còn quẻ âm là hai vạch ngắn (--).  Về hình khối thì khối vuông ổn định, tĩnh, tỷ lệ giữa cạnh và chu vi là 1:4, số 4 là số chẵn, chính vì thế mà khối vuông thuộc âm; hình cầu không ổn định, động, tỷ lệ giữa đường kính và chu vi là 1:3 (số π), số 3 là số lẻ, chính vì vậy mà khối cầu thuộc dương. Tuy vậy, các cặp đối lập chưa phải là nội dung chính của triết lý âm dương. Triết lý âm dương không phải là triết lý về các cặp đối lập. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có các phạm trù đối lập nhau, ngôn ngữ của tất cả các dân tộc đều có từ trái nghĩa. Điều quan trọng của triết lý âm dương chính ở bản chất và quan hệ của hai khái niệm âm dương. Đó chính là điều khác biệt triết lý âm dương với các triết lý khác. 3. Các quy luật của triết lý âm và dương Tất cả các đặc điểm của triết lý âm dương đều tuân theo hai quy luật cơ bản. Đó là quy luật về bản chất của các thành tố và quy luật về quan hệ giữa các thành tố. 3.1. Quy luật về bản chất của các thành tố của triết lý âm dương là:  Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương  Trong âm có dương, trong dương có âm. Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối, trong sự so sánh với một vật khác. Ví dụ về trong âm có dương: đất lạnh nên thuộc âm nhưng càng đi sâu xuống lòng đất thì càng nóng; về trong dương có âm: nắng nóng thuộc dương, nhưng nắng nhiều sẽ có mưa nhiều (hơi nước bay lên) làm nên mưa lạnh thuộc âm. Trong mỗi người đều tiềm ẩn chất khác giới, nên giới tính có thể biến đổi bằng cơ chế thức ăn hoặc giải phẫu. Chính vì thế mà việc xác định tính âm dương của các cặp đối lập có sẵn thường dễ dàng. Nhưng đối với các vật đơn lẻ thì khó khăn hơn nên có hai hệ quả để giúp cho việc xác định tính âm dương của một đối tượng:  Muốn xác định được tính chất âm dương của một đối tượng thì trước hết phải xác định được đối tượng so sánh. 5 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  6. Tiểu luận Triết học Ví dụ: Nam so với nữ thì mạnh mẽ (dương) nhưng so với hùm beo thì lại yếu đuối (âm), màu trắng so với màu đỏ thì là âm, nhưng so với màu đen thì là dương… Ta có thể xác lập được mức độ âm dương cho nhiều hệ; ví dụ, về màu sắc thì đi từ âm đến dương ta có đen-trắng-xanh-vàng-đỏ (đất "đen" sinh ra mầm lá "trắng", lớn lên thì chuyển thành "xanh", lâu dần chuyển thành lá "vàng" và cuối cùng thành "đỏ"). Tuy nhiên không phải xác định được đối tượng rồi là xác định được tính chất âm dương của chúng.  Muốn xác định được tính chất âm dương của một đối tượng thì sau khi xác định được đối tượng so sánh còn phải xác định được cơ sở so sánh. Đối với cùng cùng một cặp hai vật, các cơ sở so sánh khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau. Ví dụ: nước so với đất thì, về độ cứng thì nước là âm, đất là dương, nhưng về độ linh động thì nước là dương, đất là âm; nữ so với nam, xét về giới tính là âm, nhưng xét về tính cách có thể là dương… 3.2. Quy luật về quan hệ giữa các thành tố của triết lý âm dương là:  Âm dương gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau.  Âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm. Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho nhau. Cây màu xanh từ đất "đen", sau khi lớn chín "vàng" rồi hóa "đỏ" và cuối cùng lại rụng xuống và thối rữa để trở lại màu "đen" của đất. Từ nước lạnh (âm) nếu được đun nóng đến cùng cực thì bốc hơi lên trời (thành dương), và ngược lại, nếu được làm lạnh đến cùng cực thì nó sẽ thành nước đá (thành dương). Âm và Dương không chỉ phản ánh hai loại yếu tố (lực lượng) mà còn phản ánh hai loại khuynh hướng đối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau xoắn vào nhau; trong âm có dương và trong dương có âm. Đó cũng là sự thống nhất giữa cái động và cái tĩnh; trong động có tĩnh, trong tĩnh có động… nghĩa là trong âm và dương đều có tĩnh và có động, chỉ khác ở chỗ, bản tính của âm thì hiếu tĩnh, còn bản tính của dương thì hiếu động… Do thống nhất, giao cảm với nhau mà âm và dương có động, mà động thì sinh ra biến; biến tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cữu được. Chính sự thống nhất và tác động của hai lực lượng , khuynh hướng đối lập âm và dương tạo ra sự sinh thành biến hóa của vạn vật; khi vạn vật biến hóa tới cùng thì quay trở lại cái ban