Viết cho luật sư tập sự
Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối
chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong
tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày
hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình
bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ.
Và luật pháp làm việc đó.
I. Biết điều “bí mật” của luật pháp
Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối
chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm
lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay;
lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho
con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm
việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này
được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.
Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng
các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết
bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)
Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng
phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc,
công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công
việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng.
Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”. Ta đi vào từng cái.
A. Ấn định trách nhiệm
Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt
hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ
ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và
mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm.
Thí dụ, bạn – là B – đang quét sân trước cửa nhà mình, thì gió thổi làm cho
chậu hoa của người hàng xóm – là A – rơi vào đầu bạn. Bạn bị chảy máu đầu
rồi thấy nhức đầu. Trước lúc chậu hoa rơi, bạn lành lặn, không đau đớn chỗ
nào. Đấy là trật tự đã có. Khi chậu hoa rơi vào đầu bạn thì trật tự kia đã bị vi
phạm. Vậy ông A phải đền tiền cho bạn để đi khâu chỗ da bị rách; uống
thuốc cho hết đau…; nghĩa là lập lại cái trật tự đã bị vi phạm. Trách nhiệm
của A được luật gọi là trách nhiệm dân sự. Đến đây, bạn sẽ bảo tôi: “Cái này
tôi biết thừa rồi!” Tôi nhắc nó lại ở đây để bạn nhớ trách nhiệm là gì, nó phục
vụ ai và mục đích gì. Tôi đã thấy câu “chịu trách nhiệm trước pháp luật” ở
mẫu hợp đồng công chứng (dân sự) nên nhân thể nhắc các bạn đừng phạm
như người đứng ra làm… mẫu cho ta.
Trên cuộc đời này có nhiều trật tự lắm và chúng nằm trong những lãnh vực
khác nhau. Thí dụ, trật tự trong buôn bán, thuê nhà, làm việc, vay mượn tiền,
sử dụng điện thoại, đầu tư, môi trường… Mỗi việc đó được luật gọi là hành
vi bị điều chỉnh; nhưng nó là một giao dịch trong cuộc sống hàng ngày. Và ta
sẽ gọi nó như thế. Trong sách vở, giao dịch được gọi là quan hệ xã hội, mối
tương quan pháp lý… Tuy ba nhưng mà một. Khi nói chuyện với khách, bạn
phải thoát khỏi sách vở để nói cho họ dễ hiểu. Bạn không thoát được sách vở
thì bạn chưa biết luật! Và sợ nói sai.
Trong mỗi giao dịch có ít ra hai người can dự, và người nọ có thể gây thiệt
hại cho người kia. Để mỗi giao dịch diễn biến suôn sẻ, đạt được mục đích của
các bên; luật quy định nội dung giao dịch (gọi là hành vi điều chỉnh) và mỗi
bên can dự phải làm gì (đối tượng điều chỉnh). Chuyển ra thực tế thì khi một
bên làm, bên kia được hưởng; vậy bên làm có trách nhiệm, còn bên hưởng có
quyền lợi; cả hai bên đều có những trách nhiệm và những quyền lợi nhất
định. Ai không thực hiện trách nhiệm của mình thì người ấy làm thiệt hại
người kia. Thí dụ, trong hợp đồng mua bán tài sản, bên mua không trả tiền thì
bên bán bị thiệt hại. Và trong thực tế bạn biết người sau sẽ làm gì. Luật pháp
từ chữ nghĩa chuyển sang thực tế là như thế. Bạn cần nhớ “cặp đôi” này vì nó
là bước đầu để vận dụng luật pháp.
Luật ấn định đối tượng điều chỉnh tức là định ra người thực hiện giao dịch.
Từ đó – trong thực tế – mỗi người có một “tư cách”. Và ở trong mỗi tư cách,
người ta có trách nhiệm lẫn quyền lợi. Bạn nhớ, trách nhiệm của người này
tạo nên quyền lợi cho người kia. Ấn định “tư cách” là một kỹ thuật của luật
pháp.
Danh từ “tư cách” trong luật khác ý nghĩa với “tư cách” trong luân lý. Cái
trước là vị trí của mỗi người trong một giao dịch; cái sau là cách thức cư xử
hay hành vi của một người nhất định (có triết gia gọi là cử thái, tiếng Anh là
“behavior”). Tư cách theo nghĩa luân lý cho biết một người nào đó có đàng
hoàng, đứng đắn hay không. Thí dụ như bạn nói “Ông ấy có tư cách”. Thế
nhưng cũng nói câu y chang trong lãnh vực luật pháp thì nó có ý nghĩa ông
ấy ở trong một vị trí nhất định và có quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp. Khi học
ở trường luật, tư cách của một người được gọi là “địa vị pháp lý”. Từ ngữ này
cho thấy bạn đứng từ ngoài và nói về một người khác không dính dáng gì tới
bạn.
Khi hành nghề ta phải đi tìm tư cách của khách hàng mình trong giao dịch
liên quan, để xác định trách nhiệm rồi quyền lợi của họ. Đó là “lợi ích hợp
pháp” của họ mà họ thuê bạn… bảo vệ. Bạn dùng danh từ “tư cách” thì dễ
nhập vào làm một với họ trong suy nghĩ của mình.
B. Quy định giao dịch
Giao dịch xuất phát từ hai nguồn gốc. Một là sinh hoạt tự nhiên của dân
chúng trong xã hội như buôn bán, làm nhà, chơi hụi, sinh con đẻ cái. Hai là
những hoạt động do luật pháp đặt ra hay thiết lập vì chúng cần thiết cho sinh
hoạt của xã hội, nhưng chưa tồn tại, hay chỉ mới manh nha trong thực tế. Thí
dụ, trước năm 1987, ở ta không có người nước ngoài đầu tư; sau đó Quốc hội
ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và lập ra công ty liên doanh.
Sau này luật thiết lập thị trường chứng khoán rồi sàn giao dịch bất động
sản…
Về các sinh hoạt tự nhiên vốn đã có từ lâu trong đời sống xã hội, thì luật pháp
“điều chỉnh” chúng; nghĩa là luật xác định chúng; bằng cách định nghĩa
chúng là gì, thực hiện thế nào; các bên liên quan làm gì, trách nhiệm ra sao…
Thí dụ Bộ Luật Dân sự năm 1995 của ta (LDS).
Đối với các giao dịch chưa có hay mới manh nha xuất hiện trong đời sống xã
hội, thì luật đặt ra chúng rồi điều chỉnh chúng giống như các hoạt động đã có
sẵn. Tuy nhiên, trong trường hợp này luật thường dễ thay đổi để cho phù hợp
với cuộc sống hơn, hay để đáp ứng với các điều kiện mới.
Luật xác định hay đặt ra các giao dịch theo nhu cầu của cuộc sống; nhưng các
luật gia luật phân loại chúng thành quy phạm, chế định, ngành luật tạo để nên
hệ thống luật, hầu giúp chúng ta dễ nhớ khi học.
Tóm lại, hai kỹ thuật luật pháp sử dụng là đặt ra các giao dịch, rồi ấn định tư
cách của các người thực hiện giao dịch đó. Và đó là chữ nghĩa.
C. Luật đi vào cuộc sống
Trong cuộc sống hàng ngày mỗi người có nhiều tư cách. Thí dụ, ở nhà với bố
mẹ, ông A là con (Luật Hôn nhân gia đình; quan hệ huyết thống); đến trường
dạy học ông ta là thầy giáo, hiệu trưởng (Luật Giáo dục, quan hệ hành chính);
ra chợ mua hàng thì là người mua (Luật Dân sự – quan hệ mua bán). Luật gọi
là các bên; nhưng khi vận dụng luật ta phải chuyển mỗi bên thành một “tư
cách”. Thí dụ, đọc thấy bên mua (hay Bên A) trong hợp đồng mua bán, thì
bạn phải đổi họ thành “người mua”, hay “người bán. Như vậy, là khám phá ra
“bí mật” của luật pháp! Tất nhiên, bạn có thể nói: “Tôi gọi là bên mua, bên
bán; còn ông gọi là người mua, người bán, thế thì có khác gì nhau?” Tất
nhiên là không, nhưng nếu có nhiều bên khác tham gia thì tiếng “bên” sẽ dễ
làm bạn lẫn lộn trong suy nghĩ, và không nhận ra ngay bổn phận và quyền lợi
của mỗi người. Luật sư phải suy nghĩ rạch ròi.
Trong thí dụ chậu hoa rơi, bạn là chủ nhà, mua chậu hoa về để trên ban công
lúc chiều, đến đêm nó rơi vào đầu ông hàng xóm. Ở đây, khi đứng ở vị trí của
chậu hoa kia mà nói, bạn là “ông chủ chậu hoa”. Bạn không còn là “ông chủ
nhà”! Phải là chủ chậu hoa thì mới bắt bạn đền được; còn nếu nói bạn là “chủ
nhà” thì bạn sẽ chối ngay “tôi chẳng dính dáng gì đến chậu hoa cả!” Khi là
“chủ chậu hoa” thì lúc đền, tư cách của bạn thành “người gây thiệt hại” và
phải bồi thường cho nạn nhân. Bạn thấy không, chỉ trong một hoàn cảnh đơn
giản như vậy, bạn có ba tư cách; mỗi tư cách làm cho bạn có nghĩa vụ và
quyền lợi khác nhau. Việc bồi thường của bạn được quy định trong LDS về