intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Chia sẻ: Nguyễn Hưng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

0
544
lượt xem
98
download

Tiểu luận Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa việt nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc', luận văn - báo cáo, khoa học xã hội phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

  1. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài: Trải qua hơn 55 năm trên chặng đường phát triển văn hóa, từ văn ki ện đầu tiên “Đề cương văn hoá năm 1943”, Đảng và nhà nước ta đã tích luỹ kinh nghiệm th ực ti ễn và lý luận để lại dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hoá. Không phải ngẫu nhiên mà trong Văn kiện Hội nghị lần th ứ 4 c ủa Ban ch ấp hành TW khoá VII Đảng ta đã xác định văn hoá không ch ỉ là k ết qu ả mà còn là nguyên nhân c ủa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát tri ển quan đi ểm trên, Hội ngh ị lần thứ 10 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX tiếp tục xác định mục tiêu cần phải đạt tới là tạo được sự phát triển đồng bộ về chất lượng văn hoá “Đảm bảo sự gắn kết gi ữa nhiệm v ụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt v ới không ng ừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát tri ển đ ồng b ộ c ủa ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát tri ển toàn di ện và b ền vững của đất nước” (Văn kiện Hội nghị TW 10 khoá IX). Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tháng 4 năm 2006 đã tiếp tục khẳng định: “...Xây dựng nền văn hóa Vi ệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu c ầu phát tri ển c ủa xã h ội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh t ế qu ốc tế. Qua gần 20 năm với đường lối đúng đắn của Đảng, cùng v ới công cu ộc đ ổi m ới và chủ động hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước vững chắc đạt được nh ững thành t ựu r ất đáng tự hào như: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng b ước được xây dựng; nền dân chủ XHCN với nhà n ước pháp quyền c ủa dân, do dân, vì dân đã được thiết định. Bên cạnh việc hội nhập kinh tế, tiến trình hội nhập văn hóa cũng là m ột tất yếu khách quan. Tiến trình giữa hội nhập kinh tế và hội nhập văn, n ếu coi nh ẹ h ội nhập kinh tế thì đất nước sẽ chậm thoát nghèo. Còn coi nhẹ hội nhập văn hóa đôi khi l ại nguy hiểm hơn bởi có thể bị các nền văn hóa khác đồng hóa. Vì vậy bên c ạnh chi ến l ược phát triển kinh tế, chúng ta cần có chiến lược phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với phát triển kinh tế. Tất nhiên đậm đà bản sắc dân tộc không th ể đóng c ửa nền văn hóa, mà chủ động chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân lo ại đ ể làm phong phú, giàu có thêm, hiện đại hơn nền văn hóa của dân tộc của đất nước mình. Văn hóa vốn bao giờ cũng là nền tảng quyết định c ủa xã hội, m ột văn hóa cho s ự phát triển mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện nhất toàn cầu hóa và hôi nh ập, toàn c ầu hóa nh ư một tất yếu. Có thể khẳng định: Văn hóa là cốt hồn c ủa dân tộc, m ột dân t ộc, n ếu không giữ được bản sắc văn hóa riêng thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí không còn dân t ộc đó
  2. nữa. Vì thế, xây dựng và phát triển nền văn hóa Vi ệt Nam tiên ti ến đậm đà b ản s ắc dân tộc không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hoá mà còn là trách nhi ệm c ủa toàn đ ảng, toàn dân và toàn xã hội. Tôi quan tâm và chọn đề tài: “ Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát tri ển n ền văn hóa Vi ệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” để làm đề tài cho tiểu luận này. 2. Tình hình nghiên cứu: Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với n ền kinh tế m ở. Tuy nhiên, vi ệc h ội nhập có mặt tích cực và tiêu cực. Nếu chúng ta ti ếp thu không ch ọn l ọc, thì bên c ạnh những mặt tích cực của nền văn minh hiện đại, chúng ta dễ bị ti ếp thu những nh ững m ặt tiêu cực. Mặt khác, chúng ta còn lo ngại bị đánh m ất truyền th ống dân t ộc, ch ạy theo các nước trên thế giới, bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi nền văn hoá của nước khác. Mỗi một quốc gia đều có những truyền thống, những bản sắc riêng c ủa mình. B ản sắc riêng của một dân tộc, giúp chúng ta nhận d ạng rõ m ột qu ốc gia đó. Gi ữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là một việc tất yếu trong nền kinh tế mở hiện nay. 3. Mục đích nhiệm vụ. - Làm rõ vấn đề văn hoá và bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam. - Đánh giá các mặt tích cực và hạn chế trong việc việc xây dựng nền nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập ở nước ta. - Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. - Thành quả của vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. - Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên c ứu, đề xuất các gi ải pháp nh ằm xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân t ộc ở nước ta. NỘI DUNG Chương 1 Những vấn đề chung về quy luật của phủ định vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