đầu. Biểu tượng Thái cực (hình thành trong đạo giáo vào đầu công nguyên) phản ánh đầy đủ hai qui luật về bản chất hòa quyện và quan hệ chuyển hóa của triết lí âm dương;- vòng tròn khép kín: trong đó được chia thành nửa đen nửa trắng, âm màu đen nặng hướng 6 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  7. Tiểu luận Triết học xuống, dương màu sáng nhẹ nổi lên, trong nửa đen có chấm trắng, trong nửa trắng có chấm đen; phần trắng là dương, phần đen là âm, chúng nói lên âm và dương thống nhất: trong âm có dương và trong dương có âm, trong thái âm có thiếu dương, trong thái dương có thiếu âm. Thiếu dương trong thái âm phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa thành thiếu âm trong thái dương và ngược lai. Cứ vậy vạn vật thay đổi, biến hóa không ngừng. Biểu tượng Thái cực 4. So sánh với các quy luật của lô-gíc học Trong lô-gíc học cũng có hai quy luật tương đương với hai quy luật ở trên. Đó là quy luật về bản chất của thành tố - luật đồng nhất, và quy luật về quan hệ giữa các thành tố - luật lý do đầy đủ mà hệ quả của nó là luật nhân quả. Luật đồng nhất (bản chất A = A) chỉ đúng khi sự vật và hiện tượng đứng yên, mà điều này thì không biện chứng vì sự vật và hiện tượng luôn vận động (đổi mới), mà nếu vận động thì nó không thể đồng nhất với chính nó được nữa. Trong khi đó, quy luật về bản chất của triết lý âm dương là trong âm có dương, trong dương có âm, tức là trong A đã có B rồi. Luật lý do đầy đủ xác lập nên luật nhân quả cũng chỉ xem xét sự vật và hiện tượng trong sự cô lập, không liên hệ với môi trường xung quanh, trong khi trên thực tế, sự vật và hiện tượng tồn tại trong không gian và quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác. Cái này là nhân của cái kia, nhưng nó lại là quả của cái khác. Không có nhân tuyệt đố và quả tuyệt đối rất phù hợp với luật chuyển hóa âm dương bất tận, vô thủy (không có bắt đầu) và vô chung (không có kết thúc). Hai quy luật của lôgíc học là sản phẩm của lối tư duy phân tích, chú trọng đến các yếu tố biệt lập của văn hóa du mục; trong khi quy luật của triết lý âm dương là điển hình của tư duy tổng hợp, chú trọng đến các quan hệ của văn hóa nông nghiệp. 5. Hai hướng phát triển của triết lý âm dương 7 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  8. Tiểu luận Triết học Triết lý âm dương là cơ sở để xây dựng lên hai hệ thống triết lý khác đó là hệ thống "tam tài, ngũ hành" và "tứ tượng, bát quái". Nếu so sánh phương Đông với phương Tây thì phương Tây chú trọng đến tư duy phân tích, siêu hình còn phương Đông chú trọng đến tư duy tổng hợp, biện chứng. Nhưng nếu xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ thấy phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích. Triết lý âm dương bắt nguồn từ phương Nam, nhưng đối với các dân tộc Đông Nam Á, do tính phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tư duy âm dương sơ khai mang tính tổng hợp. Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó. Tổ tiên người Hán cũng vậy, sau khi tiếp thu triết lý âm dương sơ khai, họ cũng phát triển nó nhưng do năng lực phân tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của người Bách Việt mà từ triết lý âm dương ban đầu, người Bách Việt và người Hán đã xây dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau. Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm (ngũ hành). Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc phương Nam) lại cho rằng: "nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam. Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản" ... Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi âm dương là lưỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành vũ trụ như sau: "lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám). Người phương Bắc thích dùng số chẵn; ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ",... Lối tư duy như vậy, hoàn toàn không có chỗ cho ngũ hành - điều này cho thấy, quan niệm cho rằng "âm dương - ngũ hành - bát quái" chỉ là sản phẩm của người Hán có lẽ là một sai lầm. II. TAM TÀI Tam tài là một khái niệm bộ ba “ ba phép” : Thiên- Địa- Nhân. Đây có lẻ là một tên gọi xuất hiện về sau dùng để gọi sự vận dụng cụ thể một quan niệm triết lí cổ xưa về cấu trúc không gian của vũ trụ dưới dạng một mô hình ba yếu tố. Với lối tư duy tổng hợp và biện chứng quen thuộc, người xưa sớm nhận ra các cặp âm dương tưởng chừng riêng rẽ như trời- đất, trời- người, đất- người thực ra có mối liên hệ chặc chẽ với nhau, tạo nên một loại mô hình hệ thống gổm ba thành tố; đây có lẻ là con đường dẫn đến tam tài từ triết lí âm dương. Trong tam tài “ Trời- Đất- Người” , Trời dương, Đất âm, Người ở giữa. 8 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  9. Tiểu luận Triết học III. TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NGŨ HÀNH 1. Học thuyết Ngũ Hành qua các thời kì ở Trung Hoa Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành thuyết âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bản thể thế giới, bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp hình thành thuyết ngũ hành. Thuyết ngũ hành có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới của vũ trụ, nó cụ thể hóa và bổ sung cho thuyết âm dương thêm hoàn bị. Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm "Kinh thư" ở chương "Hồng phạm. Trong Cửu trù "Hồng Phạm" thì ngũ hành về mặt tự nhiên được hình thành bằng những tên của năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và kèm theo tính chất của các loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể thiếu được đối với đời sống con người. "Hồng phạm" đã ảnh hưởng rất lớn đến triết học của thời đại phong bến sau này. Các nhà duy vật và duy tâm từ những lập trường và giác độ khác nhau mà rút ra từ "Hồng phạm" những tư tưởng phù hợp với mình. Chính "Hồng phạm" và "Kinh dịch" đã tạo nên cái nền của vu trụ luận. Trong thiên "Thập nhi kỉ" sách “Lã Thị Xuân Thu" phần nói về mối quan hệ giữa ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn. "Nguyệt lệnh" dùng thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tương sinh) lẫn nhau giữa chúng để thuyết minh cho sự biến hóa của thời tiết bốn mùa. Sự thuyết minh này tuy có tính chất khiên cưỡng nhưng là một quan điểm duy vật. Trâu Diễn là một lãnh tụ quan trọng của các nhà ngũ hành thời Chiến quốc. Khi đưa thuyết ngũ hành vào lịch sử ông đã dùng trật tự của ngũ hành để gán ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một nếp khẳng định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra cuộc tranh luận về việc chọn tên "hành" cho triều đại nhà Hán (một triều đại mà học thuyết âm dương ngũ hành rất thịnh và được đem ứng dựng vào tất cả các công việc hàng ngày, vào mọi mặt của đời sống xã hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia đương thời hấp thụ và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội. Học thuyết ngũ hành của Đổng Trọng Thư một nho si uyên bác đời Hán có nhiều điểm khác với tư tưởng của Cơ Tử và Trâu Diễn. Đi sâu vào hình thái của quy luật ngũ hành, Đổng Trọng Thư cho rằng: trật tự của ngũ hành bắt đầu từ Mộc qua Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Khi phân tích quy luật sinh khắc của ngũ hành, ông đã dựa hẳn vào sự diễn biến của khí hậu bốn mùa. Theo ông, sở dĩ có sự vận chuyển bốn mùa là do khí âm, dương biến đổi. Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời lấy số 1 mà sinh thành thủ, đất lấy 9 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  10. Tiểu luận Triết học số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành. 2. Ngũ hành là gì? Theo thuyết duy vật cổ đại thì tất cả vật chất cụ thể được tạo thành trong vũ trụ đều do năm nguyên tố cơ bản ban đầu tạo thành và luôn trãi qua năm trạng thái gọi là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ( tức là Kim loại, Cây, Nước, Lửa, Đất). Năm trạng thái này gọi là Ngũ hành, không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen theo tên gọi của chúng mà đúng hơn là cách quy ước từ xưa để xem xét mối tương tác quan hệ của vạn vật. 3. Cơ sở Ngũ hành- Hà Đồ. 3.1. Hà Đồ Hà Đồ là một hệ thống gồm những chấm đen hoặc trắng được sắp xếp theo những cách thức nhất định Hình Hà Đồ Những nhóm chấm- vạch ấy chính là những kí hiệu biểu thị 10 số tự nhiên từ 1 đến 10 ở thời kì chưa có chữ viết, nhưng đã xuất hiện triết lí âm dương, bởi các chấm trắng là các số dương (số lẻ), và các chấm đen biểu thị các số âm (số chẵn). Đây là sản phẩm mang tính triết lí sâu sắc của lối tư duy tổng hợp: Thứ nhất, đó là sự tổng hợp giữa số học và hình học (người làm nông vừa tính đếm, vừa đo đạt ruộng đất): 10 con số được chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm có 1 số âm (chẵn) và một số dương (lẻ), gắn với một phương Băc- Nam- Đông- Tây và trung ương ( nơi con người đứng- không có trung ương thì không thể nào xác định bắc- nam- đông- tây được). 10 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  11. Tiểu luận Triết học Thứ hai, đây là sự tổng hợp cuộc đời của các con số với cuộc sống của con người: Các số nhỏ (từ 1 đến 5) gọi là số sinh, nằm ở vòng trong, các số lớn (từ 6 đến 10) gọi là số thành, nằm ở vòng ngoài (ngay cả ở trung ương số 5 cũng nằm trong số 10), cũng như con người khi mới sinh ra còn quanh quẩn trong nhà, trưởng thành lên mới đi ra ngoài xã hội. Hà đồ thực sự là một triết lí uyên thâm về các con số: mỗi nhóm có một chẵn một lẻ (một âm, một dương); một nhỏ một lớn (một sinh một thành). Người nông nghiệp chú trọng nhiều đến các quan hệ, cho nên đặc biệt quan tâm đến chỗ giữa- con số 5 ở giữa của chính giữa, trung tâm của trung tâm được gọi là số “ tham thiên lưỡng địa” (3 trời 2 đất = ba dương hai âm). 3.2. Ngũ hành theo Hà Đồ Trong sự tồn tại và phát triển Hà Đồ đã trở thành cơ sở cho việc tạo nên Ngũ Hành.Trong đồ hình không những có Âm Dương mà còn có cả nội dung tương tác của 10 số đếm, thông qua sự định vị 5 con số Sinh đầu tiên, đại diện cho 5 yếu tố vận động trong vũ trụ: Số Trời 1 sinh Thủy, thành số Đất 6, Số Đất 2 sinh Hỏa, thành số Trời 7, Số Trời 3 sinh Mộc, thành số Đất 8, Số Đất 4 sinh Kim, thành số Trời 9, Số Trời 5 sinh Thổ, thành số Đất 10. Như vậy Ngũ Hành đã được định cùng với 5 cặp số Sinh Thành ra chúng, có vị trí Tiên Thiên theo đúng các hướng của các cặp số: 1-6: Hành Thủy, phương Bắc 2-7: Hành Hỏa, phương Nam 3-8: Hành Mộc, phương Đông 4-9: Hành Kim, phương Tây 5-10 Hành Thổ, ở Trung Tâm. Ngũ hành được xây dựng như thế chính là một mô hình 5 yếu tố về cấu trúc không gian của vũ trụ. Sự sắp xếp các hành theo phương cho thấy rõ nguồn gốc nông nghiệp của ngũ hành: đối với nông nghiệp không gì quan trọng hơn đất, cho nên hành Thổ được đặt vào trung ương, cai quản bốn phương. Sau đất thì đến nước, nên hành Thủy ứng với số 1, 11 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  12. Tiểu luận Triết học là khởi đầu, Thủy là âm nên ở phương Bắc; Hỏa là dương nên ở phương Nam. Hành Mộc (dương), bởi cây cối là sự sống, xanh tốt vào buổi sáng, mùa xuân nên ứng với phương Đông dương tính, còn hành Kim (âm bởi kim loại tĩnh) ứng với phương Tây âm tính . Các hành được sắp xếp theo thứ tự của Hà Đồ là thứ tự Thủy- Hỏa- Mộc- Kim- Thổ. Thứ tự quen dùng “ Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ” là thứ tự đã bị sau này làm cho sai lạc. Ngũ hành tương sinh theo Hà Đồ Giữa các hành có quan hệ tương sinh: quan hệ này xác định giữa từng cặp hai thành một theo trật tự kim đồng hồ của ngũ hành theo Hà Đồ. Ngoài tương sinh giữa các hành còn có quan hệ tương khắc. 4. Các quy luật tương sinh và tương khắc trong Ngũ hành Học thuyết Ngũ hành diễn giải sự sinh hóa của vạn vật qua hai nguyên lí cơ bản gọi là Tương Sinh và Tương Khắc trong mối tương tác và quan hệ của chúng. Thủy sinh Mộc ( ví du: nước giúp cây tươi tốt). Mộc sinh Hỏa (ví dụ: gỗ làm nhiên liệu cho lửa). Hỏa sinh Thổ ( ví dụ: lửa đốt tro bụi làm cho đất màu mỡ). Thổ sinh Kim (ví dụ: trong lòng đất sinh ra kim loại). Kim sinh Thủy (ví dụ: kim loại nóng chảy trở về thể lỏng). Ngũ hành tương sinh thực chất là sự chi tiết hóa của âm dương chuyển hóa (Thủy là cực âm và Hỏa là cực dương). Thủy khắc Hỏa (ví dụ: nước dập tắc lửa). 12 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  13. Tiểu luận Triết học Hỏa khắc Kim (ví du: lửa nung chảy kim loại). Kim khắc Mộc (ví dụ: dao chặt cây). Mộc khắc Thổ (ví dụ: cây hút chất màu của đất). Thổ khắc Thủy (ví dụ: đất đắp đê ngăn nước). Một số học giả dựa trên cơ sở sinh và khắc lại bổ sung thêm tương thừa, tương vũ thực chất là suy diễn ra từ hai nguyên lí cơ bản trên. Tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ kết hợp thành chế hóa, biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của sự vật.  Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để phát triển. Đem Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy năm hành có quan hệ tiếp xúc lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau. Trong luật tương sinh của Ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ trên hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, ứng dụng này vào y học còn gọi là mẫu và tử.  Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là áp chế lẫn nhau. Sự tương khắc có tác dụng duy trì sự cân bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hóa trở thành bất thường. Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai mối quan hệ: Cái khắc nó là cái nó khắc. Từ quy luật tương khắc, bàn rộng thêm ta có tương thừa (nghĩa là khắc quá đỗi) và tương vũ (nghĩa là khắc không nổi mà bị phản phục lại). Hiện tượng tương sinh, tương khắc không tồn tại độc lập với nhau. Trong tương khắc luôn có mầm mống của tương sinh, trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc. Do đó vạn vật luôn luôn tồn tại và phát triển. Lấy Ngũ hành theo Hà Đồ làm gốc, kéo hành Thổ từ trung tâm ra biên, biểu diễn mối quan hệ tương sinh tương khắc trong hình ngôi sao.Các mũi tên liền nét theo vòng thuận chiều kim đồng hồ biểu thị quan hệ ngũ hành tương sinh, còn các mũi tên không liền nét vẽ heo hình ngôi sao bên trong biểu thị ngũ hành tương khắc. Ngũ hành tương sinh- tương khắc 13 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  14. Tiểu luận Triết học Với tư cách một mô hình bộ 5 về cấu trúc không gian của vũ trụ, Ngũ hành có các ưu có các ưu điểm:  Có số lượng thành tố vừa phải ( không nhiều quá không ít quá).  Có số lượng thành tố lẻ ( bao quát được trung tâm).  Có số lượng về mối quan hệ tối đa. Về mặt toán học, người ta đã chúng minh rằng hệ thống 5 trung tâm chính là hệ thống tự điều chỉnh ưu việt nhất. Tóm lại, thuyết Ngũ hành đã khẳng định tính vật chất của thế giới; Vạn vật và thế giới không ở trong trạng thái tĩnh mà ở trong trạng thái động và không tồn tại tách biệt lẫn nhau mà tồn tại trong mối quan hệ mật thiết chuyển lẫn nhau. Tuy nhiên, hạn chế của Ngũ hành là đã coi sự vận động và quan hệ của vạn vật chỉ đi theo chu trình tuần hoàn, lập lại. 5. Mối quan hệ giữa âm dương và Ngũ hành Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó phải dùng thuyết Ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết hợp học thuyết âm dương với học thuyết Ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý. Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận dụng kết hợp cả hai học thuyết âm dương và Ngũ hành. Vì học thuyết âm dương mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể con người, còn học thuyết Ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể con người và giữa con người với tự nhiên. Có thể khẳng định, trên cơ bản, âm dương Ngũ hành là một khâu hoàn chỉnh, giữa âm dương và Ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời. Âm dương Ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học thuyết âm dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương Ngũ hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời quy định. Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang dấu ấn của tính 14 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  15. Tiểu luận Triết học trực giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể. IV. BÁT QUÁI Như đã nói, hướng phát triển khác của triết lí Âm Dương là phân đôi cặp Lưỡng nghi thành Tứ Tượng (từ hai mùa nóng lạnh được bốn mùa Xuân- Hạ- Thu- Đông; từ hai phương chính Nam- Bắc được bốn phương Nam- Bắc- Đông- Tây). Rồi từ Tứ tượng phân đôi tiếp thành Bát Quái có tám quẻ (Càn, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn); mỗi quẻ được biểu thị bằng ba vạch liền (lẻ, dương) và hoặc đứt (chẵn, âm). Bát quái Tiên thiên biểu tượng cho 8 hiện tượng tự nhiên: Trời- Đầm- Lửa- Sấm- Gió- Nước- Núi- Đất. Bát quái Hậu thiên biểu tượng cho cha mẹ và 6 con trong gia đình. Bát Quái La bàn Bát quái có năm vòng tròn: giữa là Thái cực, vòng hai là lưỡng nghi, vòng ba là tứ tượng, vòng bốn là bát quái, vòng năm 64 quái. Theo Kinh dịch thì vũ trụ biến dịch từ Vô cực đến Thái cực. Lưỡng nghi: nghi dương ký hiệu là vạch liền (-), nghi âm ký hiệu là vạch đứt (- -). Ta lấy dương chồng lên dương và lấy âm chồng lên dương sẽ được hai hình tượng Thái Dương biểu tượng cho lửa và Thiếu Dương biểu tượng cho kim khí; Ta lại lấy âm chồng lên âm và dương chồng lên âm sẽ được hai hình tượng Thái Âm biểu tượng cho nước và Thiếu Âm biểu tượng cho gỗ. Chúng ta lấy dương lần lượt chồng lên Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm và sau đó lấy âm lần lượt chồng lên Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương ta sẽ được hình tượng của Bát quái: Kiền là Trời, Ly là lửa, Cấn là núi, Tốn là gió, Khôn là đất, Khảm là nước, Đoài là đầm, Chấn là sấm. Trong tám quẻ đơn chỉ Chấn, Đoài là thuận. Mỗi quẻ có ba vạch gọi là ba hào. Hào trên là hào hạ tượng trưng cho đất- âm; hào giữa là hào trung tượng trưng cho người; hào dưới là hào thượng tượng trưng cho trời- dương. 15 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  16. Tiểu luận Triết học Lấy mỗi quẻ trong tám quẻ ấy lần lượt chồng lên cả tám quẻ sẽ tạo ra 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép có 6 hào, ba hào trên là ngoại quẻ, ba hào dưới là nội quẻ. Chẳng hạn các quẻ trùng quái: Trùng Kiền (2 kiền), Trùng Khôn (2 khôn), Truân (Khảm dưới, chấn trên), Mông (Khảm dưới, cấn trên), Nhu (Cấn dưới, khảm trên), Tụy (Khảm dưới, càn trên), Khiêm (Khôn trên, cấn dưới), Thái (Càn dưới, khôn trên), Bĩ (Khôn dưới, càn trên), ... Trong thế giới dù khác nhau đến mức nào cũng quy về 64 quẻ ấy. Khi cần dự báo lành hay dữ người ta xem sự kiện đó ứng với quẻ nào và đọc quẻ đó. Tùy đối tượng nghiên cứu mà việc ứng dụng mỗi quẻ đơn và mỗi quẻ kép nhận những ý nghĩa cụ thể khác nhau. Chẳng hạn theo Hà Đồ thì: - Kiền là trời, hướng Nam, số 1, dương; - Khôn là đất, hướng Bắc, số 8, âm; - Khảm là nước, hướng Tây, số 6, âm; - Ly là lửa, hướng Đông, số 3, dương; - Đoài là đầm, hướng Đông Nam, số2, âm; - Chấn là sấm, hướng Đông Bắc, số 4, âm: - Tốn là gió, hướng Tây Nam, số 5, dương; - Cấn là núi, hướng Tây Bắc, số 7, dương. Từ 1-4 tức từ Kiền đến Chấn là đi thuận; từ 5-8 tức từ Tốn đến Khôn là đi nghịch. 1. Kiền (Nam) 2. Đoài (Đnam) 5.Tốn (T.nam) 4.Chấn (Đ.bắc) 7.Cấn (T.bắc) 8 Khôn (Bắc) Hoặc: Cửu Dương (số 9) là Nam, Cương, Thiện, Đại, Chính, Thành, Thực, Quân tử, Phú. Lục Âm (số 6) là Nữ, Nhu, Ac, Tiểu, Tà, Ngụy, Hư, Tiểu nhân, Bần. V. VĂN HÓA 1. Văn hóa là gì? Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. 2. Các đặc trưng của văn hóa Văn hóa có tính hệ thống: Văn hóa là một sự phản ánh một cách tổng quát những mối quan hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiến của một quốc gia. Đồng thời chính tính hệ thống của văn hóa sẽ là phương tiện cần thiết để chúng ta có ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình nhằm điều chỉnh tích cực tạo điều kiện cho con người và môi trường được hòa hợp. Văn hóa có tính giá trị: bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được thể hiện ở giá trị của những của cải vật chất do xã hội tạo ra trong từng thời kì lịch sử. Giá trị tinh thần là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần bao gồm khoa học và mức độ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, trình độ học vấn, tình trạng giáo dục, y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức trong hành vi của các thành viên trong xã hội, trình độ phát triển nhu cầu của con người… Và bao gồm cà những phong tục, tập quán, những phương thức giao tiếp… 16 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  17. Tiểu luận Triết học Văn hóa có tính nhân sinh: Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần. Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết con người lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó. Văn hóa còn có tính lịch sử: Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng hệ thống văn hóa. Tính lịch sử còn được thể hiện bằng truyền thống văn hóa, đó là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận… 3. Khái quát văn hóa Việt Nam Văn hóa Việt Nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước, có thể chia thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử; văn hóa Văn Lang- Âu Lạc; văn hóa thời chống Bắc thuộc; văn hóa đại Việt; văn hóa địa Nam và văn hóa hiện đại. Sáu giai đoạn này tạo thành ba lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây. Trong đó: Thuộc loại nhận thức được hình thành trong lớp văn hóa giao lưu với phương Tây thì có các tri thức khoa học. Thuộc loại nhận thức được hình thành trong lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực thì để lại dấu ấn sâu đậm về vũ trụ quan và nhân sinh quan do Tam giao ( Nho giáo- Phật giáo- Đạo giáo) mang lại. Thuộc loại nhận thức hình thành trong lớp văn hóa bản địa có triết lí Âm dương giải thích bản chất vũ trụ; Ngũ hành giải thích cấu trúc không gian vũ trụ. Những tri thức đó đã được vận dụng để tìm hiểu và khám phá con người trên các phương diện tự nhiên xã hội. 17 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  18. Tiểu luận Triết học CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT Văn hóa Việt Nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp nên chứa những đặc trưng âm tính là chủ yếu: ở thì muốn yên ổn một nơi, với thiên nhiên thì muốn hòa hợp, với con người thì nặng về tình cảm, với môi trường xã hội thì bao dung… Còn văn hóa gốc du mục thì lại chứa những đặc trưng dương tính là chủ yếu: ở thì nay đây mai đó, với thiên nhiên thì muốn chinh phục, với mọi người thì thiên về bạo lực, với môi trường xã hội thì ưa độc tôn… Xét về gốc độ triết lí âm dương, có thể gọi văn hóa gốc nông nghiệp là loại văn hóa trọng âm, còn văn hóa gốc du mục là loại văn hóa trọng dương. 1. Triết lí âm dương và tính cách người Việt Như đã nói, triết lí âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp về sự sinh sản của hoa màu và con người. Từ hai cặp đối lập gốc “ mẹ- cha” và “đất- trời”, người xưa dần dần suy ra hàng loạt cặp đối lập như những thuộc tính của âm dương. Lối tư duy đó tạo ra một quan niệm lưỡng phân lưỡng hợp có phần chất phát và thô sơ về thế giới ở người Đông Nam Á cổ đại. Từ tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, trên cơ sở các cặp đối lập rõ nét, người Đông Nam Á xưa đã mở rộng ra để tìm cách xác lập bản chất âm dương cho những khái niệm, sự vật biệt lập. Có lẽ từ quá trình này dẫn đến chỗ cảm nhận được tính hai mặt của âm dương và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng. Và cũng từ những ý niệm còn hồn nhiên và chất phát này là tiền đề cho tổ tiên người Hán phạm trù hóa và hệ thống hóa thành triết lí âm dương. Đối với người Việt Nam, tư duy lưỡng phân lưỡng hợp bộc lộ rất đậm nét qua khuynh hướng cặp đôi ở khắp nơi: từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến những thói quen hiện đại:  Đa số các quốc gia trên thế giới, biểu tượng vật tổ của các dân tộc thường là một loài động vật cụ thể (sư tử, chim ưng, đại bang…) trong khi đó vật tổ của người Việt Nam lại là một cặp đôi trừu tượng Tiên- Rồng. Kể cả những dân tộc thiểu số cũng có khái niệm truyền thuyết mang tính cặp đôi: người Mường (chim Ây- cái Ứa); người Thái (nàng Kè- Tạo Cặp)… đây là những dấu vết của tư duy âm dương thời xa xưa.  Ở Việt Nam, mọi thứ thường đi đôi từng cặp theo nguyên tắc âm dương hài hòa: ông Đồng- bà Cốt, đồng Cô- đồng Cậu,… Khi sinh âm dương (xin keo) thì hai đồng tiền phải một ngửa một sấp; ngói âm dương lợp nhà phải viên ngửa viên sấp; khi ghép gỗ thì phải một tấm gờ lồi ra khớp với tấm kia có rãnh lõm vào… Lối tư duy âm dương khiến người Việt khi nói đất, núi liền nghĩ ngay đến nước, nói đến 18 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  19. Tiểu luận Triết học cha là nghĩ ngay đến mẹ: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nuo1c trong nguồn chảy ra”.  Đối với người Viện Nam tổ quốc là một khối âm dương đất nước: “ đất- nước”, “ núi- nước”, “ non- nước”, “ nước- lửa”… là những cặp khái niệm thường trực. Ngay cả ở Tây nguyên phần lớn tên gọi các địa danh đều bắt đầu bằng chư ( núi) và krông hay dak ( sông hay nước), ví dụ: Chư Sê, Kroong Pa, Dak B’la…  Thông qua việc giao lưu văn hóa, một số khái niệm vay mượn đơn độc khi du nhập vào Việt Nam lại được nhân đôi thành cặp, ví dụ: ở Trung Hoa, thần mai mối là ông Tơ Hồng thì vào Việt Nam lại trở thành ông Tơ- bà Nguyệt; ở Ấn Độ chỉ có Phật ông, nhưng khi vào Việt Nam lại xuất hiện Phật ông- Phật bà…  Biểu tượng âm dương (hình thái cực) chỉ được đặt ra từ sau Công nguyên và được dùng phổ biến hiện nay, nhưng trước đó thì người Việt đã có biểu tượng âm dương lâu đời hơn đó là biểu tượng vuông tròn. Theo quan niệm của người Việt Nam, nói đến vuông tròn là nói đến sự hoàn thiện, có vuông có tròn tức là có âm có dương: trời tròn- đất vuông. Thành ngữ có câu: mẹ tròn con vuông, ba vuông bảy tròn,… Ca dao có câu: “ Ba vuông sánh với bảy tròn, Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu…”, “ Lạy trời cho đặng vuông tròn, trăm năm cho trọn lòng son với chàng”,…  Trống đồng Yên Bồng và trống Thôn Mống có hình biểu tượng âm dương vuông- tròn và tròn- vuông lồng vào nhau, hay các đồng tiền cổ Việt Nam qua các thời đại với lỗ vuông ở giữa chính là dấu vết truyền thống của biểu tượng âm dương. 2. Nhận thức về hai quy luật về triết lí âm dương của người Việt Nam Sự nhận thức về quy luật “ trong dương có âm và trong âm có dương” được thể hiện cụ thể qua những quan niệm nhân gian như: “ trong rủi có mai, trong dở có hay, trong họa có phúc”; “ chim sa cá nhảy chớ mừng, nhện sa xà đón xin đừng có lo”. Còn sự diễn đạt cụ thể về nhận thức quy luật “âm dương chuyển hóa” được thể hiện qua những quan niệm về nhân quả như sau: “ trèo cao ngã đau”; “ yêu nhau lắm cắn nhau đau”;… Người Việt Nam có triết lí sống quân bình là do lối tư duy âm dương đã thấm sâu vào máu thịt. Với triết lí này dẫn đến hình thành tính cách người Việt: trong cuộc sống gắng không làm mất lòng ai, trong việc ăn ở gắng giữ sự hài hòa âm dương trong cơ thể và hài hoà với môi trường thiên nhiên… Và triết lí này không chỉ vận dụng cho người sống mà cho cả người chết: Trong các ngôi mộ cổ ở Lạch Trường (Thanh Hóa) có niên đại vào thế kỉ thứ 3 trước Công Nguyên được gióng theo hướng nam- bắc, các đồ vật bằng gỗ (dương) được đặt ở phía bắc (âm), ngược lại các vật bằng gốm đất (âm) lại được đặt ở 19 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
  20. Tiểu luận Triết học phía nam (dương). Cách sắp xếp âm dương bù trừ này rõ ràng là để tạo ra sự quân bình. Ngay cả hộ pháp ở chùa cũng có ông Thiện và ông Ác do triết lí âm dương này. Chính triết lí quân bình âm dương này tạo ra ở người Việt một khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh (lối sống linh hoạt), không chán nản dù khó khăn, tinh thần lạc quan: thời trẻ khổ thì tin rằng về già sẽ sướng, suốt đời khổ thì tin rằng đời con mình sẽ sướng (không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời…). 3. Triết lí về cấu trúc thời gian của vũ trụ Nghề nông rất cần biết về thời tiết, khí hậu, vòng quay bốn mùa, cho nên trên thế giới này, mọi nền lịch pháp đều là sản phẩm của các vùng văn hóa nông nghiệp. Có ba loại lịch cơ bản: lịch thuần dương, lịch thuần âm, và lịch âm dương. Lịch của Á Đông mà ta thường gọi là lịch “ lịch âm” thực chất là một thứ lịch âm dương. Là sản phẩm của lối tư duy tổng hợp, nó đã kết hợp được cả chu kì mặt trăng lẫn mặt trời. 4. Triết lí âm dương qua tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật thanh sắc, quan niệm về ăn của con người Việt Nam 4.1. Tín ngưỡng Duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người. Đối với văn hóa nông nghiệp, để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt. Để phát triển sự sống, cần cho con người sinh sôi. Hai hình thức sản xuất lúa gạo (để duy trì sự sống) và sản xuất con người (để kế tục dòng giống) này có bản chất giống nhau, đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha). Từ đó, tư duy cư dân nông nghiệp Nam- Á phát triển theo hai hướng: những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khách quan để lí giải hiện thực, kết quả là tìm được triết lí âm dương. Còn những người có trình độ hạn chế thì tìm thấy ở hiện thực một sức mạnh siêu nhiên, dẫn đến sùng bái nó như thần thánh, kết quả là xuất hiên tín ngưỡng phồn thực. Triết lí âm dương và tín ngưỡng phồn thực chỉ là hai mặt của một vấn đề. Hình thái đơn giản của tín ngưỡng này là thờ sinh thực khí. Bên cạnh đó còn thờ hành vi giao phối, có tục “ giã cối đón dâu”. 4.2. Phong tục 4.2.1. Phong tục cưới hỏi Trong lễ vật cưới có một loại bánh đặc biệt rất có ý nghĩa là bánh su sê ( tên đọc chệch đi của bánh phu thê): bánh phu thê hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông úp khít vào nhau. Đó chính là biểu tượng của triết lí âm dương ( vuông tròn) và ngũ hành (ruột dừa 20 Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản