intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT các tỉnh Đông nam bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục - thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
9
lượt xem
1
download

Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT các tỉnh Đông nam bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục - thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết cho thấy được sự đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng trong những năm qua đã có sự thay đổi lớn từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp giáo dục. Trước những yêu cầu mới của giáo dục đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông có đủ năng lực, tầm nhìn để quản lý sự thay đổi đó, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT các tỉnh Đông nam bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục - thực trạng và giải pháp

Vấn đề phát triển ...<br /> <br /> VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CBQL TRƯỜNG THPT<br /> CÁC TỈNH ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH<br /> ĐỔI MỚI GIÁO DỤC - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP<br /> <br /> <br /> Phan Minh Tiến*<br /> Phạm Ngọc Hải**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Sự đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng trong những năm<br /> qua đã có sự thay đổi lớn từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp giáo dục. Trước những yêu cầu<br /> mới của giáo dục đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông có đủ<br /> năng lực, tầm nhìn để quản lý sự thay đổi đó, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong điều<br /> kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.<br /> Từ khóa: Phát triển, trường THPT, cán bộ quản lý, đổi mới giáo dục<br /> <br /> SOME THOUGHTS ABOUT HIGH SCHOOL MANAGEMENT<br /> STAFF OF THE PROVINCES IN THE EAST OF THE<br /> SOUTH IN THE BACKGROUND OF EDUCATION<br /> INNOVATION - REALITY AND SOLUTIONS<br /> SUMMARY<br /> The innovation in education in general and in Upper Secondary School education in<br /> particular has had great changes from targets, contents to educational methods for the past years.<br /> With the new requirements of education, Upper Secondary School management staffs are required<br /> to be well-qualified with foresight to manage those changes, meeting the requirements of training<br /> human resources in the condition of local, socio - economic development.<br /> Key words: Development, secondary school, management staffs, education innovation.<br /> <br /> 1. Xu thế đổi mới giáo dục hiện nay<br /> 1.1. Xu thế đổi mới nền giáo dục<br /> Đổi mới giáo dục (GD) đang diễn ra trên<br /> quy mô toàn cầu. Bối cảnh đổi mới đó đã tạo<br /> nên những thay đổi sâu sắc trong GD, từ quan<br /> niệm về chất lượng GD, xây dựng nhân cách<br /> *<br /> <br /> người học đến cách tổ chức quá trình và hệ<br /> thống GD. Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển<br /> sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và<br /> gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học, công<br /> nghệ và ứng dụng, nhà giáo thay vì chỉ truyền<br /> đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người<br /> <br /> PGS.TS. Khoa Tâm Lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm. ĐH Huế. Email: tienpm58@gmail.com.<br /> ThS. Phòng Giáo dục và Đào tạo, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Email: phamngochai1967@gmail.com.<br /> <br /> **<br /> <br /> 73<br /> <br /> Taïp chí Kinh teá - Kyõ thuaät<br /> <br /> học phương pháp thu nhận thông tin một cách<br /> hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu<br /> tư cho GD từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội<br /> chuyển sang đầu tư cho phát triển. Vì vậy, các<br /> quốc gia, từ những nước đang phát triển đến<br /> những nước phát triển đều nhận thức được vai<br /> trò và vị trí hàng đầu của GD, đều phải đổi mới<br /> GD để có thể đáp ứng một cách năng động hơn,<br /> hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của<br /> sự phát triển đất nước.<br /> Sự đổi mới và phát triển GD đang diễn<br /> ra ở quy mô toàn cầu, tạo cơ hội tốt để GD<br /> Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu<br /> thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận,<br /> phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện<br /> đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để<br /> đổi mới và phát triển. Coi trọng việc trao đổi,<br /> học tập kinh nghiệm phát triển GD của các<br /> nước tiên tiến, trước hết là các nước trong khu<br /> vực; đổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung,<br /> phương pháp của quá trình GD; tăng cường<br /> đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học;<br /> xây dựng bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán<br /> bộ quản lý giáo dục (CBQLGD); tăng cường<br /> công tác quản lý, xã hội hóa GD, đa dạng hóa<br /> các loại hình GD.<br /> Đổi mới GD nhằm đáp ứng yêu cầu về<br /> con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết<br /> định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công<br /> nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), cần<br /> tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện về<br /> GD. Vì vậy, cần phải: tạo bước chuyển biến<br /> cơ bản về chất lượng GD theo hướng tiếp cận<br /> với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với<br /> thực tiễn GD Việt Nam; ưu tiên nâng cao chất<br /> lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng<br /> nhân lực, khoa học công nghệ trình độ cao,<br /> CBQL, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật<br /> lành nghề. Trong đó, đổi mới QLGD tạo cơ sở<br /> pháp lý và phát huy nội lực để phát triển GD.<br /> <br /> Tóm lại, đổi mới GD để phát huy những<br /> lợi thế, vượt qua thách thức, tranh thủ thời<br /> cơ xây dựng một nền GD tiên tiến, hiện đại,<br /> hướng tới một xã hội học tập, nhằm đáp ứng<br /> nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao<br /> phẩm chất toàn cầu của con người Việt Nam<br /> trong thời đại mới. Đứng trước yêu cầu đổi<br /> mới nêu trên, xã hội đặt ra yêu cầu cao đối với<br /> năng lực và phẩm chất của người CBQLGD,<br /> trong đó đổi mới công tác QLGD là quan<br /> trọng nhất. Ngành GD – ĐT phải không<br /> ngừng xây dựng và nâng cao chất lượng đội<br /> ngũ nhà giáo và CBQLGD để đáp ứng với<br /> những đặc điểm của thời đại ngày nay.<br /> 1.2. Xu thế đổi mới GDTHPT<br /> Đổi mới mục tiêu GD phổ thông là giúp<br /> học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí<br /> tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản<br /> nhằm hình thành nhân cách con người Việt<br /> Nam XHCN. Đổi mới nội dung GD: xây<br /> dựng nội dung dạy học theo hai xu hướng:<br /> xây dựng chương trình cốt lõi với các yêu cầu tối<br /> thiểu về tri thức và kỹ năng; tích hợp các môn<br /> học cổ truyền, hình thành các môn học mới<br /> như: khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn,<br /> khoa học phục vụ đời sống và gia đình.<br /> Đổi mới phương pháp GD THPT: xu<br /> hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay<br /> là cải tiến các phương pháp dạy học truyền<br /> thống theo hướng tác động vào thái độ học;<br /> tăng cường khả năng làm việc độc lập; chủ<br /> động và khả năng tự học của HS; thử nghiệm<br /> các phương pháp dạy học hiện đại để xác định<br /> mức độ phù hợp với đối tượng và điều kiện,<br /> hoàn cảnh cụ thể nhằm xác định và điều chỉnh<br /> cách sử dụng cho có hiệu quả.<br /> Từ những yêu cầu đổi mới trên, người<br /> Hiệu trưởng nhà trường THPT phải có đủ<br /> năng lực, tầm nhìn để quản lý sự thay đổi<br /> đó.<br /> 74<br /> <br /> Vấn đề phát triển ...<br /> <br /> 2. Thực trạng đội ngũ CBQL trường<br /> THPT các tỉnh Đông Nam Bộ<br /> 2.1. Thực trạng về số lượng, trình độ đào<br /> tạo đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh<br /> Đông Nam Bộ<br /> Với hệ thống 90 trường THPT công lập<br /> phân bổ trong 3 tỉnh Đông Nam Bộ, được<br /> phân bổ từ đồng bằng, thành thị đến miền<br /> núi, các Sở GD – ĐT đã tham mưu cho Ủy<br /> ban nhân dân tỉnh bố trí khá đầy đủ đội ngũ<br /> GV và CBQL cho các đơn vị. Đồng thời, để<br /> phát triển sự nghiệp GD, các tỉnh đã triển<br /> khai nhiều giải pháp phát triển đội ngũ nhà<br /> giáo và CBQLGD nói chung, đội ngũ CBQL<br /> trường THPT nói riêng. Do đó, đội ngũ CBQL<br /> trường THPT đã được tăng cường về số lượng<br /> lẫn chất lượng, có những bước phát triển về<br /> trình độ chuyên môn và năng lực quản lý nhà<br /> trường, cơ bản đáp ứng được các tiêu chí của<br /> chuẩn. Tuy nhiên, đứng trước tình hình phát<br /> triển rất nhanh về kinh tế - xã hội (KT - XH),<br /> sự đô thị hóa của các tỉnh Đông Nam Bộ nên<br /> đội ngũ CBQL trường THPT vẫn còn nhiều<br /> bất cập.<br /> Hiện nay, CBQL các trường THPT công<br /> lập cần có là 329 người. Như vậy, số lượng<br /> CBQL trường THPT còn thiếu, cần được bổ<br /> sung 50 người. Nguyên nhân: một số nghỉ hưu<br /> trước tuổi do năng lực hạn chế, do sức khỏe<br /> yếu; một số chuyển công tác khác theo yêu<br /> cầu của địa phương và do công tác quy hoạch,<br /> tạo nguồn từ cơ sở còn chậm so với yêu cầu.<br /> yy Về trình độ đào tạo: CBQL trường<br /> THPT đạt chuẩn 100%, trong đó trên chuẩn<br /> 22,6%, cho thấy đội ngũ CBQL luôn phấn đấu<br /> học tập nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu<br /> phát triển của thời kỳ hội nhập nhằm nâng cao<br /> chất lượng GD – ĐT trong khu vực của vùng<br /> kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, tạo<br /> điều kiện liên kết mở rộng đào tạo quốc tế,<br /> <br /> xứng tầm cùng với thành phố Hồ Chí Minh<br /> và Đồng Nai, tạo thành trung tâm GD – ĐT và<br /> nghiên cứu khoa học lớn của khu vực Đông<br /> Nam Bộ và của Việt Nam vào năm 2020. Tuy<br /> nhiên, qua khảo sát thực tế, theo dõi trong<br /> công tác quản lý chỉ đạo và kết quả từng mặt<br /> khi đánh giá CBQL theo chuẩn vẫn còn một<br /> số CBQL tuy đã có trình độ đào tạo đạt chuẩn<br /> nhưng vẫn còn bất cập ở khả năng xây dựng<br /> các kế hoạch dài hạn, khả năng xây dựng kế<br /> hoạch chiến lược, xây dựng chương trình, đề<br /> án để triển khai các mục tiêu lớn của ngành.<br /> yy Về lý luận chính trị, nghiệp vụ quản lý,<br /> tin học, ngoại ngữ<br /> Qua khảo sát thực trạng, tỉ lệ CBQL đa số<br /> có trình độ trung cấp chính trị trở lên (89,2%),<br /> số còn lại cần được tiếp tục bồi dưỡng (chiếm<br /> 10,8%). Về nghiệp vụ quản lý: số CBQLGD<br /> chưa qua bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD và<br /> quản lý nhà nước còn khá cao (QLGD chiếm<br /> 16,1%; quản lý nhà nước chiếm 29,7%),<br /> chứng tỏ khâu quy hoạch, dự nguồn, đào tạo,<br /> bồi dưỡng trước khi đề bạt, bổ nhiệm còn bất<br /> cập. Hầu hết CBQL đều có trình độ A tin học,<br /> trình độ B còn ít, bên cạnh đó còn một số ít<br /> chưa đạt chuẩn về tin học. Về ngoại ngữ từ<br /> trình độ A trở lên chiếm tỉ lệ 59,5% (trong đó,<br /> trình độ B, C và Cử nhân rất ít), còn lại 40,5%<br /> chưa đạt yêu cầu chuẩn.<br /> Đây là nguyên nhân dẫn đến một số CBQl<br /> chưa xử lý tốt tình huống QLGD trong thực<br /> tiễn quản lý ở các nhà trường. Một số CQBL<br /> chưa quan tâm công tác GD chính trị cho đội<br /> ngũ cán bộ giáo viên (GV), chưa triển khai tốt<br /> ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý,<br /> khai thác, thu thập thông tin, dữ liệu phục vụ<br /> công tác chỉ đạo, vì vậy các Sở GD – ĐT và cá<br /> nhân CBQL phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng<br /> nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh<br /> CQBL (trước, trong và sau khi bổ nhiệm).<br /> 75<br /> <br /> Taïp chí Kinh teá - Kyõ thuaät<br /> <br /> 2.2. Thực trạng về cơ cấu đội ngũ CBQL<br /> trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ<br /> yy Về cơ cấu độ tuổi: độ tuổi của CBQL<br /> trường THPT có sự phân bố không hợp lý,<br /> đối tượng cao tuổi và trẻ tuổi có tỉ lệ chênh<br /> lệch nhau: trên 50 tuổi chiếm 30,1%; dưới 30<br /> tuổi chiếm 3,6%; độ tuổi từ 31 đến 40 chiếm<br /> 38,7%; từ 41 đến 50 tuổi chiếm 27,6%. Sự<br /> phân hóa không hợp lý các thế hệ CBQL<br /> trường THPT không bảo đảm tính kế thừa<br /> giữa các thế hệ, không bảo đảm cho sự ổn<br /> định. Cần phải tăng cường trẻ hóa đội ngũ để<br /> thích ứng với điều kiện phát triển KT – XH<br /> hiện nay.<br /> yy Về cơ cấu giới tính: đội ngũ CBQL<br /> trường THPT chưa đảm bảo cân đối về giới<br /> tính, tỉ lệ nữ chỉ chiếm 13,3%, trong khi đó tỉ<br /> lệ nam chiếm 86,7%. Đặc biệt những trường<br /> ở vùng biên giới giáp ranh Campuchia (Tây<br /> Ninh, Bình Phước), vùng miền núi (Bình<br /> Phước) tỉ lệ nữ lại càng thấp hơn, trong khi tỉ<br /> lệ GV nữ các trường THPT lại cao (68%). Để<br /> giải quyết thực trạng này các Sở GD – ĐT cần<br /> chú trọng và làm tốt hơn công tác quy hoạch,<br /> đào tạo, bồi dưỡng đối với GV nữ.<br /> yy Về cơ cấu dân tộc: Về cơ cấu dân tộc,<br /> tỉ lệ CBQL là người dân tộc thiểu số còn rất ít<br /> so với tỉ lệ GV dân tộc thiểu số của các trường<br /> THPT. Đây là vấn đề đặt ra trong công tác đào<br /> tạo tuyển dụng, sử dụng GV là người dân tộc<br /> thiểu số trong những năm qua. Cần bổ sung<br /> CBQL là người dân tộc để có điều kiện phát<br /> triển GD ở vùng núi, vùng biên giới, vùng đặc<br /> biệt khó khăn để tiến tới thực hiện phổ cập<br /> GD trung học trong khu vực theo đề án phát<br /> triển GD của các tỉnh đến năm 2015 và 2020.<br /> yy Về cơ cấu bộ môn: bộ môn của CBQL<br /> được đào tạo trước khi bổ nhiệm có sự phân<br /> bố không đồng đều giữa bộ môn tự nhiên và<br /> bộ môn xã hội, CBQL ở bộ môn tự nhiên chỉ<br /> <br /> chiếm 23,7% trong khi đó ở bộ môn xã hội<br /> chiếm 76,3%. Do đó trong công tác bổ nhiệm<br /> CBQL yêu cầu chú trọng đến sự cân đối giữa<br /> bộ môn tự nhiên và xã hội nhằm tạo điều kiện<br /> thuận lợi trong công tác chỉ đạo chuyên môn<br /> của các nhà trường.<br /> yy Về thời gian giảng dạy trước khi bổ<br /> nhiệm: đội ngũ CBQL trường THPT đều<br /> được phát triển từ GV giảng dạy, số CBQL<br /> trước khi bổ nhiệm dạy 3 đến 5 năm chiếm<br /> tỉ lệ 0%; 5 đến 10 năm chiếm 19,4%; trên 10<br /> năm chiếm 80,6%. Qua khảo sát thực trạng<br /> cho thấy CBQL có thâm niên giảng dạy chiếm<br /> tỉ lệ rất lớn trước khi được bổ nhiệm, điều này<br /> cũng giải thích vì sao có nhiều CBQL ở độ<br /> tuổi từ 41 đến 50 chiếm đa số nhưng thời gian<br /> tham gia làm CBQL thì lại ngắn.<br /> 2.3. Thực trạng về phẩm chất chính trị,<br /> đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ CBQL<br /> trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ<br /> Đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh<br /> Đông Nam Bộ có lập trường, tư tưởng vững<br /> vàng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối và<br /> chính sách của Đảng, Nhà nước, các quy định<br /> của ngành và của địa phương, có khả năng<br /> phân tích đúng, sai và thể hiện rõ quan điểm<br /> trước sự thay đổi. Có đạo đức, lối sống tốt,<br /> trung thực, thẳng thắn, có trách nhiệm cao<br /> trong công tác, vượt qua khó khăn để vươn<br /> lên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Gương<br /> mẫu trong lối sống và hành động, sống giản<br /> dị, quan hệ gần gũi, chân tình, cởi mở, tôn<br /> trọng đồng nghiệp, yêu thương HS, giữ gìn uy<br /> tín nhà giáo. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một<br /> bộ phận CBQL hạn chế về tác phong làm việc<br /> và giao tiếp, ứng xử, chưa đáp ứng được yêu<br /> cầu đổi mới QLGD.<br /> 2.4. Thực trạng về năng lực chuyên môn<br /> và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ CBQL<br /> trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ<br /> 76<br /> <br /> Vấn đề phát triển ...<br /> <br /> Đội ngũ CBQL trường THPT nắm được<br /> chương trình, phương pháp đặc trưng của các<br /> môn học, đã chỉ đạo đổi mới nội dung, phương<br /> pháp giảng dạy phù hợp với HS các vùng miền<br /> trong khu vực Đông Nam Bộ, từng bước nâng<br /> cao chất lượng dạy và học. Tuy nhiên, ý thức<br /> học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học còn<br /> hạn chế, một bộ phận CBQL kiến thức, năng lực<br /> chuyên môn, năng lực tự học, sáng tạo, đổi mới<br /> còn ở mức thấp, chưa đáp ứng được đổi mới căn<br /> bản, toàn diện của GD hiện nay.<br /> 2.5. Thực trạng về năng lực quản lý nhà<br /> trường của đội ngũ CBQL trường THPT các<br /> tỉnh Đông Nam Bộ<br /> Hầu hết CBQL trường THPT đã nắm được<br /> nguyên tắc quản lý, có khả năng giải quyết<br /> các tình huống trong thực tiễn, xây dựng được<br /> môi trường học tập thân thiện, có khả năng<br /> quản lý hành chính văn phòng, quản lý tốt<br /> hoạt động của tổ chuyên môn và giảng dạy<br /> của giáo viên, tập hợp được cán bộ, GV để<br /> xây dựng tập thể đoàn kết nhất trí cao, thực<br /> hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Bên cạnh những<br /> kết quả đạt được, đội ngũ CBQL trường<br /> THPT vẫn còn một số hạn chế: khả năng phân<br /> tích, dự báo chưa tốt, chưa xây dựng được kế<br /> hoạch chiến lược, tình trạng mất mát tài sản,<br /> lãng phí của công, lãng phí tài chính còn xảy<br /> ra ở một số đơn vị trường học.<br /> 3. Thực trạng công tác phát triển đội<br /> ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ<br /> thông các tỉnh Đông Nam Bộ<br /> Thực hiện đề án nâng cao chất lượng nhà<br /> giáo và CBQL, các Sở GD – ĐT các tỉnh<br /> Đông Nam Bộ đã triển khai nhiều giải pháp<br /> phát triển đội ngũ CBQL trường THPT, do đó<br /> đội ngũ CBQL ngày càng được tăng cường số<br /> lượng và chất lượng. Tuy nhiên, hiệu quả của<br /> các giải pháp đang thực hiện được đánh giá<br /> chưa cao.<br /> <br /> Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT<br /> bao gồm các nội dung: quy hoạch, đào tạo, bồi<br /> dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển,<br /> đánh giá, tạo điều kiện…, nhằm tạo ra những<br /> thay đổi về số lượng và chất lượng của đội<br /> ngũ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng các trường<br /> THPT đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong bối<br /> cảnh đổi mới GD hiện nay.<br /> 3.1. Công tác xây dựng kế hoạch, quy<br /> hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý<br /> trường trường trung học phổ thông<br /> “Công tác xây dựng kế hoạch, quy<br /> hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường<br /> THPT”: trong những năm qua, công tác<br /> xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển<br /> đội ngũ CBQL nói chung của các tỉnh Đông<br /> Nam Bộ và quy hoạch CBQL của ngành GD<br /> – ĐT nói riêng được các cấp quan tâm. Tuy<br /> nhiên, một số ít đơn vị trường học, quy trình<br /> quy hoạch cán bộ chưa thống nhất, số lượng<br /> cán bộ được quy hoạch vào các chức danh<br /> chưa cụ thể, công tác quy hoạch chưa tuân<br /> thủ quy trình chung theo văn bản hướng dẫn<br /> của Đảng.<br /> Công tác quy hoạch CBQL cấp THPT tuy<br /> được Sở GD – ĐT chỉ đạo khá cụ thể, nhưng<br /> nhiều đơn vị vẫn thực hiện chưa đạt yêu cầu,<br /> do đó nguồn CBQL chưa được bổ sung đầy đủ<br /> theo quy định, số CBQL là phó Hiệu trưởng<br /> các trường THPT còn thiếu nhiều, CBQL<br /> người dân tộc chưa được quan tâm, nguồn bổ<br /> sung phó Hiệu trưởng cho các trường THPT<br /> bị hẫng hụt, lúng túng khi cần bổ sung CBQL<br /> cho các trường.<br /> 3.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ<br /> cán bộ quản lý các trường trung học phổ<br /> thông các tỉnh Đông Nam Bộ<br /> Kết quả đạt được ở mức độ tốt, tuy nhiên<br /> ở một số trường còn có các hạn chế ở việc<br /> chỉ đạo, quản lý việc đào tạo nâng chuẩn về<br /> 77<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản