m hiểu giá trị Văn hóa Lịch sử Đồng Nai
1
Bài tham dự cuộc thi
TÌM HIỂU
GIÁ TRỊ VĂN HÓA - LỊCH SỬ
ĐỒNG NAI
m hiểu giá trị Văn hóa Lịch sử Đồng Nai
2
QUẦN THỂ DI TÍCH
DANH THẮNG BỬU LONG
m hiểu giá trị Văn hóa Lịch sử Đồng Nai
3
LỜI NÓI ĐẦU
Di sản n a i chung, loại hình di tích lịch sử - văn hóa của cộng
đồng các dân tc Việt Nam là tài sản giá được tạo dng trong suốt quá
trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Gtrị di sản văn hóa, đặc biệt là các di
tích lịch sử phản ánh thành qucủa c thế hệ cha ông trong quá trình lao
động y dựng, chiến đấu bảo vquê hương trên nhiều lĩnh vực và sđa
dạng trong sắc thái văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Trên mảnh đt Đồng Nai thuộc miền Đông Nam Bộ của Việt Nam, trải
qua các giai đoạn lịch sử, các thế hệ cư dân đã để lại nhiều thành tựu quan
trọng trong c lĩnh vực của cuộc sống. Những di tích của tỉnh Đồng Nai
được nhà nước xếp hạng là một trong những thành quả, kết tinh truyền thống
văn hóa của vùng đất này trong quá trình mđất phương Nam của đất nước.
Vùng đất Biên Hòa hiện nay có hơn 20 di tích được xếp hạng. Di tích Danh
thắng Bửu Long chùa Bu Phong thuc phường Bửu Long, thành phBiên
Hòa di tích lịch sử - văn hóa, thắng cảnh, kiến trúc khá độc đáo được Bộ
Văn hóa - xếp hạng cấp quốc gia vào năm 1990. Trong khu danh thắng này
cònchùa Thiên Hậu/Miếu Tổ sư được Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai xếp
hạng năm 2008.
ng ứng cuc thi tìm hiểu về giá văn hóa lịch sĐồng Nai m
2012 do S Khoa học và Công ngh Đồng Nai, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Đồng Nai tổ chức, tôi đã đến tham quan nhiều di tích Đồng Nai. Quá trình
tham quan nghiên cứu liệu về di tích, tôi thấy mình phải trách nhiệm
phải tuyên truyn những gtrị quý giá của hệ thống di tích được xếp hạng
của tỉnh Đồng Nai. Trong hệ thống di tích lịch sử - n a của tỉnh Đồng
Nai được xếp hạng di tích cấp quốc gia, tâm đắc vdi tích Danh thắng Bửu
Long đến với mọi người để góp phần trong công tác bảo tồn và phát di sản
văna của Đồng Nai nói chung, về loại hình di tích lịch văn hóa nói riêng,
trong đó, đề cập chính v di tích Danh thắng Bửu Long.
Để hoàn tnh được bài dthi y tôi xin gởi lời chân thành cảm ơn
đến Ban quản Di tích-Danh thng tỉnh, Bảo tàng Đồng Nai, quý nhà chùa
Bửu Phong đã cung cp tư liệu.
m hiểu giá trị Văn hóa Lịch sử Đồng Nai
4
I. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT BIÊN HÒA
I.1. Vài nét về hành chánh Biên Hòa
Biên Hòa thành ph duy nhất của tỉnh Đồng Nai, tính đến thời điểm
năm 2010. Hiện nay, sau khi p nhập mt số xã của huyện Long Thành,
thành ph Biên Hòa có diện tích tự nhiên là 26.407,84 héc ta. Thành phn dân
của Biên Hòa rất đa dạng với số dân 784.398 người (dân số theo thống kê
năm 2009), mật độ dân số 2.970 người/km2. Biên a nằm phía tây của
tỉnh Đng Nai, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, phía Nam gp huyện Long
Thành, phía Đông giáp huyện Trảng Bom, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện
Dĩ An, huyện Tân Uyên (tỉnh Bình Dương) và qun 9 (Thành phố HChí Minh).
Trong lịch sử hình thành và phát triển, địa giới hành chánh của Biên
Hòa trải qua nhiều lần thay đổi. Hiện nay, về cơ cấu hành chánh, thành ph
Biên Hòa có 30 đơn vị hành chánh, gồm 23 phường7 xã.
Một trong những thay đổi gần đây nhất là Biên Hsáp nhập thêm bn
của huyện Long Thành; gồm các xã An Hoà, Long Hưng, Phước Tân và
Tam Pớc theo Nghị quyết số 05/NQ-CP do Thtướng Chính phủ ký ngày
05 tháng 02 năm 2010. Sự điều chỉnh, sáp nhập này làm tăng diện tích tự
nhiên của Biên Hoà thêm 10.899,27 héc ta số nhân khẩu 92.796 người.
Các đơn vị hành chánh cấp phường, xã thuộc thành phBiên Hoà gm:
phường An Bình, phưng Bình Đa, phường Bửu Hòa, phường Bửu Long,
phường Hòa nh, phường Hố Nai, phường Long Bình, phưng Long nh
Tân, phường Quang Vinh, phưng Quyết Thắng, phường Tam Hiệp, phường
Tam Hòa, phường Tân Biên, phường Tân Hiệp, phường Tân Tiến, phường
Tân Hòa, phường Tân Mai, phường Tân Phong, phường n Vn, phường
Thanh nh, phường Thống Nhất, phường Trảng i, phường Trung Dũng.
Bảy xã gm: xã HAn, Hiệp Hòa, xã Tân Hạnh, xã An Hoà, Long
Hưng, xã Phước Tân, xã Tam Phước.
Thành phBiên a tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của
tỉnh Đng Nai. Thành phBiên Hòa được ng nhận đô th loại II theo
quyết định của Thủ tướng Chính ph s219 TTg ngày 10 tng 5 năm 1993.
I.2. Vài nét về địa danh Biên Hòa
Tên gọi Biên Hcó t năm 1808. Khi vua Gia Long đổi tên dinh Trấn
Biên thành Biên Hoà. Trấn được hiểu theo nghĩa là gìn giữ, cũng đơn vị
m hiểu giá trị Văn hóa Lịch sử Đồng Nai
5
hành chánh tính quân quản cấp tỉnh. Biên: được hiu theo nghĩa là ch
giáp giới b cõi. H được hiểu theo nghĩa hiệp làm một, thuận một bề. Biên
Hoà được đặt tên gọi với mong muốn, hy vọng ng đất nơi biên cương này
được trấn giữ chắc chắn, bình yên, thuận hoà.
Biên Hùng n gi
của Biên Htrong thi k
na cuối thế kỷ XVIII. Bắt
ngun từ sự kiện thương
nhân người Hoa là Lý Tài
đem quân chiếm vùng Chiêu
Thái (núi Châu Thới trước
thuc tỉnh Biên Hoà, nay
thuc tỉnh Bình Dương).
Năm 1773, Tài ng Tập
Đình đem quân tham gia
vào hàng ngũ Tây Sơn và
được tin dùng. Sau mt thời
gian, Tập Đình b trốn,
Tài thua trận nhiều nên ra
hàng với Tống Phước Hiệp -
tướng của nhà Nguyễn đóng
tại Bình Khang (nay thuộc
địa phận tỉnh Khánh Hoà).
Năm 1776, Tống Phước
Hip kéo quân vào Nam, Đỗ
Thành Nhân (gc người Minhơng, trước ở Hương Trà thuộc Thừa Thiên
Huế). Năm 1775, theo chúa Nguyễn Phước Thuần vào Gia Định. Đỗ Thành
Nhân đến đất Ba Giồng (phía nam Đồng Tháp Mười) chiêu mbinh sĩ, lấy
tên quân Đông n, ng Đông Sơn Thượng tướng quân. Khi thấy quân
của Tống Phước Hiệp vào Nam, Lý i, Đỗ Thành Nhân xem thường và
hiềm khích. Sau khi Tống Phước Hiệp qua đời, Lý Tài kéo quân v vùng
Chiêu Thái trú đóng, không theo nhà Nguyễn. Tại đây, Lý Tài xưng ng
truyền sa tên gọi Trấn Biên thành Biên Hùng trấn. Biên Hùng trấn chỉ tồn
tại trong một thời gian ngắn khi Đông Định Vương Nguyễn Lữ (một trong ba
anh em n Tây Sơn) đánh thắng quân chúa Nguyễn, đổi dinh Trn Biên
thành Biên Trấn.
Ảnh: Bn đồ Biên Hòa xưa