  3. 1.1. Khái niệm phủ định biện chứng. Theo nghĩa thông thường, phủ định được hiểu là sự không thừa nhận, bác bỏ hay sự thay thế một sự vật, hiện tượng nào đó. Trong Triết học có hai quan điểm: quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng về sự phủ định. Quan điểm siêu hình hiểu sự phủ định là sự can thiệp của những lực lượng bên ngoài dẫn tới thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự phát triển của nó. Quan đi ểm bi ện ch ứng cho rằng phủ định là khâu tất yếu của bất kỳ sự phát triển nào. Đó là sự thay th ế sự v ật này b ằng sự vật khác trên cơ sở mất đi của cái cũ và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, là quá trình gi ải quyết mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật bị phủ định. Vì vậy, phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát tri ển dẫn tới sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định (kết quả c ủa quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật ấy quyết định). 1.2. Nội dung quy luật: Quy luật phủ định của phủ định là một trong 3 quy lu ật c ơ bản c ủa phép bi ện ch ứng duy vật. Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình th ức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển. Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định bi ện chứng, ch ỉ đ ạo m ọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định bi ện ch ứng đòi h ỏi ph ải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, ch ống k ế th ừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá kh ứ. Nguyên t ắc ph ủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, d ự ki ến những hình thái cơ bản của tương lai. Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và ph ủ đ ịnh. S ự ph ủ định lần thứ nhất diễn ra là do sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình. S ự ph ủ đ ịnh lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời. Sự vật này đối lập với cái đ ược sinh ra ở lần phủ định thứ nhất. Nó được bổ sung nhiều nhân tố m ới. Như vậy sau hai l ần phủ định sự vật dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên c ơ sở mới cao h ơn là đ ặc đi ểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của phủ định. Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất c ả nhân tố tích cực đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong nh ững l ần
  4. phủ định tiếp theo. Do vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả c ủa phủ định của phủ định có nội dung toàn diện hơn, phong phú hơn, có cái kh ẳng đ ịnh ban đ ầu và k ết qu ả c ủa s ự phủ định lần thứ nhất. Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển ti ếp theo. S ự vật l ại ti ếp t ục ph ủ đ ịnh bi ện chứng chính mình để phát triển. Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn. Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu ti ến lên c ủa sự vật - xu hướng phát triển. Song phát triển đó không theo hướng thẳng mà theo đ ường "xoáy ốc". Sự phát triển "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính ti ến lên. M ỗi vòng c ủa đ ường xoáy ốc dường như thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao h ơn c ủa sự phát triển. Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hi ện ở sự n ối ti ếp nhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc". Trong quá trình vận động của sự vật, những yếu tố m ới xu ất hi ện sẽ thay th ế những nhân tố cũ, trong đó những nhân tố tích c ực c ủa s ự v ật cũ đ ược gi ữ l ại. Song s ự vật mới này sẽ lại bị phủ định bởi sự vật mới khác. Sự vật m ới khác ấy d ường nh ư là s ự vật đã tồn tại, song không phải là sự trùng lặp hoàn toàn, mà nó được bổ sung nh ững nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực thích hợp với sự phát tri ển ti ếp t ục c ủa nó. Sau khi sự phủ định 2 lần của phủ định được thực hiện thì sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển. 1.3. Ý nghĩa: Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật. Quá trình phát triển của bất kì một sự vật nào cũng không bao gi ờ đi theo một đường thẳng, nó gồm có nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sao bao gi ờ cũng ti ến bộ hơn chu kỳ trước. Do đó, chúng ta phải hiểu những đặc đi ểm đó đ ể có cách tác đ ộng phù hợp với yêu cầu phát triển. Theo đó, mọi sự vật luôn xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cái ti ến bộ thay thế cái lạc hậu, cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả những nhân tố tích cực của cái cũ. Do đó, trong hoạt động của mình, con người phải biết kế thừa tinh hoa c ủa cái cũ, tránh thái đ ộ phủ định sạch trơn. Trong giới tự nhiên cái mới phát triển một cách tự phát, còn trong xã h ội cái m ới ra đời gắn liền với hoạt động có ý thức của con người. Chính vì th ế trong ho ạt đ ộng c ủa chính mình con người phải biết phát hiện cái mới và ủng hộ nó.
  5. Chương 2 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. 2.1. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình hội nhập văn hóa và thế giới. Toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối v ới t ất c ả các qu ốc gia. Ch ủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan, là khẳng đ ịnh đ ường h ướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho từng bước đi. Chủ động h ội nh ập s ẽ khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất, hạn chế được đến mức thấp nhất những thách thức, những tiêu cực nảy sinh. Công cuộc đổi mới của đất nước ta hai mươi năm qua chính là sự chủ động h ội nhập quốc tế, từng bước vững chắc đạt được những thành t ựu rất đáng t ự hào. V ề kinh tế, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc đ ộ phát tri ển khá cao (t ừ 7,5 - 8% năm), cơ cấu kinh tế được chuyển địch theo hướng tích cực phát triển công nghiệp và dịch vụ, tốc độ hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, khoa học công ngh ệ v ới nh ững b ước đi dài... t ất cả đã tạo điều kiện chín muồi để Việt Nam vững bước trên ti ến trình hòa nh ập Th ương mại Quốc tế WTO. Chiến lược là vậy, nhưng 20 năm hội nhập văn hóa thế gi ới qu ả là cu ộc đ ấu tranh quyết liệt. Đánh giá về thành tựu hội nhập văn hóa có nhiều ý ki ến khác nhau, không được đồng thuận như khi chúng ta đánh giá về thành tựu đ ổi m ới kinh t ế. Đi ều này ch ứng tỏ quá trình hội nhập văn hóa của chúng ta còn có nh ững v ấn đ ề non y ếu. Không ai ph ủ nhận sau 20 năm đổi mới, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta được nâng cao, được mở rộng, phong phú đa dạng và giàu có hơn nhiều. Nhưng cũng phải th ừa nh ận rằng, bên cạnh những mặt tốt đó, thì nhiều mặt tiêu cực của đời sống xã hội cũng n ảy sinh. Đ ạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, đời sống văn hóa b ị lai căng, nhi ều chu ẩn m ực xã h ội không còn được tôn trọng, một số mặt xấu được duy trì công khai không có ng ười lên tiếng, nhiều tệ nạn không ngăn chặn được. Riêng về lĩnh vực văn học nghệ thuật, 20 năm h ội nhập thì văn ch ương ngh ệ thu ật thế giới ồ ạt tràn vào nước ta, cả những tác phẩm hay và những tác phẩm d ở. Văn hóa bạo lực, tình dục ngang nhiên thách thức những thuần phong m ỹ tục, những món hàng ăn liền rẻ tiền tấn công những giá trị sâu sắc, thâm nghiêm... Những tính ch ất văn ch ương nghệ thuật ngoại lai đó đôi khi còn có sức mạnh chiếm lĩnh hắn được m ột b ộ ph ận làm
  6. nhiệm vụ sáng tạo, biểu diễn và một bộ phận công chúng nh ất là khá đông đ ảo gi ới tr ẻ hoan hô môt cách vô tội vạ, "đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” khá rầm rộ. Hội nhập thế giới, nghĩa là ra với đại dương với nhiều sóng to gió l ớn. Ở lĩnh v ực nào cũng cần phải có người cầm lái có bản lĩnh và có tầm nhìn xa trông r ộng. Trên th ế giới đã có nhiều bài học về sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa hóa. Nh ững bài học nào cũng chỉ có những giá trị nhất định chứ không th ể là chìa kh ỏa v ạn năng. Chi ến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân t ộc là hoàn toàn đúng đắn, nhưng triển khai xây dựng quản lý văn hóa toàn xã hội là vô cùng khó khăn phức tạp, là thách thức lớn cần có sức mạnh của nhiều cấp nhiều ngành m ới có th ể làm đ ược. Với quyết tâm cao thì cuối cùng căn bệnh nào cũng tìm ra đ ược thu ốc đ ặc tr ị, cũng tìm được giải pháp giải quyết đúng đắn. Nền văn hóa Việt Nam trong 4000 năm lịch sử tồn tại và phát tri ển đã th ể hi ện s ức sống mãnh liệt. Âm mưu đồng hóa của những nền văn hóa l ớn h ết đ ợt sóng này đ ến đ ợt sóng khác cũng không xóa được bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Có th ể nói n ền văn hóa Vi ệt Nam đã được tôi luyện và có sức đề kháng cao. Điều này cho chúng ta tin tu ởng vào ch ặng đường phát triển sắp tới của nền văn hóa dân tộc. Một vấn đề lớn và quan trọng đ ặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại do hội nhập quốc tế hình thành có mâu thu ẫn, có th ủ tiêu nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền thống? Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh th ần có cu ộc sống độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá, m ột khi ra đ ời, dù là xu ất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập v ới c ơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính tr ị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài ng ười càng nh ận rõ rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh c ủa đi ều ki ện kinh t ế - xã h ội, mà còn là đ ộng lực nội sinh của sự phát triển đó. Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai l ạc, phai mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị thôn tính, nh ưng b ản s ắc đó không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng đ ược kh ẳng đ ịnh và phát triển. Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống c ủa mình, l ấy b ản sắc dân tộc làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa t ốt đ ẹp c ủa các n ền văn hoá khác trên khắp thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho b ản s ắc c ủa mình. Nói như vậy không có nghĩa hội nhập văn hóa chỉ có đem lại những thuận l ợi, t ạo ra tất cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam.
  7. Chúng ta dể dàng nhận thấy: “Toàn cầu hoá và hội nhập” một m ặt làm nâng cao chất lượng sống, mặt khác cũng hình thành nên những chuẩn m ực m ới l ạ trong đ ời s ống tinh thần, có thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hi ện đại với lối sống và tư duy truyền thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm c ộng đ ồng tình làng nghĩa xóm dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toán tính kinh t ế có tính cá nhân, nếp sống thanh bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp c ủa tác phong công nghi ệp, ứng xử tình cảm nghiêng về đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tu ệ và n ền pháp lý chặt chẽ, lối sống tiêu xài không mấy phù hợp v ới truyền th ống thanh đ ạm c ủa con người Việt Nam… Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn di ện khoa h ọc kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đ ẹp, có c ả nh ững y ếu t ố không phù hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa. Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong ti ếp bi ến c ủa công nghi ệp hoá - hi ện đại hoá. Những thế mạnh trong đối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất thấp so với các nước đầu tư vào ta. Trong bi ết bao lo ại đầu tư, ở đó đ ồng th ời cũng kèm theo những dạng văn hoá nhất định. Cái ta c ần, nói chung là v ượt h ẳn cái ta có kh ả năng cho. Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đ ảo l ộn nhi ều thói quen, nếp sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng hơn bao giờ hết. Vài năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn, đi ều kiện sống, ti ện nghi sinh hoạt, lối sống đã có sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó di ễn ra không ch ỉ ở b ề ngoài mà cả ở chiều sâu. Sự khủng hoảng một số mặt trong nhiều phương di ện đời sống đang hình thành liên quan đến từng gia đình. Trước đây một số người đi tìm sự thoả mãn lối sống của họ ở nước ngoài, thì nay lối sống đó đã n ảy n ở tại Việt Nam, trên m ột s ố lĩnh v ực l ối sống đó đã khống chế lối sống truyền thống Vi ệt Nam, nhi ều cách sinh ho ạt, cách s ống, cách nghĩ... thực sự đã xung đột với những chuẩn mực mà nhân dân ta cho là lành m ạnh. Nhiều hiện tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay ở không ít người đ ược xem nh ư là chuyện bình thường: bạo lực, kích dâm, xem tiền là tối th ượng, xem h ưởng th ụ v ật ch ất là mục đích của cuộc đời. Đồng minh của lối sống buông th ả là lu ận đi ệu t ự do, dân ch ủ không ranh giới. Tất cả những cái đó nếu không kịp thời ngăn chặn, đến m ột lúc, an ninh quốc gia, thậm chí độc lập dân tộc sẽ là cái bia bắn phá, lối sống dân t ộc, văn hoá dân t ộc sẽ bị coi là lạc hậu, lạc lõng. 2.2. Sự vận dụng quy luật phủ định của ph ủ định vào vi ệc xây d ựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tôc.
  8. Hiện nay, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và những biến thể của nó đang là m ột trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm ở Việt Nam. Nỗi ám ảnh về bản sắc hiện diện ở khắp nơi, từ những diễn ngôn chính trị như "xây dựng nền văn hóa tiên ti ến, hi ện đại, đậm đà bản sắc dân tộc", "hội nhập nhưng không hòa tan" cho đ ến các ho ạt đ ộng kinh tế, văn hóa xã hội như xây dựng thương hi ệu Vi ệt, tự kiểm đi ểm tính cách dân t ộc hay phê bình văn học nghệ thuật. Không thể phủ định, đây là một đ ịnh h ướng đúng đ ắn, một mối quan tâm lành mạnh của toàn xã hội khi Vi ệt Nam ngày càng tham gia m ột cách toàn diện hơn vào quá trình toàn cầu hóa nhưng tự bản thân những khát vọng bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc cũng đặt ra những câu hỏi hóc búa đ ối v ới toàn xã h ội, tr ước h ết là trong việc xác định bản sắc văn hóa dân tộc và sau đó là vi ệc ứng xử v ới b ản s ắc văn hóa đó. «Bản» là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của m ột sự vật; «Sắc» là thể hiện ra ngoài. Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá tr ị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá tr ị h ạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá tr ị tiêu bi ểu nh ất, b ản ch ất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng bi ểu hiện trong m ọi lĩnh v ực nh ư: văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam. Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, nó đ ược t ạo thành dần d ần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, c ủng c ố và phát tri ển c ủa nhà n ước Việt Nam. Những giá trị đó không phải là không thay đ ổi trong quá trình l ịch s ử. Có nh ững giá trị cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, ti ến b ộ đ ược b ổ sung vào. Có nh ững giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới. Dân tộc Việt Nam, v ới t ư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang th ế h ệ khác. Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó, thậm chí đối với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nh ất. N ếu dân t ộc không có ý th ức giữ gìn, bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng b ị mai một và tàn lụi đi theo năm tháng. Chúng ta thử so sánh bản sắc chủ nghĩa yêu nước Vi ệt Nam trong những ng ười cu ộc Cách mạng Tháng tám sôi sục, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, M ỹ v ới cái g ọi là "Bản sắc" chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng cu ối đ ời nhà Nguy ễn thì thấy rõ. Hay là đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời kỳ Lê Mạt với chủ nghĩa yêu
  9. nước Việt Nam thời Lý -Trần. Không thể nói, đấy là cùng m ột b ản s ắc ch ủ nghĩa yêu nước được! Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu c ực, hay là đã nói b ản s ắc là nói cái gì tiến bộ, tích cực, xứng đáng được trao truyền và thừa kế. Như trên vừa nói, không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đ ối v ới b ản s ắc dân t ộc. Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi. Bản sắc dân tộc cũng v ậy. Giai c ấp lãnh đ ạo phải sáng suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của b ản sắc dân t ộc. Nh ững giá tr ị nào lỗi thời phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào, những giá tr ị nào cần kế thừa, nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức m ới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển cách mạng, những sự kiện đổi đời c ủa dân t ộc ta nh ư cu ộc cách mạng Tháng tám, chiến thắng của Ngô Quyền kết thúc đêm dài m ười th ế k ỷ B ắc thu ộc, sự kiện Tây Sơn..., bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy gi ờ phải nghiêm túc ki ểm nghiệm lại những giá trị bản sắc đương thời của dân tộc. Không ph ải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy gi ờ đã gạt b ỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo. Cũng với những lý do xác đáng, dân tộc ta kinh qua cu ộc cách Mạng tháng tám đã chấp nhận hệ tư tưởng Mác-Lênin như là dòng t ư t ưởng ch ủ l ưu hiện nay của mình. Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng cần được ti ến hành khi xảy ra giao ti ếp văn hóa rộng rãi giữa các nền văn hóa khác nhau, ví dụ gi ữa văn hóa Vi ệt Nam và văn hóa Xô Viết, văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, văn hóa Vi ệt Nam và văn hóa Âu, Mỹ... không có biên giới. Thời đại hiện nay là thời đại c ủa kỹ thu ật giao thông liên l ạc và thông tin cực kỳ phát triển. Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng m ấy trăm l ần, so v ới ch ục năm về trước. Do đó sự tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là t ất nhiên và tất yếu. Qua những cuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa c ủa các dân t ộc đ ều có s ự thay đổi, bên cạnh những cái khẳng định. Thật là vô lý n ếu chúng ta gạt b ỏ m ọi y ếu t ố ti ến b ộ và cái hay, đẹp của văn hóa nước khác chỉ vì chúng ta sợ b ị ngo ại lai. Nh ưng cũng s ẽ là vô lý hơn, nếu chúng ta tiếp thu hàng loạt không có phê phán m ọi y ếu t ố c ủa văn hóa n ước ngoài, chỉ vì chúng là mới lạ, tân kỳ. Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấp nh ận và biến thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có th ể tr ở thành m ột b ộ ph ận c ủa giá tr ị b ản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Không ai có thể ph ủ nhận r ằng, nhi ều yếu tố Phật giáo, Nho giáo, mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng đã tr ở thành b ộ ph ận khăng khít của bản sắc dân tộc và văn hóa Vi ệt Nam, đã đ ược dân t ộc Vi ệt Nam bi ến thành sở hữu thật sự của mình.
  10. Nói tóm lại, cái lỗi thời nhưng không được cải ti ến, cái t ốt nh ưng l ại b ị c ường đi ệu, cái tốt ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có th ể bi ến thành tiêu cực và tạo trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc. Vì v ậy, mà chúng tôi khẳng định, những giá trị bản sắc của dân tộc Vi ệt Nam, c ủa n ền văn hóa Vi ệt Nam cần phải được bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên ki ểm nghi ệm, theo dõi, gìn giữ, cải tiến, bổ sung, gạt bỏ những cái lỗi thời, đ ổi m ới nh ững hình th ức không còn thích hợp, tiếp thu và bản địa hóa mọi tinh hoa c ủa văn hóa n ước ngoài... khi ến cho nh ững giá trị gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nh ất c ủa hai tác d ụng xúc tác và hội tụ, đối với sự phát triển toàn diện và m ọi m ặt c ủa dân t ộc Vi ệt Nam chúng ta. Tác dụng xúc tác là tác dụng thúc đẩy mạnh m ẽ sự phát tri ển. Tác d ụng h ội t ụ là tác dụng gắn bó, kết hợp với mặt, các yếu tố thành một hệ thống nhất. 2.3. Thành quả của việc vận dụng vào xây dựng và phát tri ển n ền văn hóa Vi ệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đối với nước ta những năm vừa qua, trong quá trình m ở cửa giao l ưu v ới th ế gi ới, chúng ta không chỉ tiếp thu những giá trị hiện đại, tiên ti ến mà còn b ổ sung, đi ều ch ỉnh một số nét của các giá trị truyền thống cho phù hợp v ới th ời đ ại, th ẩm th ấu và làm đa dạng thêm bản sắc của dân tộc. Chúng ta ngày càng ý thức rõ h ơn v ề quá trình h ội nh ập. Trong quá trình thực tiễn phát triển đất nước, chúng đã được những thành quả trong việc xây dựng và phát huy bản sắc văn hóa đó là: Quá trình hội nhập văn hóa đã làm cho các quốc gia đang ngày càng xích l ại g ần nhau hơn bởi những giá trị truyền thống chung, đồng thời tạo đi ều kiện cho m ỗi dân t ộc phát huy nét độc đáo, đặc trưng của mình. Quá trình này cũng sẽ t ạo đi ều ki ện cho th ế gi ới luôn tồn tại trong sự thống nhất chung c ủa tất c ả nh ững cái riêng, cái đ ặc thù; cái chung không bài trừ cái riêng mà cùng với cái riêng làm tiền đ ề cho nhau đ ể cùng thúc đ ẩy nhau phát triển và tiến bộ. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định, ta không thể bảo vệ thụ động bản sắc mà chỉ hòa nhập cọ sát và biến đổi bản sắc mới xuất hiện và chói sáng. T ừ Truyện Ki ều, thơ Nôm hay tranh khắc gỗ dân gian, tuồng chèo, nhã nhạc Cung Đình Hu ế, Quan Họ hay Ca trù... chứa đựng bản sắc dân tộc vì từng là sự giao thoa, c ọ sát, khai thác l ẫn nhau c ủa các dòng văn nghệ, văn hóa khác nhau. Gần đây thì chiếc áo dài, cái nón tới tranh sơn mài, lụa, sơn dầu từ thời Đông Dương tới Đổi Mới, Thơ Mới, ti ểu thuyết, ki ến trúc "Đông Dương", cải lương... đều là những suối nguồn, và "kho chứa" của b ản sắc dân t ộc. Nó trừu tượng song không chung chung mà nằm ở các tác phẩm cụ thể của các tác giả cụ thể. Nếu có những nghiên cứu nhận dạng được những nét chung nào đó c ủa các tác ph ẩm, tác giả đó thì ta có thể gọi tên "bản sắc dân tộc" ta.
  11. Giữ gìn bản sắc không co vào cố thủ trong tính riêng bi ệt , kh ước t ừ giao l ưu văn hoá. Trên thế giới này không có một nền văn hoá nào có tính thuần nhất b ản đ ịa. S ự thay đổi giữa các nền văn hoá là do trao đổi. Khi trao đ ổi ngừng thì c ả hai đ ịa bàn đ ều ch ững lại trong phát triển. Đây là phép biện chứng của nhân tố ngo ại sinh trong sự phát tri ển n ội sinh. Tuy nhiên sự hội nhập các giá trị văn hóa khác với sự tha hóa v ề văn hóa cũng nh ư s ự lai giống tốt khác với lai ghép vào cơ thể những gien lạ ho ắc, gây nên s ự bi ến d ị , th ậm chí những quái thai. Chẳng nói gì xa. Nửa đầu thế kỷ XX, văn hoá và lối sống Pháp, theo đó là Âu châu, xâm nhập vào ta nhanh và mạnh, tưởng như ngự trị, trong khi văn hoá dân t ộc có d ấu hi ệu suy yếu. Thế mà những năm 20 - 30 và đầu 40, dưới sự tác động của làn sóng ấy và cùng với vốn liếng văn hoá giàu bản sắc có sẵn, đã n ảy n ở c ả m ột n ền văn h ọc - ngh ệ thu ật Việt Nam mới hầu như chỉ tầng lớp tiểu tư sản mới hình thành tạo ra, với văn xuôi và thi ca, âm nhạc, hội hoạ, sân khấu, phê bình văn học… còn âm vang đến tận ngày nay. Cu ộc hội họa đầu của thời mới bị đứt quãng ấy đã làm cho văn hoá Vi ệt, con người Vi ệt phong phú hơn, bổ túc những nét mới cho bản sắc. Ta chối bỏ những cái gì đó, ta ti ếp thu và s ản sinh ra những cái gì đó mới hơn, phù hợp hơn, có sức nâng cao ta lên. Cuộc hội nhập thời nay mạnh mẽ hơn, toàn diện và toàn c ục, s ức chi ph ối, s ức tác động của nó không thể so sánh với trước được. Song ta sở h ữu c ả m ột v ốn li ếng gien, vốn liếng bản sắc của ta vô cùng sâu lắng, vô cùng dai bền, không việc gì phải e ngại! Thử xem, mình bắt chước ăn cá sống với mù tạt theo ki ểu Nh ật, nhưng thêm vào đ ấy là rau diếp cá, lá cải xanh, củ cải sống. Mình hát nhạc pop, nh ạc rock, song giai đi ệu và cách thể hiện thì chẳng giống ai. Thậm chí, ở những sân bay qu ốc t ế này n ọ, c ứ gặp dăm ba đồng bào mình túm tụm, là nhận ra ngay. Ấy là trong cuộc sống thường nhật, ch ứ ở nh ững phạm trù lớn lao như cách nghĩ, cách sống, cách phấn đấu… mình chẳng giống ai hết. Một thành quả vững chắc nữa trong giữ gìn bản sắc là chúng ta không s ợ toàn c ầu hóa tấn công mà còn tấn công ngược lại nó. Xin nêu hai ví dụ: thức ăn và y phục. Thức ăn là yếu tố mạnh nhất trong bản sắc, cho nên nó phát tri ển v ới toàn c ầu hóa. Su-si của Nhật ngày nay toàn cầu hóa thực đơn khắp năm châu b ốn bi ển. Mà đ ơn gi ản quá: chỉ chút cơm bọc rau câu. Thế giới nhà giàu càng chán mỡ càng chuộng su-si. N ắm yếu điểm đó, su-si tiến công trên thị trường chuộng thức ăn nh ẹ: nó đùa v ới cái bao t ử, h ư hư thực thực, ăn vào như có như không. Phở của ta bây giờ cũng thế, cũng toàn cầu hóa trong nhu c ầu “fastfood”. Trái v ới su si, nó thực chất, làm một tô bự là giải quyết xong bữa trưa, mà mùi v ị l ại đậm đà, kích thích. Chưa nói đến chả giò (nem rán) chẳng những đi vào các nhà hàng sang tr ọng mà còn
  12. đi vào tận căn-tin của các trường học, các xe đẩy trên đ ường ph ố. H ọc trò th ấy nem rán, chưa ăn đã thèm chảy nước miếng. Nhưng dù là nem rán hay phở, dù phở do bếp Tàu nấu hay dù nem rán đang lai gi ống với bánh tráng Thái Lan, cái đặc biệt, cái khác với Tàu, với Thái của Việt Nam, cái làm cho món ăn Việt Nam được ưa chuộng trên thế giới, cái làm cho con người Vi ệt Nam muôn đời vẫn tự định nghĩa mình là Việt Nam bất chấp không gian, bất chấp luật quốc tịch, vẫn là cái đó, cái mùi thum thủm, cái vị mặn mặn, mà n ếu thi ếu nó cuộc đ ời nhạt nhẽo nh ư thiếu tố quốc: “cái chai nước mắm”, nước mắm là đại nguyên soái bách chiến bách thắng. Thực dân, đế quốc, bá quyền, Bắc thuộc, Tây thuộc... ch ẳng coi nó ra gì. Nh ưng đ ối v ới Việt Nam đó là “bản sắc”. “Áo dài” là y phục của dân tộc, là yếu tố then chốt th ứ hai c ủa b ản s ắc. Áo dài tuy không phải là truyền thống lâu đời, chỉ là y phục c ải cách t ừ nh ững năm 1930 thôi, cũng là thời trang chế biến để thích nghi với thời đại mới. Nhưng nó thành công bao nhiêu, thân thương bao nhiêu, yêu kiều ban nhiêu, thích hợp bao nhiêu! Nó đi vào lòng dân t ộc nh ư th ể nó đã được khai sinh từ thuở dân tộc còn nằm nôi. Và nó hãnh di ện ph ất ph ới trên th ế giới, thế giới thán phục nó. Ngày nay, dù thời trang tha hồ vẽ vời, thêm b ớt, nhân lên nhiều kiểu mới, nhưng nó vẫn là nó, vẫn được tôn vinh ca ngợi. Cái gì h ợp v ới dân t ộc trải qua bao nhiêu thử thách, cái ấy là bản sắc, chúng ta không sợ lu m ờ, ai l ấy, ai c ướp cả! Như vậy thì chẳng sợ ai. Như chén nước m ắm. Như chiếc áo dài. Thì muôn đ ời c ủa dân tộc Việt Nam. 2.4. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập văn hóa hiện nay. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong đi ều ki ện đ ẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế qu ốc t ế, tr ước m ắt chúng ta c ần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà n ước, phát huy sức m ạnh t ổng hợp của đất nước, tạo sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh m ẽ trong xây dựng, nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng bộ với sự phát tri ển kinh tế - xã hội. Chúng ta nhất định phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào ''Toàn dân đoàn k ết, xây d ựng đời sống văn hoá'' gắn chặt với cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn Đ ảng, toàn dân, toàn quân học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống, làm
  13. chuyển biến mạnh mẽ công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán b ộ, đ ảng viên và nhân dân, nhất là đối với cán bộ chủ chốt các cấp và thanh niên. Chúng ta phải gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhi ệm v ụ trung tâm xây dựng kinh tế và nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng, b ảo đảm ho ạt đ ộng văn hoá ti ến hành đồng bộ với hoạt động kinh tế, hình thành nền tảng tinh th ần v ững ch ắc cho xã h ội. Cũng cần nói thêm rằng, để thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và phát tri ển văn hoá, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người v ới nh ững đ ức tính c ơ bản, tốt đẹp, chúng ta phải xây dựng và phát triển hài hoà các nhi ệm vụ khác, từ xây d ựng môi trường văn hoá, phát triển văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng, bảo t ồn và phát huy các di sản văn hoá đến việc bảo tồn và phát triển văn hoá các dân t ộc thi ểu s ố, chính sách văn hoá đối với tôn giáo và hợp tác quốc tế về văn hoá... Chúng ta tiếp tục tăng cường các nguồn lực và phương ti ện cho ho ạt đ ộng văn hoá, trước hết và tăng mức đầu tư từ ngân sách cho phát triển sự nghi ệp văn hoá đi đôi v ới việc huy động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân và sử d ụng m ột cách có hi ệu qu ả nhất các nguồn lực đó; sớm xây dựng và thực hiện chi ến lược tuyển ch ọn, đào t ạo, phát triển các tài năng văn hoá, nghệ thuật; tăng cường và đổi m ới mạnh mẽ ph ương th ức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với văn hoá. Để làm được điều đó, trước hết là cán bộ, đảng viên, c ần nâng cao nh ận th ức và trình độ lãnh đạo trên lĩnh vực văn hoá, song song với các lĩnh vực chính tr ị, kinh t ế, xã h ội ...; nêu cao tinh thần gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống; nâng cao ch ất l ượng, hiệu quả công tác tư tưởng theo phương châm ''nói đi đôi với làm”, đã nói là làm đ ể cho các quyết định lần này được quán triệt trong từng cán b ộ, đảng viên, nh ất và cán b ộ ch ủ chốt, và mọi tầng lớp nhân dân. Các cấp, các ngành c ần có ngay các ch ương trình, k ế hoạch và biện pháp cụ thể để đưa những nội dung đó thấm sâu vào từng địa phương, từng ngành, từng đơn vị, từng cộng đồng, từng gia đình, t ừng con ng ười, t ạo thành phong trào thi đua sôi nổi, xây dựng con người mới và môi trường văn hoá mới phong phú, lành mạnh, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta. N ếu như m ỗi ngày, m ỗi người chúng ta đều làm được một việc tốt hay vài ba việc tốt, và toàn xã h ội đ ều làm nh ư vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ đẩy lùi được các hiện tượng tiêu c ực, làm cho xã h ội ta ngày càng tốt đẹp hơn, nền văn hoá của chúng ta ngày càng được nâng cao hơn . KẾT LUẬN. Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu h ướng phát triển của sự vật. quá trình phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng không bao gi ờ đi theo đường thẳng mà diễn ra quanh co, phức tạp trong đó bao gồm nhi ều chu kỳ khác nhau.
  14. Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước. Vì vậy, quá trình đổi m ới c ủa n ước ta cùng đều diễn ra theo chiều hướng đó. Nền kinh tế nhiều thành phần theo định h ướng xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự quản lý điều tiết của nhà n ước tạo ti ền đề ph ủ đ ịnh n ền kinh tế tập trung, bao cấp đặt nền móng cho xã hội phát triển cao hơn nó trong tương lai đó là xã hội xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong thời đại ngày nay, hội nhập đang trở thành một xu thế khách quan. Dân tộc Việt Nam, hay bất cứ một dân tộc nào khác không th ể n ằm ngoài quĩ đ ạo đó. H ội nhập là con đường tất yếu, là lẽ sống còn của c ả dân t ộc. V ấn đ ề đ ặt ra là chúng ta h ội nhập như thế nào. Rõ ràng, chúng ta với tư thế chủ động, hội nhập trên c ơ s ở t ự kh ẳng định mình, nổ lực để vượt lên chính mình, nghĩa là, thông qua quá trình h ội nh ập, chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn, có ý thức hơn trong vi ệc b ảo t ồn, phát huy b ản s ắc c ủa dân tộc mình. Đồng thời trong quá trình đó, chúng ta sẽ thấy được nh ững h ạn ch ế c ủa nh ững truyền thống có khả năng cản trở sự tiến bộ để tìm cách khắc phục. Một khi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ kết hợp hài hoà các giá tr ị truyền th ống v ới các giá trị hiện đại, trên cơ sở bảo tồn bản sắc dân tộc, giữ lấy những gì là tinh hoa, lo ại b ỏ d ần các yếu tố lỗi thời, tăng cường giao lưu, học hỏi với bên ngoài thì s ẽ v ượt qua đ ược những thử thách, sẽ khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền th ống. Với tinh thần và bản lĩnh của người Việt Nam, chúng ta sẽ “phát huy tối đa n ội l ực, nâng cao hi ệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã h ội ch ủ nghĩa”, k ết h ợp sức mạnh dân tộc với những ưu thế của thời đại để phát tri ển đất n ước và t ừng b ước khẳng định vị thế bản lĩnh của dân tộc mình trước cộng đồng./. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề gi ữ gìn bản sắc văn hóa dân t ộc - Nguy ễn Văn Huyên. 2/ Bản sắc và toàn cầu hóa - GS. Cao Huy Thuần 3/ Đừng quá sợ đánh mất bản sắc dân tộc - Kim Hạnh 4/ Một văn hóa mới cho hội nhập hôm nay - Nguyên Ngọc 5/ Bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam - GS. Minh Chi (Học viện Phật giáo Việt Nam)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản