intTypePromotion=1

Tổng hợp 3 bài văn mẫu "Phân tích khổ 5, 6, 7 trong bài thơ "Sóng" Xuân Quỳnh"

Chia sẻ: Nguyễn Ngọc Tiến | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:11

0
1.073
lượt xem
49
download

Tổng hợp 3 bài văn mẫu "Phân tích khổ 5, 6, 7 trong bài thơ "Sóng" Xuân Quỳnh"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nỗi nhớ niềm thương của người đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật cảm động và đầy nghệ thuật trong bài thơ "Sóng". Nỗi nhớ như bao trùm cả không gian bao la. Nó chiếm cả tầng sâu, bề mặt của tâm hồn. Và sự khắc khoải da diết ấy được thể hiện khá rõ trong ba khổ thơ cuối 5, 6, 7 của bài thơ “Sóng”. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng hợp 3 bài văn mẫu "Phân tích khổ 5, 6, 7 trong bài thơ "Sóng" Xuân Quỳnh"

  1. VĂN MẪU LỚP 12 TỔNG HỢP 3 BÀI MẪU “PHÂN TÍCH KHỔ 5,6,7 TRONG BÀI   THƠ “SÓNG” XUÂN QUỲNH” BÀI MẪU SỐ 1: Thơ Xuân Quỳnh có nét rất riêng, trong số các nhà thơ nữ của Việt Nam, đó là: chân  thật và đam mê mãnh liệt. Trong thơ chị cháy lên cái sắc màu của một thế giới lung linh,   thế  giới tình yêu. Thơ  Xuân Quỳnh, thơ tình Xuân Quỳnh là niềm khao khát hạnh phúc.  Thơ Xuân Quỳnh rất tình, rất đời và rất đàn bà bởi niềm khát khao ấy. Nói đến khát khao   hạnh phúc trong thơ Xuân Quỳnh có nghĩa là nói đến “Sóng”. Trong bài thơ này, nỗi nhớ  niềm thương của người đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật cảm động và đầy nghệ  thuật. Nỗi nhớ  như  bao trùm cả  không gian bao la. Nó chiếm cả  tầng sâu, bề  mặt của   tâm hồn. Và nó khắc khoải da diết được thể hiện trong ba khổ  thơ  cuối 5, 6, 7 của bài   thơ “Sóng”. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” “Con sóng dưới lòng sâu;con sóng trên mặt nước” là những cung bậc, những biểu   hiện phong phú đa dạng nỗi nhớ của “em”. “Sóng trên mặt nước” là biểu hiện nỗi nhớ  khi thương. Còn “sóng dưới lòng sâu” là nỗi nhớ âm thầm lắng sâu trong cõi lòng và “cả  những lúc giận anh mà lòng em vẫn nhớ”. Nỗi nhớ  ấy mới khắc khoải, bồn chồn, thổn   thức sâu thẳm biết nhường nào! Hai câu thơ  “Lòng em nhớ  đến anh; cả  trong mơ  còn   thức” đã diễn tả  được một cách thật xúc động và chân thực cõi lòng của người phụ  nữ  đang yêu bằng một tình yêu thật trong sáng và mãnh liệt. “Em” nhớ “anh” từ cõi thực đến  cõi mơ. Cái thức trong giấc mơ mới là tình cảm thật nhất, sâu sắc nhất của cõi lòng. Bàn  chân con người có thể “xuôi về phương Bắc” hay “ngược về phương Nam”, nhưng trái  tim chỉ “hướng về anh một phương” như hoa hướng dương hướng về mặt trời vậy… Ở  đây, một lần nữa, Xuân Quỳnh đã mượn kết cấu trùng điệp để  tăng tiến nỗi nhớ  của   lòng mình. Với người phụ  nữ   ấy, không phải phương Bắc hay phương Nam mà chỉ  là  một phương duy nhất. Đó là phương của tâm trạng, của trái tim. Thành thật và cháy  
  2. bỏng đến nhường  ấy, da diết đến nhường  ấy! Dù hơi táo bạo, nhưng sự  đắm say của  khát vọng tình yêu đã trở thành điểm tựa để thơ Xuân Quỳnh cất cánh. Đoạn thơ trên của   Xuân Quỳnh vừa là tiếng nói tha thiết cháy bỏng của trái tim người phụ  nữ  trong nỗi   nhớ, vừa được viết với thủ pháp nghệ thuật của bàn tay một thi sĩ tài hoa. Nỗi nhớ được  thể  hiện hằng hình tượng gián tiếp chưa đủ, nó còn được biểu hiện trực tiếp như  trái  tim không thể kìm nén nổi, tự thốt thành lời: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” Để  nhấn mạnh tính đa dạng, sâu đằm của nỗi nhớ, tác giả  còn sử  dụng thủ  pháp   điệp “con sóng” (ba lần), nhân cách hoá “con sóng nhớ bờ”, biện pháp đối lập “dưới lòng   sâu” – “trên mặt nước”. Nỗi nhớ ở đây đã trở thành tình cảm thường trực trong “trái tim   bé nhỏ mà không bến bờ” của thi sĩ cứ trào dâng, cứ tầng tầng, lớp lớp tưởng chừng như  tới tột độ, cứ nối tiếp nhau hối thúc trào ứ trong tâm hồn. Đã có biết bao câu ca dạo, biết   bao bài thơ viết rất hay về nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu: “Em nhớ anh không chỉ trong giấc ngủ Em nhớ anh không chỉ lúc dạo chơi Em nhớ anh không chỉ khi trăng tỏ Em nhớ anh không chỉ lúc mưa rơi Ôi! Cái nhớ sao mà kì diệu Ôi! Cái thương sao khéo mặn mà Có phải lúc xa nhau ta mới hiểu Hết lòng người trong mỗi phút giây qua” (Hoàng Thị Minh Khanh) Ở trong bài thơ này, Xuân Quỳnh đã có thêm một tiếng nói mới mẻ về tình cảm đó  bằng những vần thơ giản dị mà sâu sắc và không kém phần độc đáo. Tình yêu chân chính là như  vậy: vừa sôi nổi thiết tha, mãnh liệt, vừa trong sáng,   thuỷ chung. Vì tình yêu mà thi sĩ suy tư ở đây không phải là một thứ tình cảm phiêu diêu,   huyền  ảo nào mà là tình yêu trần thế  gắn với đời thường. Mà đời thường không hoàn  toàn bình yên, phẳng lặng; trái lại, lắm khi gặp giông tố, bão bùng. Vì vậy, trong tình yêu   cần phẩm chất thuỷ  chung, ý chí, nghị  lực, sức mạnh của tình cảm để  vượt qua mọi  không gian, thời gian, mọi trắc trở để tìm đến bến bờ của hạnh phúc lứa đôi: “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó
  3. Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Hãy quan sát cái hiện tượng gần như  trở  thành quy luật có vẻ  nghịch lý của đại  dương. Dù gió từ  bờ thổi ra thì sóng  ở  ngoài xa vẫn hướng vào bờ. “Em” cũng thế, cho   dù gặp biết bao trở ngại, “em” cũng sẽ vượt qua hết để đến với “anh”, đến với một mái   ấm hạnh phúc gia đình… (như Chế Lan Viên đã viết: Cây nối đầu cây chạy đến em Đếm cây hoài lại mọc cây thêm Tình anh làm cái cây sau chót Về tới quê em mọc tận thềm” Khi đã yêu thực lòng thì dù muôn vời cách trở, chúng ta vẫn đến được với nhau. Ca  dao xưa đã từng viết: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua” Tình yêu là như  vậy, luôn luôn gắn liền với lòng tin, tin  ở  cuộc đời, tin  ở  người  mình yêu, tin ở chính sức mạnh của tình yêu. Chả thế mà qua bấy nhiêu năm tháng sống   dưới cảnh đạn bom tàn phá những gì quý giá do chính bàn tay mình xây dựng nên, vậy  mà trong tâm hồn người con gái bé nhỏ  “Nguyệt vẫn có tình yêu và niềm tin mãnh liệt   vào cuộc sống, cái sợi chỉ  xanh óng ánh  ấy dù cho bao nhiêu bom đạn dội xuống cũng  không thể đứt, không thể tàn phá nổi” (Mảnh trăng cuối rừng). Bài thơ  thoáng một chút  khắc khoải, lo âu về sự chảy trôi của thời gian, cái ngắn ngủi của cuộc đời mình và tình   yêu cuả bản thân. Giữa lúc trái tim đang yêu nồng nàn, yêu hết mình vẫn thấp thoáng một   dự cảm day dứt rất chính đáng: “Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa” Biển dù rộng tới đâu rồi cũng có bờ, có giới hạn và những đám mây không thể dừng  lại mãi mãi trên biển, mà chúng tiếp tục cuộc hành trình trên bầu trời để  đi đến cõi vô   tận xa xăm. Cũng thế, cuộc đời con người tuy dài nhưng không phải vĩnh hằng, dù con   người không mong đợi nhưng năm tháng vẫn bình thản trôi qua đời người theo quy luật  tất yếu khắc nghiệt của thời gian. Không gian và thời gian là vô hạn. Ở  một chỗ  khác, 
  4. Xuân Quỳnh cũng đã có một câu thơ  tương tự  “Thời gian như là gió; Mùa đi theo tháng   năm; Tuổi theo mùa đi mãi”. Vì thế, đứng trước biển, con người càng có cảm giác về cái nhỏ nhoi, hữu hạn của   kiếp người trước cái vĩnh hằng của vũ trụ. Do đó, con người luôn luôn có khát vọng   được sống trọn vẹn trong tình yêu, khát khao được gắn bó mãi mãi với cuộc sống này,  hoà nhập với cuộc đời vĩnh hằng bằng tình yêu của mình. Niềm khát khao  ấy, Xuân   Quỳnh lại gửi vào hình tượng “sóng”: Những con sóng tan ra không phải để  biến mất  trên đại dương mà là để  hóa thân, để  tồn tại vĩnh viễn trong vô tận các con sóng khác.   Cũng thế, con người sẽ ra đi nhưng tình yêu thì ở lại, một tình yêu vô tận, vĩnh hằng như  sóng giữa biển khơi. Đây là một khát vọng rất con người: “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” Tình yêu của bản thân thì hữu hạn với đời người. Muốn nó đi vào vĩnh hằng, chỉ  còn một cách là hoà tan tình yêu vào những con sóng tình yêu của biển đời để ngàn vạn  năm sau, con sóng đó “Vẫn hát mãi bên ghềnh; Một tình chung không hết” (Xuân Diệu).   Ở đây, tình yêu dường như đã lớn hơn cả  bản thân, dài hơn cả  cuộc dời. Trong bài thơ  “Tự hát”, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh cũng đã khẳng định: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” Như  vậy, bằng trái tim phụ  nữ đằm thắm, thiết tha, bằng bút pháp thơ  giản dị  mà   hàm súc, hồn nhiên mà đầy nghệ  thuật, Xuân Quỳnh qua bài thơ “Sóng” đã làm nổi bật   được vẻ đẹp và sức sống của tâm hồn người phụ  nữ  trong tình yêu – một tình yêu giàu   nữ tính, rất truyền thống mà cũng rất hiện đại.  
  5. BÀI MẪU SỐ 2: Khổ thơ thứ 5: “ Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” Đây là khổ  thơ  có số  lượng câu thơ  nhiều nhất trong bài, 6 câu thơ  đứng giữa bài  thơ, như một đợt sóng lòng cồn lên cao nhất từ  tâm điểm của bào thơ. 4 câu đầu cái tôi  trữ  tình nhập vào sóng để  giãi bày tâm sự. Hai câu sau cái tôi trữ  tình tách ra để  bày tỏ  lòng mình , nhập vào rồi tách ra như vậy tuy hai mà vẫn là một trong một dòng cảm xúc   tuôn chảy. ­ Âm điệu cùng nghệ thuật điệp từ, điệp câu đã miêu tả con sóng ở những tầng bậc   khác nhau trong không gian , trong thời gian. Con sóng trên mặt nước là con sóng dễ nhận  thấy. Con sóng dưới lòng sâu là sóng ngầm, sóng lòng. Và con sóng đã được nhân hóa.   Mạch cảm xúc thơ  vẫn từ  hình tượng sóng – con sóng trong không gian biển cả  . Nhịp   sóng như vang lên trong từng câu thơ. Con sóng cứ trở đi trở lại như một điệp khúc. Lời  thơ tràn ngập, dào dạt tiếng sóng, sóng biển và sóng lòng giăng mắc. Xuân Quỳnh ngẫm   về sóng là để nghĩ về mình, hiểu tình yêu của mình. ­ Con sóng có tâm trạng vơi đầy thương nhớ. Sóng nhớ bờ. Bờ là nơi đến của sóng.   Sóng và em như nhập vào nhau là một để diễn tả nỗi nhớ. Sóng nhớ bờ như em nhớ anh.   Nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định nỗi nhớ của mình khi xa cách người thương: “ Tả mây tả cát sao bằng Tả anh thương nhớ lòng giăng vạn trùng” ( Đêm trăng Hắc Hải) Xuân Quỳnh cũng vậy , bà đã nhập vào sóng để nói lên nỗi nhớ của mình: “ Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” ­ Sáu câu thơ trong một khổ thơ thì có hai câu người phụ nữ tự nói lên tình yêu của   mình đối với người mình yêu. Trên mượn sóng để nói hộ mình. Đến đây, tình yêu mãnh  
  6. liệt đã thôi thúc trái tim tự hát thành lời. Có tăng thêm ngôn ngữ, bài hát có tăng thêm nốt   nhạc điều ấy cũng là lẽ thường tình vì nỗi nhớ trong tình yêu không ngôn ngữ nào có thể  diễn tả hết được. Nhớ là biểu hiện của tình yêu, là thước đo của tình yêu. Người phụ nữ  trong bài thơ nhớ đến trăn trở, khắc khoải, day dứt không nguôi triền miên theo thời gian.  Trong giấc mơ vẫn còn niềm thao thức. Nỗi nhớ da diết thường trực vô tận trong lòng.  Câu thơ  không có một từ  “ yêu” mà vẫn toát lên một tình yêu cháy bỏng dạt dào. Đặc   biệt không phải là em nhớ, mà là “ lòng em nhớ” thế mới là sâu sắc. ­ Hai câu thơ là lời tự hát của một trái tim phụ nữ về tình yêu với người mình yêu.   Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ thật mãnh liệt , chủ động bày tỏ  tình cảm của   mình. Đó là vẻ đẹp của sự bạo dạn, mới mẻ, đắm say. Trái tim của người phụ nữ không   cần úp mở nữa. Nó đã đòi nói thật. c. Khổ thơ 6 + 7: “ Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương” ­ Xuân Quỳnh diễn tả thêm tình yêu của mình cho trọn vẹn. Hình như thể hiện tình   yêu bằng nỗi nhớ vẫn chưa yên tâm, mà phải diễn đạt sao đây cho đủ, cho đến tận cùng  nỗi nhớ vì thế hai khổ thơ này xuất hiện. ­ Khổ thơ có những cặp từ trái nghĩa : “ dẫu xuôi, dẫu ngược” để diễn tả cảnh ngộ  của người phụ nữ. Nhưng đọc lên nghe có vẻ không xuôi chiều. Dân gian hay nói: “ xuôi   nam ngược bắc”, Xuân Quỳnh đã diễn đạt ngược lại để  khẳng định: dù cuộc đời, trời   đất có thay đổi, có quay cuồng, đảo lộn, thay phương đổi hướng thì tình yêu của em cũng  chỉ dành cho một người là anh mà thôi. Đến đây trong lời thơ không còn em và sóng, chỉ  còn em và anh – với tình yêu: “ Chỉ còn em và anh Cùng tình yêu ở lại” ( Thơ tình cuối mùa thu) Câu thơ giống như một lời thề. Thề rằng dù em phải ngược xuôi vất vả gian truân,  lên thác xuống ghềnh cũng chỉ có anh là người duy nhất. Câu thơ giản dị mà sâu sắc hơn   tất cả  mọi lời vàng đá. Không gian thì có bốn phương tám hướng, nhưng tình yêu chỉ  chấp nhận một phương. Có lẽ đây cũng là quan niệm về tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh:   tình yêu phải gắn với lòng chung thủy. Tình yêu không đơn thuần là tình yêu mà tình yêu  đi liền với cái tốt, cái đẹp, cái cao cả  là nỗi nhớ  mãnh liệt, lòng thủy chung tuyệt đối.  
  7. Khổ  thơ  toát lên vẻ  đẹp của tình yêu đầy nữ  tính kín đáo, dịu dàng, táo bạo, mãnh liệt  bởi nhiều khát khao và đam mê nhưng vẫn giữ  được nét đẹp truyền thống của người   phụ nữ phương Đông và người phụ nữ Việt Nam yêu tha thiết, chân thành và luôn hướng  tới hôn nhân. Những câu thơ  như  được vắt ra từ  chính cuộc đời Xuân Quỳnh đầy đau  thương, mất mát, hụt hẫng về tình cảm. ­ Khổ  thơ  5 và 6 hình tượng sóng và em sóng đôi hòa làm một soi chiếu vào nhau  cộng hưởng. Sóng chính là nỗi lòng của em và em là hiện thân của sóng. Sóng và em  đồng hiện. Khổ thơ thứ 7 nhà thơ lại quay trở về với hình tượng sóng. Dù gió xô bão dạt   tới phương nào đi nữa cuối cùng sóng vẫn về với bờ. Đó là hiện thực, là qui luật: “ Ở ngoài kia đại dương Trăm nghìn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Hình như  khẳng định tình yêu chung thủy e chưa đủ, nên cảm xúc thơ  lúc này như  lắng xuống, nhập vào sóng để khẳng định thêm vẻ đẹp tình yêu của mình: có cách trở  ­   vẫn thủy chung trọn vẹn. Như vậy hành trình tình yêu của Xuân Quỳnh một người bạn   đồng hành là sóng, sóng góp phần nói thêm, bồi đắp thêm những cảm xúc thương yêu  cháy bỏng của nữ sĩ. ­ Hai khổ  thơ  có những câu thơ  gần nghĩa nhau, bổ  sung, bồi đắp cho nhau để  khẳng  định một  tình  yêu  bền vững:  “  Dẫu xuôi  về   phương  bắc”;  “  Dẫu ngược   về  phương nam” Và “ Dù muôn vàn cách trở” thì em vẫn “ hướng về  anh một phương”,   sóng thì “ con nào chẳng tới bờ”. Tình yêu vượt lên trên mọi không gian, thời gian, mọi  cách trở, mất còn để đi đến đích. Đúng như có một lần Xuân Quỳnh đã khẳng định: “ Sau sông sau biển sau thuyền Sau những chân trời bát ngát Sau bao điều cay cực nhất Anh là hạnh phúc đời em” ( Không bao giờ là cuối) Các khổ thơ 3 , 4, 5, 6 , 7 tập trung thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu  qua hình tượng sóng: + Sóng:  ­ Nỗi nhớ trong tình yêu da diết nồng nàn. ­ Tình yêu chung thủy hướng tới hạnh phúc trọn vẹn.
  8. ­ Tình yêu vượt qua mọi khó khăn trắc trở của cuộc đời. Các khổ  thơ tập trung diễn tả vẻ đẹp của một tâm hồn phụ  nữ  chân thật giãi bày   lòng mình, yêu tha thiết nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống.  
  9. BÀI MẪU SỐ 3: Đề  tài tình yêu là một đề  tài đã khiến cho rất nhiều thế  hệ  nhà văn, nhà thơ  tốn   nhiều giấy mực. Viết về  tình yêu, thì điều đặc biệt là viết về  nỗi nhớ, sự  thủy chung  trong tình yêu, nhưng có lẽ một nhà thơ nữ viết về tình yêu của chính những người phụ  nữ  thì ít thấy. Nhưng Xuân Quỳnh đã làm được điều đó qua bài thơ  Sóng­ Một bài thơ  tình hay nhất trong sự  nghiệp của chị. Khi nhắc về tình yêu, người ta không thể  không   nhắc tới nỗi nhớ  và sự  thủy chung nên trong Sóng chị  đã dành cho nỗi nhớ  và sự  thủy   chung một phần khá quan trọng trong hai khổ thơ: Con sóng dưới lòng sâu …. Hướng về anh một phương Khi nhắc đến Xuân Quỳnh, người đọc thường nhắc tới một giọng thơ  nồng hậu,   thiết tha lúc nào cũng khao khát và ngập tràn thương yêu. Tình yêu trong thơ chị lúc nào  cũng cồn cào, sâu sắc và mạnh mẽ, nhưng cũng không kém phần dịu dàng nữ  tính. Sóng  được chị  viết vào năm 1967 khi chị  còn rất trẻ  với một tâm hồn còn đầy rạo rực yêu   thương và tình yêu. Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào. Hai khổ  thơ  mà ta bình giảng trên nằm  ở  phần giữa bài thơ, nó nói lên nỗi nhớ  nhung của tình yêu và sự thủy chung. Hình tượng xuyên suốt bài thơ vẫn là hình tượng “Sóng” – Sóng ở  đây được Xuân   Quỳnh gửi vào đó cả tâm hồn người con gái khi đang yêu. Mượn sóng để nói đến người  phụ  nữ  và tình yêu của phụ  nữ, đây là việc Xuân Quỳnh đã từng làm trong Thuyền và   biển. Nhưng ở trong hai khổ thơ này Sóng là sóng của nhớ nhung, chung thủy. Ngay khổ thơ thứ nhất, Xuân Quỳnh với cách sử  dụng điệp cấu trúc, điệp từ  “con  sóng” và cách sử dụng tương quan đối lập "dưới lòng sâu”, đối lập với “trên mặt nước”  đã miêu tả  hai con sóng  ở  hai vị  trí khác nhau nhưng chúng cùng mang một nỗi “nhớ  bờ”… Tương quan đối lập được nói ở  trên khiến người đọc cảm nhận nỗi nhớ ấy như  mạnh mẽ, da diết hơn, nỗi nhớ ấy không chì hiện hữu trên mặt nước mà còn ở chiều sâu  từng mét nước. Dường như con sóng mang nỗi nhớ tràn ngập trong suốt bản thân mình.   Nỗi nhớ như thấm đẫm trên từng ngọn sóng tới chân sóng. Bởi vì sóng là hiện thân của  người con gái, là hiện thân của tình yêu mãnh liệt của người con gái nên ở đây ta có thể  hiểu nổi nhớ cũng đang tràn ngập trong lòng người con gái, nó hiện hữu qua khuôn mặt   buồn nhớ  qua tâm trạng sầu nhớ. Câu thơ  thứ  ba cất lên như  một tiếng thốt của tâm  trạng “Ôi con sóng nhớ bờ”. Phải nhớ thương nhiều lắm, nỗi nhớ phải da diết, nồng nàn  
  10. lắm thì mới có thể  thốt lên, mới có thể  gọi thành tên như  vậy. Từ  “Ôi” là từ  cảm thán   dược nhà thơ đưa lên đầu câu thơ càng khiến tứ thơ thêm mềm mại như tâm hồn người   con gái: Con sóng dưới lòng sâu  Con sóng trên mặt nước  Ôi con sóng nhớ bờ Xuân Quỳnh đã nhân hóa hình ảnh sóng khiến sóng như  một con người cụ thể với   những diễn biến tâm trạng sinh động. Chính vì vậy, nỗi nhớ của người phụ nữ qua hình  ảnh “sóng nhớ bờ” càng đậm nét. vẫn với cách nhân hóa hình tượng “sóng” ở câu thơ thứ  tư, Xuân Quỳnh đã đem tới một ý thơ  mới mẻ  “Ngày đêm không ngủ  được”. Trạng từ  chỉ thời gian “ngày đêm” cùng với đại từ phủ định “không” đã góp phần miêu tả một nỗi   nhớ dai dẳng, khôn nguôi luôn luôn thường trực cả trong ngày và đêm. Có lẽ khi tình yêu   đến, khi nỗi nhớ  trong tình yêu ngập tràn trong lòng, thì đó lại là điều không khó hiểu.  Nếu như   ở  khổ  thơ  này, nỗi nhớ  của người phụ  nữ  trong tình yêu được gián tiếp gửi  gắm qua hình tượng con sóng, thì ở hai câu cuối Xuân Quỳnh đã chính thức cất lên tiếng  nói nhớ nhung: Lòng em nhờ đến anh  Cả trong mơ còn thức Sóng “không ngủ  được”  ở  trên, đến đây hoàn toàn có thể  hiểu là người con gái   không ngủ được. Nỗi nhớ ở đây một lần nữa được tràn ngập trong lòng người con gái nó  hiển hiện trong cả lúc có nhận thức và cả  trong vô thức “lúc mơ”. Khổ  thơ  nói tới nỗi   nhớ, nhưng cũng góp phần miêu tả một tình yêu sâu sắc mãnh liệt với nhớ nhung là biểu   hiện rõ nét nhất của tình yêu. Khổ thơ tiếp theo Dẫu xuôi về phương Bắc  Dẫu ngược về phương Nam  Nơi nào em cũng nghĩ  Hướng về anh một phương Một lần nữa biện pháp điệp cấu trúc, cách sử dụng tương quan đối lập được Xuân  Quỳnh tận dụng để  nói tới sự  thủy chung trong tình yêu. “Dẫu” là một từ  có tính chất   phủ định dù có xa xôi cách trở, dù cách xa với những miền đất xa tắp “phương Bắc” hay   “phương Nam” thì trong lòng con sóng chỉ  có một phương là bến bờ, còn trong lòng  người phụ nữ thì chỉ có một phương hướng tới đó chính là tình yêu của mình, đó chính là  
  11. người yêu. Thủy chung là một đặc tính đặc biệt và hết sức cần thiết trong tình yêu, nó  cũng là đặc điểm của những người phụ  nữ  Việt Nam. Khi sử dụng cụm từ “nơi nào”,   Xuân Quỳnh đã như cất lên lời nguyện suốt đời chung thủy với người yêu, với anh. Nếu   như xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam là con đường thực tế nối những vùng  đất thì “Hướng về  anh một phương” là con đường gắn kết nối hai trái tim con người   đang tràn ngập yêu thương. Với hai khổ thơ, Xuân Quỳnh một lần nữa khắc họa tình yêu người phụ  nữ. Cách   sử  dụng các biện pháp tu từ, đối lập, tương phản, điệp, cách sử  dụng từ  cảm thán và   cách mượn hình tượng sóng đã góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm. Với thành công của mình, Sóng luòn xứng đáng là bài thơ  tình được mọi thế  hệ  thanh niên yêu thích.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản