intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tóm tắt luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển kinh tế, xã hội các huyện miền núi

Chia sẻ: Bùi Văn Công | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:54

0
68
lượt xem
22
download

Tóm tắt luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển kinh tế, xã hội các huyện miền núi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tóm tắt luận văn "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển kinh tế, xã hội các huyện miền núi" được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Lai Châu trong giai đoạn 2006-2010. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở miền núi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển kinh tế, xã hội các huyện miền núi

  1. HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN TÓM TẮT Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT  GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ ­ XàHỘI  CÁC HUYỆN MIỀN NÚI                                           Học viên:  Lai châu, 2014
  2. PHẦN I. MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Đảng và Nhà nước ta đã dành sự  quan tâm đặc biệt đối với sự  phát  triển kinh tế  ­ xã hội của miền núi, ban hành nhiều chủ  trương, chính sách,  chương trình, dự  án và tổ  chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực trong  nhiều năm qua, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi  bộ mặt nông thôn miền núi, tạo cơ sở cho sự phát triển. Ngân sách nhà nước  đầu tư khá lớn cho khu vực miền núi. Tuy nhiên, kinh tế ­ xã hội tại miền núi  vẫn còn rất nhiều khó khăn, bất cập.  Đối với tỉnh Lai Châu, nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp   cũng rất quan tâm đến đầu tư  cho miền núi và chắc chắn trong nhiều năm  đến sẽ có sự đầu tư lớn cho phát triển kinh tế ­ xã hội khu vực miền núi. Một thực tiễn rất đáng quan tâm là: có nhiều chương trình, dự án triển  khai thực hiện  ở  miền núi  với tổng số  vốn đầu tư  lớn, nhưng s au khi kết  thúc, tính  ổn định, phát huy không được giữ  vững   hoặc hiệu quả  thấp. Do  vậy, cần phải có sự  đánh giá khoa học, khách quan về  hiệu quả  các chương  trình, dự  án đầu tư  cho miền núi, đánh giá việc tổ  chức thực hiện sao cho  đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của chương trình, dự án được triển khai  thực hiện trên địa bàn miền núi. Tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế ­ xã hội  ở  các huyện miền núi Lai Châu có nhiều kết quả, nhưng chuyển biến chưa   mạnh, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và yêu cầu của quản lý. Cơ chế  chính sách cho phát triển kinh tế  ­ xã hội miền núi đã có, nhưng trong giai  đoạn hiện nay cần tập trung nhiều hơn nữa cho miền núi, nhất là việc nghiên  cứu, triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ­CP để  giảm nghèo nhanh  và bền vững. Vấn đề  này cần phải có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ  khoa học để đề xuất một số giải pháp đồng bộ, góp phần phát triển kinh tế ­  xã hội các huyện miền núi phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát   triển miền núi trong sự phát triển chung của tỉnh. Từ trước đến nay, hàng năm các cơ  quan nhà nước đều có các báo cáo  đánh giá chung tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế ­   xã hội  ở các huyện miền núi Lai Châu và đề ra nhiệm vụ thực hiện cho năm  sau. Những báo cáo này phần nào đã phản  ảnh thực trạng và giải pháp phát  triển kinh tế  ­ xã hội miền núi. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chưa có   điều kiện để thực hiện dưới góc độ một đề tài khoa học.
  3. Để đánh giá đúng thực trạng tình hình triển khai thực hiện các chương trình,  dự án, chúng ta cần phải dựa trên các phương pháp khoa học, khách quan để xem  xét về những vấn đề liên quan, đề xuất những giải pháp khả thi để tổ chức thực   hiện hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ­ xã hội khu vực miền   núi trong thời gian đến một cách nhanh và bền vững. Với những lý do chính yếu nêu trên nói lên sự  cần thiết để  tiến hành  nghiên cứu đề tài này. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là: Đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính   sách hỗ  trợ đầu tư  phát triển kinh tế  ­ xã hội  ở  các huyện miền núi tỉnh Lai  Châu  trong giai đoạn 2006 ­ 2010. Qua đó đánh giá hiệu quả  sử  dụng các   nguồn lực đầu tư ở miền núi. Đề  xuất các giải pháp có tính khả  thi góp phần đẩy mạnh phát triển   kinh tế ­ xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 ­ 2015. Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế ­ xã hội   các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá tình hình thực hiện một số  chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế ­ xã hội tại các huyện miền   núi tỉnh Lai Châu, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư  ở  miền núi. Xác định một số  nhiệm vụ  trọng tâm phát triển kinh tế  ­ xã hội các  huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 ­ 2015. Đề  xuất các giải pháp  góp phần phát triển kinh tế ­ xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu. 3. Phương pháp nghiên cứu Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ  nghĩa duy vật biện chứng  và  chủ  nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp luận  chủ  yếu của đề  tài là lý luận Mác­xít được sử  dụng trong toàn bộ  nội dung  của đề tài. Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp nhìn nhận mọi sự vật và hiện  tượng tồn tại trong mối liên hệ  phổ  biến và chúng luôn vận động, biến đổi,  phát triển không ngừng. Trên cơ  sở  quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử  cụ  thể và quan điểm phát triển để  xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu   của đề  tài. Vận dụng các quan điểm này để  làm cơ  sở  cho việc xem xét các  sự kiện xã hội và quá trình phát triển của xã hội, mà cụ thể là kinh tế ­ xã hội   tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu. Trên   cơ   sở   phương   pháp   luận   chung   đó,   đề   tài   chủ   yếu   vận   dụng  hướng tiếp cận của Lý thuyết cấu trúc ­ chức năng, Lý thuyết phát triển, quan  điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện đề tài. Một  số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài được trình bày ở mục 1.1  Chương 1 báo cáo này. Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu cụ thể là: Thu thập, phân tích tài liệu: Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên 
  4. quan đã có từ các cơ quan Trung ương, ở tỉnh, 06 huyện miền núi trong tỉnh.  Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Sử dụng bảng hỏi được  thiết kế phù hợp cho nội dung cần nghiên cứu (xem Phiếu khảo sát ­ Phụ lục  01). Số lượng mẫu là 1.000 phiếu, được điều tra tại tất cả 06 huyện miền núi  trong tỉnh. Việc xử lý và phân tích số  liệu phiếu điều tra được thực hiện bởi   sự trợ giúp của máy vi tính, bằng phần mềm SPSS­11.5. Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung:  Thực hiện với  các đối tượng chủ yếu là cán bộ  các tổ chức Đảng, cơ  quan Nhà nước, đoàn   thể cấp xã, cấp huyện, tỉnh và một số công dân tại các huyện miền núi. Phương   pháp   quan   sát,  được   vận   dụng   xuyên   suốt   trong   quá   trình  nghiên cứu đề tài. 4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu đề tài Như tên gọi của đề tài được giao nhiệm vụ là:“Nghiên cứu thực trạng   và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế ­ xã hội các huyện miền   núi tỉnh Lai Châu”, và được giới hạn trong mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên. Thời  gian và kinh phí đầu tư  cho nghiên cứu còn hạn chế. Vì vậy, trong quá trình  nghiên cứu “đánh giá thực trạng”  ở  đây cũng chỉ  đi sâu vào một số  lĩnh vực  mà đề  tài đặt ra. Các giải pháp đề  xuất cũng trong khuôn khổ  nhiệm vụ  nghiên cứu của đề tài. 5. Ý nghĩa của đề tài Kết quả  nghiên cứu của đề  tài đã bám sát mục tiêu, nhận diện được   những thành công, bất cập trong một số chính sách, chương trình, dự án đầu  tư  phát triển kinh tế ­ xã hội tại các huyện miền núi trong thời gian qua; đề  xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế ­ xã  hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 ­ 2015. Vì vậy, đây là  luận cứ  khoa học phục vụ cho sự  lãnh đạo, chỉ  đạo, điều hành quản lý của  tỉnh và trong việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế  ­ xã hội miền núi   nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước. Đề  tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề  xuất các  giải pháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ­ xã   hội  ở  miền núi nhanh và bền vững. Vì vậy, đề  tài có giá trị  thực tiễn, giải  quyết vấn đề  vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài, đồng thời góp phần làm  sáng tỏ về mặt lý luận, nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề liên quan đến phát  triển kinh tế ­ xã hội miền núi. 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở  đầu, kết luận và phụ  lục, báo cáo tổng hợp kết quả  nghiên cứu đề tài được thể hiện trong ba chương: Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2.  Đánh giá tình hình thực hiện một số  chính sách, chương   trình, dự án phát triển kinh tế­xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu. Chương 3. Các giải pháp góp phần phát triển kinh tế­xã hội các huyện  miền núi tỉnh Lai Châu
  5. PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ 1.1. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài Trong phạm vi của đề tài, các tác giả tập trung tìm hiểu, vận dụng một   số  lý thuyết: “Cấu trúc ­ chức năng”, “Lý thuyết phát triển”, quan điểm của  Đảng và Nhà nước ta có liên quan để nghiên cứu đề tài.  1.1.1. Vận dụng Lý thuyết cấu trúc ­ chức năng  Lý thuyết cấu trúc ­ chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội   học nổi tiếng như: H. Spencer, E. Durkheim, T. Parsons, là một trong những lý  thuyết quan trọng được sử  dụng rộng rãi trong các phân tích xã hội học. Lý   thuyết này nhấn mạnh đến những đóng góp chức năng của mỗi bộ phận trong   xã hội để duy trì cấu trúc cũ, giúp ta vận dụng xem xét cấu trúc kinh tế  ­ xã  hội một vùng, một khu vực nhất định (mà  ở  đây là khu vực miền núi tỉnh   Quảng Ngãi). Vận dụng lý thuyết cấu trúc ­ chức năng giúp ta nhìn nhận: Xã hội là  một hệ  thống các thiết chế  phụ  thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự   ổn  định bền vững của tổng thể. Để  giải thích tồn tại của một thiết chế xã hội,   chúng ta phải tìm hiểu hệ thống xã hội, như một tổng thể, đòi hỏi những nhu   cầu của nó phải được thoả mãn như thế nào. Bởi vì chỉ trong một trạng thái   như vậy thì mới bảo đảm cho các chức năng hoạt động mà xã hội luôn trong   trạng thái cân bằng. Do vậy, khi xem xét về  thực trạng và giải pháp triển kinh tế  ­ xã hội  
  6. miền núi, chúng ta cần thấy được các chức năng mới xuất hiện và có những  chức năng cũ sẽ bị triệt tiêu vì không có cơ sở để tồn tại dẫn đến sự biến đổi   về  kinh tế  ­ xã hội của cộng đồng dân cư  khu vực miền núi. Vận dụng lý  thuyết cấu trúc ­ chức năng phân tích nội dung đề tài “ Nghiên cứu thực trạng   và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế ­ xã hội các huyện miền   núi tỉnh Lai Châu ”; nhằm thấy được cơ cấu mới của cơ cấu xã hội cũng như  chức năng bộ phận của cơ cấu  ấy trong phát triển kinh tế ­ xã hội miền núi.   Sự tác động của các bộ phận mới với các chức năng mới sẽ tạo cơ sở cho sự  tồn tại, phát triển của xã hội và dẫn đến sự  biến đổi xã hội của cộng đồng   dân cư, trong đó cộng đồng dân cư  khu vực nghiên cứu cũng nằm trong mối  quan hệ chung đó. 1.1.2. Vận dụng Lý thuyết phát triển  Lý thuyết phát triển được nhiều nhà khoa học quan tâm và vận dụng  nghiên cứu các vấn đề  kinh tế ­ xã hội. Nhưng có rất nhiều quan điểm khác   nhau khi nói đến thuật ngữ  “phát triển”. Có quan điểm coi phát triển và tăng  trưởng có cùng nội dung. Chúng ta không thể hiểu phát triển như là một hiện  tượng kinh tế  mà phải  được xem như  là toàn bộ  quá trình bao gồm các đặc  điểm kinh tế  ­ chính trị  ­ xã hội và văn hoá. Trên quan điểm về  kinh tế  ­ xã   hội, phát triển giúp cho con người hướng tới một cuộc sống đầy đủ hơn, giàu  có hơn. Lý thuyết về sự phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm bớt những  vấn đề  thuần tuý có tính kinh tế. Lý thuyết phát triển ngày nay chú ý nhiều   hơn các vấn đề phi kinh tế trong quá trình phát triển, về lĩnh vực văn hoá, xã   hội... Do đó, phát triển xã hội không còn đồng nhất với tăng trưởng kinh tế  mà là sự phát triển một cách tổng thể. Với yêu cầu như vậy, khi vận dụng Lý   thuyết phát triển vào nghiên cứu đề tài đòi hỏi chúng ta phải xây dựng khung   lý thuyết nghiên cứu trên cơ sở của lý thuyết phát triển hiện đại. 1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đất nước, Đại hội đại  biểu toàn quốc lần thứ  IX của Đảng đã xác định Chiến lược phát triển kinh   tế ­ xã hội giai đoạn 2001 ­ 2010; Cùng với những chủ trương, đường lối phát   triển chung của đất nước, công tác Dân tộc và miền núi luôn được Đảng và  Nhà nước xác định có vị  trí chiến lược quan trọng. Kế  thừa và phát huy kết   quả  sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ  khi có   Nghị  quyết 22­NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ  Chính trị  Về  một số  chủ   trương, chính sách lớn phát triển kinh tế ­ xã hội miền núi, tình hình miền núi  và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước chuyển biến quan trọng. Đảng  và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế ­ xã   hội của miền núi và đã có rất nhiều chủ  trương lớn lãnh đạo, chỉ  đạo, tổ  chức thực hiện phát triển kinh tế­xã hội trong nhiều năm qua. Những năm gần đây, trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều  rất quan tâm và có chủ  trương đầu tư  ngày càng nhiều cho miền núi. Nghị  quyết số 30a/2008/NQ­CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh   và bền vững đối với 61 huyện nghèo, với quan điểm xoá đói giảm nghèo là 
  7. chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân.   Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để   khai thác có hiệu quả  tiềm năng, lợi thế  của từng dịa phương, nhất là sản   xuất  lâm nghiệp, nông nghiệp để xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế ­ xã   hội bền vững.  Chiến lược phát triển kinh tế  ­ xã hội 2011­2020, được Đại hội đại  biểu toàn quốc lần thứ  XI của Đảng (tháng 01/2011) xác định:... Đẩy mạnh   giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải  thiện đời sống và   chất lượng dân số  của đồng bào các dân tộc thiểu số.Chú trọng phát triển   hạ tầng kinh tế, xã hội. Trong Báo cáo chính trị  của Ban chấp hành trung  ương Đảng khoá X,  tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng đã xác định nhiệm   vụ trong  5 năm tới đối với vùng trung du, miền núi. Phát triển kinh tế ­ xã hội   hài hoà giữa các vùng, đô thị và nông thôn.  Phát huy tiềm năng, thế mạnh của   từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng cường liên kết giữa các địa phương   trong vùng theo quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư  trùng lặp, thiếu liên   kết giữa các địa phương trong vùng; ...Tăng cường chính sách hỗ  trợ  phát   triển các vùng còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào   dân tộc thiểu số. Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã có nhiều chủ  trương để  phát triển kinh tế  ­  xã hội miền núi. Tỉnh  ủy khóa XVII đã ban hành Nghị  quyết 05­NQ/TU Về  phát triển kinh tế  ­ xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi 2006­2010 ;  Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị  quyết số 17/2007/NQ­HĐND ngày  16/7/2007 nhằm cụ  thể  hoá Nghị  quyết trên và  Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây   dựng , ban hành Quyết định số 295/QĐ­UBND ngày 28/02/2008 Về phê duyệt   Quy hoạch tổng thể  phát triển kinh tế  ­ xã hội miền núi của tỉnh đến năm   2010để triển khai thực hiện.  1.2. Điều kiện tự nhiên và dân cư 1.2.1. Điều kiện tự nhiên 1.2.2. Dân cư ­ Dân tộc II. THỰC TRẠNG KINH TẾ ­ XàHỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI  1.1. Khái quát chung về thực trạng kinh tế ­ xã hội  Nhìn chung, kinh tế  các huyện miền núi đang trong quá trình thoát ra  tình trạng tự cấp tự túc, từng bước tiếp cận thị trường.  Tốc   độ   tăng   trưởng   bình   quân   giai   đoạn   2006   ­   2010   chậm,   tăng   13,66%, trong đó N­L­TS tăng 10,25%; CN­XDCB tăng 22,39%; Dịch vụ tăng  18,97%. Tổng giá trị sản xuất toàn vùng (theo giá 1994) năm 2006 đạt 688.904   triệu đồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng.  Về  cơ  cấu kinh tế đã có sự  chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ  trọng  ngành N­L­TS giảm dần. Tỷ  trọng CN­TTCN tăng chậm. Dịch vụ  chiếm tỷ  trọng thấp nhưng cáo xu hướng tăng dần.  Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng, năm 2010 đạt 27,831 
  8. tỷ  đồng, tuy nhiên còn rất nhỏ. Mức thu này chưa thể  có tích lũy từ  nội bộ  nền kinh tế  của các huyện trong vùng mà chủ  yếu dựa vào sự  hỗ  trợ  ngân  sách của cấp trên. Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, năm 2006 là 3.052 ngàn  đồng, đến năm 2009 là 4.384 ngàn đồng; Lương thực bình quân đầu người  năm 2006 là 296 kg/người/năm, đến năm 2010 là 327 kg/người/năm. Đầu tư    xây dựng cơ  bản của khu vực miền núi được chú trọng,   kết  cấu hạ tầng kinh tế ­ xã hội phát triển khá, nhất là hệ thống thủy lợi, đường   giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, kè chống xói lở bờ sông... Đến nay,  100% các huyện trong vùng có điện lưới quốc gia và mạng lưới bưu chính   viễn thông.  Lĩnh vực văn hoá ­ xã hội, nhất là giáo dục, y tế, văn hoá thông tin có  những bước tiến triển mới, gắn kết hơn với quá trình phát triển kinh tế  ­ xã   hội chung của toàn tỉnh và trong nội bộ vùng.  Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, tỷ lệ nghèo năm 2010 là  35,23%, chất lượng cuộc sống có mặt được nâng lên. Đời sống vật chất, tinh   thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể. Thế trận quốc phòng  ­ an ninh được giữ vững. Khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố  và tăng cường. Tuy nhiên, kinh tế ­ xã hội các huyện miền núi vẫn còn chậm phát triển   và nhiều khó khăn.Tính tự phát, manh mún trong sản xuất còn phổ biến. Sản  xuất nông nghiệp chưa đáp  ứng đủ  nhu cầu lương thực, thế  mạnh kinh tế  rừng chưa được phát huy đúng mức; công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng   còn nhiều yếu kém, một số nơi rừng bị tàn phá nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu   đến môi trường sinh thái. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hệ thống dịch  vụ  còn sơ  khai. Tiềm năng du lịch chưa được khai thác. Hệ  thống hạ  tầng   kinh tế ­ xã hội còn yếu kém. Các vấn đề thiết yếu như: nhà ở, đất ở, đất sản   xuất nông nghiệp, đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản.  Đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp xa so với các vùng khác trong tỉnh.  Trình độ  dân trí thấp, điều kiện phát triển giáo dục, y tế  khó khăn, học sinh  bỏ  học còn nhiều; tỷ  lệ  trẻ  em suy dinh dưỡng còn cao. Đồng bào dân tộc  vẫn còn tồn tại một số tập tục lạc hậu. 1.2. Thực trạng về các ngành kinh tế 1.2.1. Nông nghiệp ­ Lâm nghiệp ­ Thủy sản + Sản xuất Nông nghiệp ­ Về trồng trọt: Cây lúa:  Từ  năm 2001 đến nay, tuy diện tích có tăng có giảm, nhưng   năng suất bình quân trong vùng tăng đều: từ  26,6 tạ/ha (2001), 31,2 tạ/ha  (2005) lên 40,2 (2010) làm cho sản lượng tăng lên. Cây ngô: Sản xuất ngô có nhiều tiến bộ cả về mở rộng diện tích thâm  canh tăng năng suất. Diện tích ngô lai đang thay thế  dần các giống ngô cũ  năng suất thấp. Phương thức trồng ngô thâm canh cũng đang thay thế  dần   trồng ngô quảng canh. Năng suất bình quân trong vùng tăng từ: 18,8 tạ/ha  
  9. (2001), 21,8 tạ/ha (2005) lên 28,7 tạ/ha (2010). Cây sắn: Cùng với sự phát triển của hai nhà máy chế biến tinh bột sắn   của tỉnh kéo theo vùng nguyên liệu phát triển không ngừng. Năng suất bình  quân trong vùng tăng từ: 85,8 tạ/ha (2001), 107,9 tạ/ha (2005) lên 134,1 tạ/ha   (2010). Việc phát triển cây sắn hiện nay cần có giải pháp quy hoạch hợp lý  và canh tác khoa học để không dẫn đến phá rừng và huỷ hoại môi trường. Ngoài ra, trong vùng còn có khoai lang, rau đậu các loại: Diện tích có  lúc giảm lúc tăng, nhưng sản lượng và năng suất các năm đều tăng do áp dụng  các tiến bộ khoa học ­ kỹ thuật vào sản xuất.     Cây công nghiệp ngắn ngày:  Trong vùng có trồng các loại cây công  nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, vừng…  Diện tích mía có tăng có giảm qua  các   năm,   năng   suất   bình   quân   trong   vùng   không   ổn   định   từ:   372,2   tấn/ha  (2001), 449,9 tấn/ha (2005) giảm còn 336,6 tấn/ha (2010).  Diện tích và sản  lượng cây lạc tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất lại ngày càng tăng. Năm  2001 diện tích 1.340 ha, sản lượng 1.643 tấn, năng suất chỉ đạt 12,3 tạ/ha. Đế  năm 2008 diện tích giảm xuống còn 872 ha, nhưng nhờ  năng suất tăng lên   15,7 tạ/ha nên sản lượng đạt 1.358 tấn. Diện tích trồng cây vừng tuy có tăng  có giảm, nhưng năng suất và sản lượng hàng năm đều tăng. Năm 2001 diện  tích 29,0 ha đến 2002 diện tích tăng lên 74,0 ha, nhưng năm 2008 diện tích lại   giảm xuống còn 63,0 ha. Năng suất tăng từ  1,7 tạ/ha năm 2001 lên 3,9 tạ/ha   năm 2008. Sản lượng tăng từ 5,0 tấn năm 2001 lên 24,3 tấn năm 2008.      Cây công nghiệp dài ngày: Cây quế  (Diện tích 2.521 ha, sản lượng  2.255 tấn); Cây cau (Diện tích 620 ha, sản lượng 6.875 tấn); Cây chè (Diện   tích 140 ha, sản lượng 252 tấn);  Cây ăn quả: Diện tích 663 ha, sản lượng 3.434 tấn. Trồng phân tán  trong vườn các hộ gia đình. ­ Về chăn nuôi: + Đàn trâu, bò: Hình thức chăn nuôi hiện nay vẫn là chăn nuôi quảng  canh, chưa phát triển thành các trang trại chăn nuôi tập trung trong khi vùng có   các điều kiện để phát triển. Số lượng đàn trâu, bò có xu hướng ngày càng gia   tăng. ­ Đàn lợn: Số  lượng đàn lợn tương đối  ổn định, tuy có năm tăng, năm  giảm. + Đàn gia cầm: Sản lượng thịt gia cầm trong 5 năm trở  lại đây có xu  hướng gia tăng, năm 2004 sản lượng thịt gia cầm 290 tấn đến năm 2008 tăng  lên 560 tấn.       Nhìn   chung,   chăn   nuôi   chậm   phát   triển   so   với   trồng   trọt,   chủ   yếu  hướng tự cung, tự cấp, chưa định hướng sản xuất hàng hóa. ­ Ngành lâm nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay là 175.307,1 ha chiếm 54,18% diện  tích tự  nhiên toàn tỉnh. Năm 2006 tổng doanh thu của ngành lâm nghiệp là   56.460 triệu đồng, chiếm 17,02% giá trị  ngành Nông ­ Lâm ­ Ngư  nghiệp.  Ngoài diện tích rừng tự nhiên đã được khoán bảo vệ, chăm sóc hàng năm. Các 
  10. huyện miền núi còn tiến hành trồng, khoanh nuôi, tái sinh bảo vệ  được diện   tích rừng khá lớn. Công tác trồng rừng và bảo vệ  rừng được quan tâm trong  những năm gần đây. Diện tích rừng trồng chủ yếu các cây Sao đen, Lim, Dầu,  keo, bạch đàn, quế… Keo hiện nay chiếm diện tích khá lớn, năng suất bình   quân khu vực trong khoảng từ 70 ­ 88 tấn/ha và ngày càng đem lại nguồn lợi   kinh tế khá cao. ­ Thủy sản Ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của vùng miền núi quá nhỏ  bé,   sản lượng và giá trị sản phẩm không đáng kể, chủ yếu chỉ đáp ứng một phần   nhu cầu nội vùng. Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản toàn vùng đạt 210 tấn.  Tiềm năng khai thác không lớn. 1.2.2. Công nghiệp ­ Tiểu thủ công nghiệp, Xây dựng Trong những năm qua, ngành Công nghiệp ­ Tiểu thủ  công nghiệp và  Xây dựng đã có sự  phát triển đáng kể. Hầu hết các cơ  sở  công nghiệp, tiểu  thủ công nghiệp và xây dựng đều nhỏ bé và tập trung ở các thị trấn, trung tâm   huyện lỵ và các trung tâm cụm xã. Tuy nhiên, ngành công nghiệp và tiểu thủ  công nghiệp vẫn chiếm tỷ  trọng rất nhỏ  trong cơ  cấu giá trị  sản xuất của   vùng. Năm 2008, trên toàn địa bàn 06 huyện miền núi có tổng số 1.605 cơ sở  thì hầu hết đều thuộc loại hình hộ kinh doanh cá thể và tư nhân (1.600 cơ sở),   chỉ có 02 cơ sở sản xuất thuộc loại hình nhà nước, 03 cơ sở tập thể.  1.2.3. Thương mại ­ Dịch vụ và Du lịch Những sản phẩm hàng hóa của vùng trao đổi với bên ngoài chủ  yếu là  gỗ  và sản phẩm chế  biến từ  gỗ, cây mía, cây quế  và một số  lâm sản khác.   Còn các sản phẩm nhập vào trong vùng là nguyên vật liệu xây dựng, nhiên  liệu, phân bón, lương thực và đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Về  dịch vụ có tốc độ  tăng trưởng khá, ngày càng chiếm tỷ  trọng đáng   kể trong cơ cấu kinh tế. Các hoạt động dịch vụ vận tải, ngân hàng phát triển,   có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế ­ xã hội của vùng. Tuy nhiên, vận tải  trong vùng chủ  yếu là đường bộ, phương tiện chính là xe ô tô và chưa đáp   ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong vùng. Du lịch trên địa bàn chưa được đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng còn quá   khó khăn, khâu dịch vụ chưa phát triển.  1.3. Thực trạng về xã hội và an ninh quốc phòng Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho đồng bào dân tộc   trong vùng từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất, đội   ngũ cán bộ y tế được tăng cường. Các chương trình y tế đều đạt kế hoạch đề  ra, góp phần hạ  thấp tỷ  lệ  các bệnh như  sốt rét, bướu cổ...Tuy nhiên, tỷ  lệ  mắc bệnh và tử vong trong vùng còn cao. Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y   tế hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu.  Việc xây dựng đời sống văn hóa, nhất là Phong trào “Toàn dân đoàn kết  xây dựng đời sống văn hóa” và các chính sách phát triển văn hóa của nhà nước   trong vùng tiếp tục được chú trọng thực hiện. 
  11. Sự  nghiệp giáo dục ­ đào tạo được các cấp, các ngành quan tâm, hiện  nay tỷ lệ học sinh tới trường đạt 80% so với độ  tuổi đi học. Tuy nhiên, chất   lượng giáo dục trên địa bàn vẫn còn thấp, nhất là trong vùng các xã đặc biệt  khó khăn. Hệ  thống trường lớp và trang thiết bị  còn thiếu, phòng học tranh   tre, phòng tạm vẫn còn. Hiện tại chưa đáp  ứng được yêu cầu phát triển của  sự nghiệp giáo dục.  Công tác ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật  được triển khai thực  hiện bằng nhiêu mô hình. Năng lực cán bộ chuyển giao tuy đã có kiến thức và  kinh nghiệm nhưng còn rất thiếu trang thiết bị, phương tiện. Cơ sở vật chất   kỹ thuật tại các huyện còn thiếu nhiều và quá sơ sài. Về  an ninh quốc phòng, trật tự  an toàn xã hội  ở  các huyện miền núi  luôn được ổn định và giữ vững. Thực hiện có kết quả các chủ trương về xây   dựng khu vực phòng thủ, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ  Tổ  quốc, giữ  gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.  1.4. Thực trạng kết cấu hạ tầng Hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng lớn đến việc lưu   thông kinh tế  giữa các địa phương trong vùng, đặc biệt vào mùa mưa. Các  tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ  nhìn chung đã được xây dựng tương đối khá,  một số  tuyến khác đang có dự  án đầu tư. Nhiều tuyến đường liên xã, thôn  xóm còn quá kém, hệ thống cầu cống và hệ thống thoát nước đã có nhưng còn   nhiều hạn chế. Về thủy lợi: Trong vùng hiện có 279 công trình thủy lợi, tổng diện tích  tưới 4.128 ha.  Tuy nhiên, chưa đáp  ứng được yêu cầu sản xuất của người   dân. Về điện năng: Hệ thống điện chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và  sinh hoạt. Hiện nay số  hộ  có điện trong vùng chỉ  là 34.140 hộ, chiếm 81%  toàn vùng.  Hệ  thống cấp nước sinh hoạt :  Chương trình NS&VSMTNT cùng với  các nguồn từ  các chương trình khác đã đầu tư  162 công trình với tổng vốn   khoảng 53.978 triệu đồng, cấp nước cho khoảng 9.997 hộ, nâng tổng số  hộ  được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ  sinh  đến năm 2010 chiếm khoảng  76,83% dân số toàn vùng. Về bưu chính viễn thông: Nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản  của dịch vụ bưu chính viễn thông trong vùng. Toàn vùng có 15.167 máy điện  thoại cố  định, bình quân 7,63 máy/100 dân, tổng số  thuê bao Internet là 786   thuê bao. Về  văn hóa thông tin:  Đến nay, trong vùng đã có 6 đài truyền thanh ­   phát lại truyền hình, tập trung vào tuyên truyền đường lối chủ  trương chính  sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ  chính trị  địa phương. Hệ  thống văn hóa thông tin mới chỉ đáp ứng được ở khu vực trung tâm huyện và  các trung tâm cụm xã, còn đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa được  đầu tư nhiều để đảm bảo yêu cầu thiết yếu. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thể dục thể thao chưa phát triển. 
  12. Toàn vùng hiện có 17 sân vận động, vận động viên chủ  yếu chỉ  tập trung từ  các xã, thị trấn khi có phong trào thi đấu. Hệ thống thoát nước và vệ  sinh môi trường chưa được chú trọng đầu   tư. Phương thức sản xuất  lạc hậu, cơ  sở  hạ tầng còn nhiều khó khăn, ảnh  hưởng không ít đến đời sống của nhân dân, là mầm mống gây ra các dịch   bệnh. Tóm lại, cả sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều là những huyện   nghèo và có sự phát triển không đồng đều theo vùng lãnh thổ và theo lĩnh vực   sản xuất.  Theo vùng lãnh thổ, có huyện có điều kiện phát triển mạnh như Ba Tơ,   Sơn Hà, Trà Bồng; có huyện kinh tế  khó phát triển hơn như: Tây Trà, Sơn  Tây, Minh Long. Có huyện cơ sở hạ tầng khá như: Ba Tơ, Sơn Hà; có huyện   cơ sở hạ tầng yếu kém như Tây Trà, Sơn Tây. Theo lĩnh vực sản xuất, có huyện có hướng phát triển công nghiệp vì   nguyên liệu dồi dào như: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, nhưng cũng có huyện ít   có lợi thế phát triển công nghiệp mà chỉ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng  nghề, như Tây Trà, Sơn Tây. Thực trạng nêu trên là những chỉ báo rất đáng quan tâm trong quá trình   đầu tư phát triển kinh tế ­ xã hội miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong những năm   đến. Chương 2. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỘT SỐ CHÍNH SÁCH,  CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ ­ XàHỘI          TẠI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI  I. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ  ­ XàHỘI CÁC Xà ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN MIỀN NÚI VÀ VÙNG SÂU VÙNG XA (CHƯƠNG  TRÌNH 135) 1.1. Chương trình 135 giai đoạn I  a. Nội dung của Chương trình   là:  Quy hoạch bố  trí lại dân cư   ở  những nơi cần thiết; Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn  với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp   với quy hoạch sản xuất và bố trí lại dân cư; Quy hoạch và xây dựng các trung  tâm cụm xã; Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, sóc.
  13. ­ Thời gian thực hiện: Từ năm 1999­2005. ­ Phạm vi thực hiện trên địa bàn các xã ĐBKK, cụ  thể: Năm 1999:22  xã; năm 2000: 44 xã; từ năm 2001­2005: 57 xã. b. Đánh giá kết quả  Những kết quả đạt được: Chương trình đã góp phần xây dựng được hệ  thống CSHT quan trọng,  là lực lượng vật chất to lớn làm thay đổi bộ  mặt nông thôn, tạo tiền đề  cho  phát triển vùng dân tộc và miền núi. Đưa kỹ  thuật canh tác mới với những   giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt đã dần thay thế những   tập quán sản xuất lạc hậu; diện tích khai hoang ruộng lúa nước và năng lực  tưới tiêu tăng lên giúp ổn định một phần lương thực. Góp phần cải thiện đời   sống của đồng bào trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế  và sức   khỏe cộng đồng: Về  cơ  bản trên địa bàn không còn hộ  đói kinh niên, tốc độ  giảm nghèo hàng năm khá, từ  65% (trước khi có Chương trình) xuống còn  23,84% (cuối năm 2005), bình quân giảm 4­5%/năm. Hầu hết các xã đều có  trường tiểu học và THCS kiên cố, thu hút trên 95% số trẻ em tiểu học, trên 75   % trẻ  em THCS trong độ  tuổi đến trường; nhiều địa phương đã hoàn thành   phổ cập giáo dục THCS; có trạm y tế đã ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh; đời   sống văn hoá được nâng cao một bước, văn hoá truyền thống của các dân tộc  được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư  đã góp phần  ổn định đời sống, giúp đồng bào được tiếp cận các hạ  tầng kỹ  thuật, dịch vụ xã hội. Những tồn tại, hạn chế: ­ Về  tổ  chức thực hiện:   Chưa sát thực tế  nên dẫn đến nhiều biến   động về  số  xã thuộc Chương trình: Số  xã thuộc diện đầu tư  đã tăng dần từ  21 đến 57 xã.  Chưa có chính sách khuyến khích các địa phương thoát khỏi  Chương trình.Chỉ có 14/57 xã hoàn thành mục tiêu, đạt tỷ lệ rất thấp 24,56%.  Mặt khác, do không có sự  đánh giá khách quan và tâm lý không muốn thoát   khỏi Chương trình. Công tác quản lý, chỉ đạo các dự án chưa được tập trung.  Sự  phối hợp giữa Ban chỉ  đạo và các Sở, ngành chưa được chặt chẽ, đồng   bộ. Công tác tuyên truyền phổ  biến chưa được quan tâm đúng mức. Nhiệm   vụ  giám sát thiếu chặt chẽ, kém hiệu lực.  Thực hiện đầu tư  còn dàn trãi,   chưa đồng bộ. Nội dung thiếu mục tiêu cụ thể cho từng vùng đầu tư. Dự án  quy hoạch bố trí lại dân cư chỉ mới thực hiện được việc hỗ trợ dãn dân, công  tác quy hoạch dân cư chỉ dừng ở bước lập dự án quy hoạch... Trong xây dựng   CSHT, cơ cấu đầu tư còn nặng về các công trình giao thông (chiếm 42,90%);  trong khi vốn đầu tư  cho thủy lợi (33,75%), nước sinh hoạt (7,39%),  điện  (3,6%), trường học (11,35%) và khai hoang (0,68%) là chưa hợp lý. 
  14. ­ Về  quản lý các nguồn vốn  đầu tư:  Chương  trình do UBND các  huyện trực tiếp quản lý, trong khi trình độ  cán bộ  còn nhiều hạn chế. Tuy  chưa có vi phạm lớn nhưng còn biểu hiện những sai sót và lãng phí. Quy trình  chọn và đánh giá nhà thầu thi công chưa tốt. Ở  nhiều địa phương chọn nhà  thầu không đủ năng lực. Công tác nghiệm thu thiếu cán bộ có chuyên môn phù  hợp; một số công trình chưa đảm bảo chất lượng. Một số địa phương có thực  hiện huy động dân khai thác vật liệu xây dựng tại chỗ, tham gia xây dựng  công trình nhưng tỷ  lệ  rất thấp. Hầu hết, các công trình CSHT do nhà thầu  làm, sự tham gia của người dân bản xứ là rất thấp. Một số nơi, việc lựa chọn   công trình ít được thảo luận rộng rãi với dân, hoặc chỉ  là hình thức, nên đầu   tư không hợp lý, kém hiệu quả. ­ Về công tác quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình: UBND  tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp và  khai thác các công trình cơ sở  hạ tầng tại xã miền núi. Tuy nhiên, nguồn lực  chủ yếu để thực hiện là công lao động của nhân dân địa phương và vốn duy   tu, bảo dưỡng của địa phương rất hạn hẹp, việc thực hiện còn nhiều bất  cập. ­ Về  lồng ghép các chương trình, dự  án:    Có gặp nhiều khó khăn do mỗi  chương trình, dự  án đầu tư  đều có mục tiêu, cơ  quan chủ  trì riêng, cơ  chế  quản lý và thời điểm thực hiện khác nhau, cùng với những hạn chế  trong   công tác quy hoạch và cơ chế lồng ghép không rõ ràng nên hiệu quả chưa cao,  chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực đầu tư. 1.2. Chương trình 135 giai đoạn II (2006 ­ 2010) a.   Nội   dung   của   chương   trình   là:  Hỗ   trợ   phát   triển   sản   xuất   và  chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân   tộc; Phát triển cơ  sở  hạ  tầng thiết yếu  ở  các xã, thôn, bản đặc biệt khó  khăn; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính  và kinh tế; đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng; Trợ  giúp pháp lý để  nâng  cao nhận thức pháp luật. ­ Thời gian thực hiện: Từ năm  2006 ­ 2010.  ­ Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Gồm 43 xã ĐBKK miền núi và 31  thôn ĐBKK thuộc các xã khu vực II.  b. Đánh giá kết quả thực hiện Những kết quả đạt được: Chương trình đã đạt được phần lớn các nội dung; về cơ bản, không còn  tình trạng hộ  đói thường xuyên; tỷ  lệ  hộ  nghèo của các xã, thôn ĐBKK đã   giảm từ  71,56% đầu năm 2006 xuống còn 44,24% vào giữa năm 2010 (giảm  27,32%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 5,5%).  ­ Một số chỉ tiêu đạt kế hoạch: Tỷ lệ xã có công trình thủy lợi nhỏ đảm  bảo phục vụ  cho sản xuất đạt 93,33% (MT 80%); Tỷ lệ  thôn bản có điện ở  các cụm dân cư đạt 88,81% (MT 80%); Tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi   được đến trường là 99,53% (MT 95%); Tỷ  lệ  học sinh THCS trong độ  tuổi   được đến trường là 91,17%  (MT 75%); Tỷ  lệ  hộ  có hố  xí hợp vệ  sinh đạt  
  15. 52,33% (MT 50%); Tỷ lệ người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ  pháp luật miễn phí là 100 % (MT 95%). ­ Về  phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ  cấu kinh tế:   Sản xuất nông  nghiệp đã có bước phát triển đáng kể nhờ áp dụng giống cây trồng, vật nuôi  mới và  ứng dụng khoa học, kỹ  thuật vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật  nuôi tăng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số  đã từng bước thay thế  dần tập   quán sản xuất lạc hậu. Tỷ  lệ  hộ  có mức thu nhập bình quân đầu người trên  3,5 triệu đồng/năm của vùng tăng từ  26,71% năm 2006 lên 44,59% vào năm  2010. ­ Về  hoàn thiện cơ  sở  hạ  tầng:  Hệ  thống cơ  sở  hạ  tầng thiết yếu tại   các địa bàn ĐBKK đã được quy hoạch và triển khai thực hiện  đầu tư  từ  nguồn vốn của CT 135­II, cùng với nguồn lực từ các chương trình, dự án khác   đã cơ  bản phục vụ  được phần lớn những yêu cầu cấp thiết nhất trong sản   xuất và sinh hoạt của người dân tại các địa bàn này.  ­ Đời sống văn hoá, xã hội đã có bước chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học  sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở trong độ  tuổi đến trường đều cao;   số  hộ  được sử  dụng nước sinh hoạt hợp vệ  sinh, số hộ được sử  dụng điện   đều tăng và đạt mục tiêu của Chương trình. ­ Về nâng cao năng lực: Trình độ, năng lực quản lý CT 135­II cũng như  các chương trình, chính sách khác của cán bộ  cấp xã và thôn được nâng lên   một bước; đội ngũ cán bộ  cấp xã, thôn đã được trang bị  các kiến thức, kỹ  năng về  quản lý điều hành, quản lý đầu tư  cũng như  trình độ  chuyên môn  nghiệp vụ  về  xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, trong giai đoạn 2006­2010, số  lượng xã được giao làm chủ  đầu tư  các dự  án, chính sách thuộc CT 135­II  tăng lên: năm 2006 có 13,95%, đến năm 2010 có 81,3% xã; h ợp phần Hỗ  trợ  sản xuất đến năm 2008 có 100% xã làm chủ đầu tư. Năng lực của cộng đồng  được nâng lên, ngày càng có nhiều hộ  biết áp dụng khoa học kỹ  thuật và sử  dụng loại giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao vào sản   xuất để tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Những tồn tại, hạn chế: ­ Các mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt được: Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo:  Tỷ  lệ  hộ nghèo  ở  các xã, thôn ĐBKK của tỉnh năm 2010 đã giảm 27,32% so   với năm 2006. Tuy nhiên, vẫn còn ở mức khá cao là 44,24% (MT dưới 30%). ­ Về phát triển cơ sở hạ tầng: Tỷ lệ xã có đường giao thông cho xe cơ  giới từ  trung tâm xã đến thôn bản chỉ  đạt 76,8% (MT 80%); Tỷ  lệ  xã có đủ  trường học, lớp học kiên cố chỉ đạt 95,34% (MT 100%); Tỷ lệ xã có Trạm y   tế kiên cố, đúng tiêu chuẩn chỉ đạt 51,16% (MT 100%). ­Về  phân cấp cho cấp xã làm chủ  đầu tư: Chỉ  có  81,3% số  xã ĐBKK  được giao làm chủ đầu tư các công trình CSHT (MT 100%).  Chỉ  có 01xã hoàn thành mục tiêu chương trình (xã Ba Dinh, huyện Ba  Tơ). Qua điều tra lấy ý kiến nhân dân về Chương trình, có 45,5% ý kiến cho   rằng“chưa hiệu quả lắm” so với 30,6% ý kiến “hiệu quả tốt”. ­ Trong chỉ  đạo, điều hành:  Việc tổ  chức triển khai chương trình còn 
  16. nhiều lúng túng, nhiều văn bản hướng dẫn ban hành chậm. Một số  nội dung  của văn bản hướng dẫn phải sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho các địa   phương.  ­ Trong tổ  chức thực hiện: Việc phân bổ  vốn thực hiện Chương trình  còn chậm, thường phân thành nhiều đợt đã gây khó khăn cho các địa phương   trong việc lập kế hoạch tổ  chức thực hiện cũng như  giải ngân vốn. Nguyên  tắc “xã có công trình, dân có việc làm, tăng thêm thu nhập từ  việc tham gia   lao động công trình tại xã” chưa được thực hiện tốt. Vai trò và nhiệm vụ của  một số cơ quan cấp tỉnh, huyện trong quá trình tham mưu và tổ chức chỉ đạo  thực hiện Chương trình có lúc, có việc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời. Công tác   quản lý, tổ  chức triển khai thực hiện của cán bộ  xã nhiều nơi còn lúng túng,  gặp nhiều khó khăn.  II. MỘT SỐ  CHÍNH SÁCH HỖ  TRỢ  ĐẤT SẢN SUẤT, ĐẤT  Ở,   NHÀ   Ở   VÀ   NƯỚC   SINH   HOẠT   CHO   HỘ   ĐỒNG   BÀO   DÂN   TỘC  THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN (CHƯƠNG TRÌNH 134) 2.1. Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình ­ Nội dungchương trình: Giao đất sản xuất nương rẫy, đất ruộng lúa;  Giao đất  ở  tối thiểu cho hộ đồng bào; Hỗ  trợ  nhân dân xây dựng nhà ở  theo  phương châm: Nhân dân tự làm, nhà nước hỗ  trợ  và cộng đồng giúp đỡ; Hỗ  trợ giải quyết nước sinh hoạt tập trung, phân tán. ­ Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 ­  2008.  ­ Phạm vi thực hiện:  67 xã, 329 thôn thuộc 9 huyện (trọng tâm là 6  huyện miền núi). Số hộ thụ hưởng là: 13.907 hộ, được điều chỉnh lên 29.019  hộ. 2.2. Đánh giá kết quả Những kết quả  đạt được:  Chương trình bước đầu đã giải quyết cơ   bản tình trạng khó khăn về  đất  ở, nhà  ở  và nước sinh hoạt:  Khai thác được  tiềm năng đất đai, lao động và cải thiện đời sống người dân; đảm bảo một  bộ  phận đồng bào có điều kiện phát triển sản xuất, tạo cơ  hội phấn đấu,  nâng cao ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ  để  vươn lên thoát nghèo.  Quy chế  dân chủ  được phát huy: Việc hỗ  trợ  một số  chính sách được công khai dân  chủ từ khâu lập và phân bổ  kế hoạch, đến khâu giám sát thực hiện; công tác   xã hội hóa trong việc kiểm tra, giám sát đã được hình thành và rõ nét hơn   trong mỗi người  dân.   Nhiều  địa phương đã  chủ  động thực hiện tốt các   phương thức quản lý dự  án: Nhiều xã thực hiện tốt trách nhiệm ký kết hợp  đồng xây nhà cho dân (trường hợp hộ  dân có nhu cầu) và đã làm tốt vai trò   chủ  đầu tư  xây dựng công trình nước sinh hoạt tập trung.   Nhận thức của   người dân địa phương về  chính sách của nhà nước được nâng lên.  Ý thức  tương trợ  giúp đỡ  trong cộng động cũng được nâng cao. Giải quyết cơ  bản   vấn đề nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt:  Hỗ trợ cho 15.333 hộ có nhà ở  được cứng hoá khung nhà, 597 hộ có đủ đất sản xuất và đại bộ phận cư dân  trên vùng được dùng nước sạch, cải thiện chất lượng cuộc sống.    Những tồn tại, hạn chế:   Công tác điều tra, khảo sát còn hạn chế: 
  17. Một số  huyện điều tra thiếu chính xác, dẫn đến chỉ  tiêu một số  chính sách   trong Đề án không sát với thực tế. Nguyên nhân là lực lượng và điều kiện để  điều tra, khảo sát ban đầu gặp nhiều khó khăn, Trung ương quy định thời gian  điều tra, khảo sát, lập Đề  án là quá ngắn.    Một số  quy định về  chính sách   chưa phù hợp thực tế: Đối tượng thụ hưởng ở các xã thuộc các khu vực I, II,   III có điều kiện tự nhiên, kinh tế ­ xã hội và khả năng nguồn lực của từng địa  phương khác nhau, nhưng mức hỗ trợ nhà ở, đất sản xuất theo kiểu bình quân  là chưa phù hợp; Mức hỗ trợ khai hoang, đền bù thu hồi đất 6 triệu đồng/ha là   quá thấp. Do đó, địa phương gặp nhiều lúng túng, chưa tạo được cơ  hội cho  đồng bào có đủ  đất sản xuất.  Về  công tác tổ  chức thực hiện còn hạn chế.  Chưa ban hành các quy định về  huy động, lồng ghép các nguồn vốn; hướng   dẫn cơ chế lồng ghép các nguồn vốn và cân đối nguồn vốn lồng ghép trên địa   bàn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để  thực hiện Chương trình đạt hiệu   quả  cao. Việc phân công cán bộ  cấp huyện, xã còn phải kiêm nhiệm nhiều   chương trình, nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, khối lượng công việc nhiều, nên  công tác chỉ  đạo chưa được tập trung. Công tác khảo sát thiết kế  công trình   tồn tại nhiều yếu kém. Nhiều công trình nước sinh hoạt không phát huy hiệu   quả  do khảo sát nguồn nước; công suất thiết kế  không phù hợp với nguồn   nước và nhu cầu sử  dụng. Nhiều công trình bảo quản kém nên chỉ  cần hư  hỏng nhỏ ở đầu nguồn là công trình không sử dụng được. Công tác sơ kết rút  kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cộng đồng, nhân rộng điển hình chưa  kịp thời. III. DỰ ÁN TRỒNG MỚI 5 TRIỆU HA RỪNG  (DỰ ÁN 661) 3.1.Nội dung dự án, thời gian, phạm vi Dự án ­ Nội dung: Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có; Thực hiện ngay từ giai  đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ  chức, hộ  gia đình cá nhân gắn   với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết   hợp trồng bổ  sung và trồng mới; Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ  rừng đặc   dụng và trồng 3 triệu ha rừng sản xuất. ­ Thời gian thực hiện: Từ năm 1998 ­ 2010. ­ Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn 10 huyện, với quy  hoạch tiềm năng đất trồng rừng đã phê duyệt đến năm 2010 là 46.000 ha  (trong đó: 6 huyện miền núi là 35.100 ha, chiếm 76,30% diện tích).   3.2. Đánh giá tình hình thực hiện Những kết quả  đạt được:  Việc ban hành văn bản quy phạm pháp   luật, cơ  chế, chính sách thực hiện Dự  án:  Được thực hiện từ  Trung  ương,  đến địa phương kịp thời và rõ ràng, giúp các cấp chính quyền làm cơ sở triển   khai thực hiện.  Công tác chỉ  đạo, điều hành:  Việc tổ  chức, hoạt động của  Ban chỉ  đạo, Ban quản lý Dự  án 661 được sự  chỉ  đạo thống nhất và xuyên  suốt từ Chính phủ đến các cấp chính quyền địa phương.  Việc đầu tư  NSNN,   huy động vốn: Việc đầu tư NSNN và thu hút được nhiều nguồn vốn khác để  thực hiện dự  án là nỗ  lực lớn nhằm phủ  xanh đất trống đồi trọc, cải thiện   môi trường, xóa đói giảm nghèo cho người dân tham gia nghề rừng.  Việc thực  
  18. hiện các mục tiêu, nhiệm vụ  cụ  thể  của Dự  án: Đến nay, tỉnh cơ  bản thực  hiện bằng và vượt so với kế hoạch được giao: Trồng mới và chăm sóc rừng   phòng   hộ:   21.132   ha/19.550   ha,   đạt   108%;   Quản   lý   bảo   vệ   rừng:  554.265/382.100 ha, đạt 145,1%; Khoanh nuôi tái sinh rừng: 73.271/82.724 ha,   đạt 88,6%. Diện tích thành rừng là 66.529 ha. Hiệu quả  về  kinh tế  ­ xã hội,   môi   trường   của   Dự   án:  Từ   năm   1998   ­   2009,   diện   tích   có   rừng   tăng   từ  126.602 ha lên 234.799 ha, độ  che phủ  tăng từ  24,6% lên 41,68%. Kết quả  Quy hoạch lại 3 loại rừng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ  rừng phòng hộ,  giao cho các BQL rừng phòng hộ  và chính quyền địa phương quản lý. Dự  án  đã đưa gần 80.000 ha đất trống đồi núi trọc để  trồng rừng, giao khoán hàng  trăm nghìn lượt ha bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tạo việc làm cho gần 10.000  hộ, hình thành trong cộng đồng dân cư miền núi biết làm nghề rừng, giữ rừng   và xóa bỏ dần tập quán du canh du cư phát rừng làm nương rẫy. Qua điều tra  cho thấy người dân đánh giá cao việc thực hiện chương trình, với 86,1% ý  kiến cho là có hiệu quả.   Những tồn tại, hạn chế: Công tác chỉ  đạo triển khai chưa kịp thời:   Một số văn bản quan trọng để  chỉ  đạo thực hiện dự  án chưa kịp thời. Trong   đó, văn bản quan trọng nhất để làm căn cứ xây dựng Dự án 661 là Quyết định  154/2004/QĐ­UB của UBND tỉnh Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát   triển lâm nghiệp giai đoạn 2002­2010, đến năm 2004 mới ban hành. Công tác  chỉ đạo giai đoạn 1998­2004 dựa vào Quyết định 2356/QĐ­UB ngày 27/8/1996  Về  việc phê duyệt dự  án tổng quan lâm nông công nghiệp giai đoạn 1993­ 2000. Vì vậy, việc rà soát, sắp xếp lại quỹ đất lâm nghiệp, chuyển mục đích  sử dụng diện tích vùng phòng hộ không xung yếu sang đất sản xuất chưa kịp   thời, làm nảy sinh tranh chấp và xâm hại rừng. Việc quản lý và sử  dụng đất   lâm nghiệp chưa thật chặt chẽ: Từ  năm 2002 trở  về  trước, người dân địa  phương không có nhu cầu sử  dụng đất rừng. Để  thực hiện Nghị  định 02/CP  ngày 15/01/1994, chính quyền một số  xã và Lâm trường đã cho tổ  chức, cá  nhân mượn hoặc thuê đất để trồng cây nguyên liệu, nhưng chưa được sự cho  phép của cấp có  thẩm quyền và chưa  được  cấp GCNQSDĐ, trong đó có   người không thuộc hộ khẩu địa phương và tổ chức không có chức năng trồng  rừng. Đến nay, khi người dân địa phương có nhu cầu đất sản xuất và đòi phải   trả  lại đất để  chia cho dân, thì chưa giải quyết được vì cây trồng chưa đến  kỳ  khai thác. Việc thực hiện các giải pháp lâm sinh chưa tạo điều kiện cho  cây trồng chính phát triển. Suất đầu tư  cho các công trình lâm sinh còn thấp,  từ  khoán quản lý bảo vệ  rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, đến trồng rừng.   Tình trạng xâm hại rừng và tranh chấp đất lâm nghiệp diễn ra khá phức   tạp.Nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra nhiều nơi. IV. ĐỀ  ÁN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN – MIỀN  NÚI  Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh,  Đề án phát triển giao   thông nông thôn ­ miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006­2010. 4.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án ­   Mục   tiêu:  Thực   hiện   nhựa   hóa,   cứng   hóa   ít   nhất   1.500   km   tuyến  
  19. đường huyện, xã, thôn, khối phố, trong đó:  Đường huyện: 500 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, V. Phấn đấu đến năm  2010 nhựa hóa, cứng hóa bình quân ít nhất 70% tuyến; Đường xã, phường, thị   trấn (đường xã): 750 km, đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A, B. Phấn đấu  đến năm 2010 cứng hóa mặt đường BTXM bình quân ít nhất 60% tuyến;   Đường thôn, khối phố  (Đường thôn): 250 km, đạt tiệu chuẩn GTNT loại A,   B. Từng bước cứng hóa mặt đường BTXM, gạch hoặc cấp phối các tuyến   đường thôn, đường ra đồng ruộng. Riêng đường nội phố, bê tông hóa 100%   các đường hẻm nội thành.  ­ Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 ­ 2010. ­ Phạm vi Đề án: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn). 4.2. Đánh giá tình hình thực hiện Những kết quả  đạt được: Đề  án triển khai phù hợp với chủ  trương   và yêu cầu thực tiễn. Công tác chỉ đạo được tập trung thực hiệnChính quyền   các cấp  đã tích cực chỉ  đạo và tổ  chức thực hiện.  Các cơ  chế, chính sách  được quán triệt sâu rộng trong quần chúng nhân dân, nhất là chủ  trương huy  động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây   dựng kết cấu hạ tầng ở xã, phường, thị trấn. Những tồn tại, hạn chế:   Nguồn vốn bố  trí và huy động thấp so với   nhu cầu nên khó hoàn thành kế  hoạch:  Nguồn vốn ngân sách bố  trí đầu tư  mặt đường nhựa, đường BTXM còn rất thấp so với kế  hoạch. Do đó, đến  năm 2009, tổng số  Km trong toàn tỉnh được nhựa hoá, cứng hoá đạt thấp:  Đường huyện đạt 41,14%; Đường xã đạt 35,11% so với kế  hoạch. Từ  năm  2008, tỉnh giao kế  hoạch vốn vay tín dụng  ưu đãi cho UBND các huyện và  khấu trừ  vào vốn XDCB hàng năm. Theo Đề  án, đầu tư  đường xã thì vốn   Ngân sách tỉnh bố trí (50% ở xã đồng bằng; 80% ở xã miền núi), còn lại ngân  sách cấp huyện, cấp xã và các nguồn huy động của xã. Tuy nhiên, nguồn lực   đầu tư  tại cấp huyện gặp khó khăn về  vốn ngân sách của huyện, xã và huy   động trong dân.  Đề án tập trung phần lớn dự án thực hiện trên địa bàn các huyện miền   núi (chiếm 20/33 dự án giai đoạn 2009­2010) nhưng chủ yếu thực hiện từ các  nguồn: ngân sách tỉnh, Chương trình 30a, Trái phiếu Chính phủ, Giao thông  nông thôn 3, còn nguồn ngân sách huyện, xã và huy động trong dân với tỷ lệ  rất thấp và hầu như không thực hiện được. Trên địa bàn miền núi, nhiều tuyến đường đạt chất lượng thấp do địa   hình phức tạp, thiết kế  và nguồn lực đầu tư  thấp.   Các tuyến đường  ở  khu  vực miền núi những năm qua chủ yếu đầu tư  nền đường và công trình thoát   nước, còn mặt đường chưa được đầu tư nên thường bị hư hỏng sau mùa mưa   lũ.  Qua điều tra xã hội học, phần lớn người dân đều nhận thấy vai trò quan  trọng  của mạng lưới giao thông và đánh giá mức độ  “hiệu quả  tốt” chiếm  39,1%. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho thấy hiệu quả  các Đề  án giao  thông nông thôn còn hạn chế, chiếm 33,9% “chưa hiệu quả  lắm” và 20%  
  20. “không hiệu quả”.  V. ĐỀ ÁN KIÊN CỐ HÓA KÊNH MƯƠNG ­ THỦY LỢI Đề  án được thực hiện theo chủ  trương của tỉnh,  Đề  án Chương trình   Kiên cố hóa kênh mương thủy lợi giai đoạn 2006­2010. 5.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án ­ Mục tiêu:  Kiên cố  hóa (KCH) 500 km kênh mương, trong đó: Kênh  loại II: 53 km; Kênh loại III: 247 km. Kiên cố  hóa được đầu tư  từ  chương  trình, dự án lồng ghép khác: 200 km.  ­  Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 ­ 2010. ­ Phạm vi thực hiện: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).           5.2. Đánh giá tình hình thực hiện Những kết quả  đạt được:  Đề  án góp phần nâng cao năng lực tưới   tiêu, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp.  Đồng bào dân tộc miền núi đã   bước đầu tiếp cận, tận nguồn thủy lợi để  thâm canh lúa nước, trồng ngô,   nuôi trồng thủy sản. Đề án được sự quan tâm chỉ đạo điều hành của các cấp,  các ngành, các tổ chức chính trị. Được sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân,  người dân nhiều nơi tỏ ra tích cực trong việc tham gia phần vốn 30­40% đóng   góp, nhiều HTX chủ  động vận động thu trước khi có vốn hỗ  trợ  của tỉnh.   Góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong xây dựng, khái thác và bảo  vệ  công trình thủy lợi. Một số huyện miền núi như  Sơn Hà, Minh Long nhờ  thực hiện lồng ghép các nguồn vốn từ  các chương trình khác triển khai trên  địa bàn, nên đã huy động được nguồn vốn lớn để thực hiện đạt và vượt mục   tiêu Đề án.  Những tồn tại, hạn chế: Phương án cân đối nguồn vốn để thực hiện  mục tiêu chưa khả thi. Việc huy động nguồn vốn đóng góp của nhân dân vùng   hưởng lợi  ở các huyện miền núi là rất khó, do đời sống nhân dân còn nghèo,  nguồn vốn góp của các địa phương cũng hạn chế. Vì vậy, khả  năng cân đối  ngân sách chưa đáp  ứng được yêu cầu để  thực hiện theo chương trình. Bộ  máy thực hiện chưa đảm bảo yêu cầu. Do thiếu cán bộ chuyên môn thủy lợi  và không có bộ  phận chuyên trách đầu tư  XDCB nên các hồ  sơ  thủ  tục, lập   hồ  sơ  thiết kế  chậm và cơ  chế  quản lý tài chính còn lúng túng. Sự phối hợp   giữa các Sở, ngành chưa chặt chẽ. Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa được thực  hiện thường xuyên, nghiêm túc. VI. CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN NGƯ  Chương trình Khuyến nông, khuyến ngư được thực hiện theo Nghị định  số  56/2005/NĐ­CP ngày 26/4/2005 của Chính phủ  về  Khuyến nông, khuyến   ngư. 6.1. Nội dung, thời gian và phạm vi chương trình ­ Nội dung: Thông tin, tuyên truyền; Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo;  Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ; Tư  vấn và dịch vụ;  Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư. ­ Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 ­ 2010.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản