intTypePromotion=3

Bài giảng Pháp Luật Việt Nam đại cương: Bài 6 - Th.S Vũ Thị Bích Hường

Chia sẻ: Anh Nguyễn | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:20

0
42
lượt xem
4
download

Bài giảng Pháp Luật Việt Nam đại cương: Bài 6 - Th.S Vũ Thị Bích Hường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mời các bạn nội dung bài giảng bài 6 "Khái quát về luật dân sự, luật tố tụng dân sự" để nắm bắt được các kiến thức về luật dân sự, luật tố tụng dân sự. Hi vọng bài giảng này sẽ giúp ích cho các trong việc học tập cũng như ôn thi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Pháp Luật Việt Nam đại cương: Bài 6 - Th.S Vũ Thị Bích Hường

  1. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM Bài 6: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ A. LUẬT DÂN SỰ I/ Khái niệm luật dân sự, đối tượng và phương pháp điều chỉnh. 1­  Khái niệm : Luật dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật, điều chỉnh  các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ  và một số quan hệ nhân thân  trên cơ sở bình đẳng, độc lập, quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia   vào các quan hệ đó. 2­  Đối tượng điều chỉnh : Luật dân sự điều chỉnh những nhóm quan hệ sau   đây: +Quan hệ  tài sản: Là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản  dưới dạng một tư liệu sản xuất, một tư liệu tiêu dùng hoặc dịch vụ tạo ra một   tài sản nhất định. Tài sản trong luật dân sự  VN được hiểu theo nghĩa rộng, bao  gồm: Tài sản, quyền về tài sản và nghĩa vụ về tài sản. Do vậy, quan hệ tài sản  do luật dân sự VN điều chỉnh rất phong phú và đa dạng. +Quan hệ nhân thân: là quan hệ giữa người với người không mang tính kinh  tế, không tính được thành tiền, nó phát sinh do một giá trị tinh thần gắn liền với   một người hoặc một tổ chức và không chuyển dịch được. Ví dụ: Quyền được đứng tên trên các tác phẩm văn học nghệ  thuật, công trình   mà người đó là tác giả; Quyền về nhãn hiệu hàng hóa của một doanh nghiệp.  Quan hệ nhân thân được chia thành 2 loại:  Quan hệ  nhân thân không liên quan đến tài sản là những quan  hệ  gắn liền với tên gọi, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân  hoặc của một tổ chức nhất định (các giá trị này không làm phát sinh   ở chủ thể lợi ích vật chất).  Quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản là những quan hệ là  cơ sở làm phát sinh quan hệ tài sản. Ví dụ: Quyền tác giả, quyền phát minh sáng chế.  Ở  đây quan hệ  nhân  thân là cơ  sở  khẳng định người sáng tạo ra tác phẩm, phát minh sáng   chế… là tác giả của tác phẩm. Đây là quyền nhân thân không thể tách rời,  chuyển dịch của người sáng tạo. Nhưng đồng thời với việc được thừa  nhận là tác giả của tác phẩm, người đó được trả tiền tác giả. Như vậy lợi   ích vật chất ở đây xuất phát từ một quan hệ nhân thân có trước. 3­  Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự : Là những biện pháp, cách  thức mà nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân làm   cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt. Phương pháp điều chỉnh của lụât dân sự có đặc điểm:  Bảo đảm sự  bình đẳng về  mặt pháp lý giữa các chủ  thể  tham   gia quan hệ pháp luật dân sự.  Bảo đảm quyền tự  định đoạt của các chủ  thể  trong việc tham   gia vào các quan hệ tài sản do các chủ thể tự quyết định. Trang 1 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  2. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM  Xuất phát từ sự bình đẳng của các chủ thể, quyền tự  định đoạt   của các chủ thể trong việc tham gia vào các quan hệ đó nên đặc   trưng của các tranh chấp dân sự là hòa giải hoặc tự thỏa thuận   của các bên. Nếu không thỏa thuận được họăc không hòa giải  được thì xét xử  theo thủ  tục tố tụng dân sự  thuộc thẩm quyền  của tòa án. 4­  Chủ   thể  của  luật dân sự : là  cá  nhân  (  công  dân,  người nước  ngoài,  người không quốc tịch), pháp nhân, Nhà nước, hộ  gia đình, tổ  hợp tác theo quy  định của luật dân sự. 4.1 Đối với cá nhân, để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân   phải có năng lực chủ thể (năng lực pháp luật, năng lực hành vi) Theo luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân được qui định như sau:  Năng lực hành vi dân sự của người thành niên (người từ  đủ  18  tuổi trở lên và có sự phát triển bình thường về trí tuệ) có năng   lực hành vi dân sự đầy đủ.  Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên:   Người chưa đủ  6 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự. Mọi   giao dịch dân sự của người chưa đủ  6 tuổi đều phải do người đại  diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.   Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các  giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.   Người từ  đủ  15 tuổi đến chưa đủ  18 tuối có tài sản riêng đủ  để  bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ  thì có thể  tự  mình xác lập và   thực hiện giao dịch dân sự.  Mất năng lực hành vi dân sự: Người bị bệnh tâm thần hoặc   mắc các bệnh khác mà không thể  nhận thức, làm chủ  hành vi  của mình, thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên  quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố  mất năng lực hành vi dân  sự  trên cơ  sở  kết luận của cơ  quan nhà nước có thẩm quyền.  Mọi giao dịch dân sự  của người mất năng lực hành vi dân sự  đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.  Hạn chế  năng lực hành vi dân sự: Người nghiện ma túy hoặc  nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia  đình, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ  quan tổ  chúc hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố là người   bị  hạn chế  năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự  liên  quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự  phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. 5. Quyền nhân thân: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự là quyền dân sự gắn  liền với mỗi cá nhân, không thể  chuyển giao cho người khác, trừ  những  trường hợp được pháp luật qui định: Bao gồm: 5.1 Quyền đối với họ tên; 5.2 Quyền thay đổi họ tên; Trang 2 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  3. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM 5.3 Quyền xác định dân tộc; 5.4 Quyền được khai sinh; 5.5 Quyền được khai tử; 5.6 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh; 5.7 Quyền được bảo đảm an toàn vê tính m ̀ ạng, sức khoẻ, thân thể; 5.8 Quyền hiến bộ phận cơ thể; 5.9 Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết; 5.10 Quyền nhận bộ phận cơ thể người; 5.11 Quyền xác định lại giới tính; 5.12 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín;  5.13 Quyền bí mật đời tư; 5.14 Quyền kết hôn; 5.15  Quyền bình đẳng của vợ chồng; 5.16   Quyền  được hưởng sự  chăm sóc giữa các thành viên trong gia  đình;  5.17 Quyền ly hôn;  5.18 Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; 5.19  Quyền đối với quốc tịch;  5.20 Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở;  5.21 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 5.22  Quyền tự do đi lại,tự do cư trú; 5.23  Quyền lao động;  5.24 Quyền tự do kinh doanh;  5.25 Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo. 6 Tài sản: Bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Các loại tài sản:  Bất động sản;  Động sản;  Hoa lợi;  Lợi tức;  Vật chính và vật phụ;  Vật chia được và vật không chia được;  Vật tiêu hao và vật không tiêu hao;  Vật cùng loại và vật đặc định;  Vật đồng bộ.   Quyền tài sản:Là quyền trị  giá được bằng tiền và có thể  chuyển  giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. II/ Một số chế định  quan trọng của luật dân sự. 1­Chế định quyền sở hữu. 1.1 Khái niệm: Sở  hữu là một phạm trù kinh tế hình thành và tồn tại khách quan, phản ánh   những quan hệ  giữa các cá nhân, các giai cấp, tập đoàn về  việc chiếm giữ  Trang 3 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  4. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM những của cải vật chất trong xã hội mà trước hết là các tư  liệu sản xuất.   Như vậy, Sở hữu là một quan hệ xã hội được biểu hiện ở việc nắm giữ của   cải vật chất thông qua quan hệ của sở hữu chủ một vật đối với người khác. Quyền sở  hữu  là một phạm trù pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp   luật điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội  Theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu được hiểu là hệ  thống các quy phạm  pháp luật do Nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh   vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Theo nghĩa chủ   quan thì quyền sở hữu là cách xử  sự  của chủ  sở  hữu trong   việc   chiếm   hữu,   sử   dụng,và   định   đoạt   tài   sản   trong   phạm   vi   luật   định.   Những quyền chủ quan này xuất hiện dựa trên cơ sở do sự qui định của các   quy phạm pháp luật khách quan. 1.2Nội dung quyền sở hữu: Bao gồm 3 quyền năng:  Quyền chiếm hữu: Là quyền kiểm soát và chiếm giữ  vật trên  thực tế. Quyền năng này được thể  hiện  ở  chỗ: Vật thực tế  do ai  kiểm soát, chiếm giữ, làm chủ  và chi phối vật. Quyền chiếm hữu   này có thể là hợp pháp hay bất hợp pháp. Chiếm hữu hợp pháp: là chiếm hữu dựa trên cơ sở pháp luật.(vd: được chủ  sở  hữu giao vật trên cơ  sở  của một hợp đồng hợp pháp; có được tài sản do  thuê; được giao tài sản để thực hiện công việc chuyên môn…) Chiếm hữu bất hợp pháp: là chiếm hữu không dựa trên cơ sở của pháp luật.  Được chia thành 2 loại: Chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình, Chiếm hữu bất   hợp pháp không ngay tình.  Quyền sử dụng: Là quyền khai thác những lợi ích vật chất của tài  sản trong phạm vi pháp luật cho phép.  Quyền định đoạt: Là quyền năng của chủ  sở hữu để  quyết định  số phận của vật. 1.3 Các hình thức sở hữu:   Sở hữu nhà nước: Là sở hữu đối với những tài sản mà Nhà nước là   đại diện chủ sở hữu.(điều 17 hiến pháp, điều 200 BLDS năm 2005)  Sở hữu tập thể.(điều 208 BLDS ­ 2005 )  Sở hữu tư nhân. (điều 211 BLDS ­ 2005)   Sở hữu chung.(điều 214 BLDS ­ 2005)  Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị ­ xã hội.(227 BLDS ­   2005)  Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội,   tổ chức xã hội nghề nghiệp.(điều 230 BLDS ­ 2005) 2­   Chế định    Hợp đồng dân sự :  2.1  Khái niệm: Trong những giao lưu dân sự  thường nhật trong cuộc sống   của con người, việc chuyển giao quyền tài sản giữa người này với người  khác đóng một vai trò quan trọng. Những việc chuyển giao quyền tài sản đó   không phải tự nhiên hình thành mà phải thông qua những thỏa thuận giữa các  bên. Sự thể hiện và thống nhất ý chí đó được gọi là “Hợp đồng”. Trang 4 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  5. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi   hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. 2.2  Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng dân sự * Hợp đồng dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: ­ Người tham gia Hợp đồng dân sự có năng lực hành vi dân sự; ­ Mục đích và nội dung của Hợp đồng dân sự không vi phạm điều cấm của   pháp luật, không trái đạo đức xã hội; ­ Người tham gia Hợp đồng dân sự hoàn toàn tự nguyện. ­ Hợp đồng dân sự phải phù hợp với hình thức theo quy định của pháp luật: * Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng   hành vi cụ thể. * Giao dịch dân sự  thông qua phương tiện điện tử  dưới hình thức thông   điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. * Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự  phải được thể  hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin  phép thì phải tuân theo các quy định đó. 2.3 Hợp đồng dân sự vô hiệu    2.3.1 Khái niệm: Hợp đồng dân sự không có một trong các điều kiện được  nêu trên thì vô hiệu.   2.3.2 Các trường hợp vô hiệu phổ biến: ­  Hợp đồng dân sự  vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo   đức xã hội: Hợp đồng dân sự  có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của   pháp luật, trái đạo đức xã hội; điều cấm của pháp luật là những quy định của  pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức   xã hội là những chuẩn mực  ứng xử chung giữa người với người trong đời sống  xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. ­ Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo: khi các bên xác lập giao dịch dân sự  một cách giả  tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả  tạo vô   hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu thỏa mãn các điều kiện của  hợp đồng dân sự. ­  Hợp đồng  dân sự  vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng  lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.  ­ Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn: Khi một bên có lỗi vô ý làm   cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì   bên bị  nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó,   nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên  bố giao dịch vô hiệu.  ­  Hợp đồng dân sự  vô hiệu do bị  lừa dối, đe dọa: khi một bên tham gia   hợp đồng dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên   bố  hợp đồng dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong hợp đồng là hành vi cố ý của  một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể,   tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng dân sự nên đã xác lập hợp  đồng đó. Đe dọa trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba  làm cho bên kia buộc phải thực hiện  hợp đồng  nhằm tránh thiệt hại về  tính  Trang 5 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  6. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha,   mẹ, vợ, chồng, con của mình. ­  Hợp đồng  dân sự  vô hiệu do không tuân thủ  quy định về  hình thức:   Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự  là điều kiện có  hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc  các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên   thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn  đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. 2.3.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu  ­ Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,   nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. ­ Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,   hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì  phải hoàn trả  bằng tiền, trừ  trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu   được bị  tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi   thường. 2.4 Các loại hợp đồng dân sự: Dựa vào đặc điểm và nội dung của hợp  đồng dân sự, có thể chia ra các loại hợp đồng sau:  Hợp   đồng   song   vụ:  là   hợp   đồng   mà   trong   đó   các   bên   đều   có  quyền và nghĩa vụ.Quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của  bên kia. VD: HĐ mua, bán, thuê tài sản.  Hợp đồng đơn vụ: Là HĐ mà trong dó một bên mang quyền và   một bên mang nghĩa vụ. VD:HĐ vay, mượn.  Hợp đồng có đền bù: Các bên trong hợp đồng đều nhận được lợi  ích vật chất từ bên kia. VD: HĐ cho thuê tài sản.   Hợp đồng không có đền bù: Là HĐ mà trong đó một bên nhận  được từ  bên kia một số lợi ích vật chất nhất định. Ngược lại một   bên không nhận được một lợi ích vật chất nào.VD: cho mượn, gửi,  giữ không có thù lao.  Hợp đồng hỗn hợp: Là hợp đồng mà trong đó các bên tham gia ký  kết hợp đồng mà trong nội dung của hợp đồng đó có nhiều quan hệ  của hợp đồng khác. VD: Hợp đồng thầu khoán xây dựng. Trong  hợp đồng này có 2 quan hệ  hợp đồng: mua bán nguyên vật liệu,   bên đặt hàng phải trả  cho bên nhận đặt hàng giá trị  của vật liệu.  Ngoài ra còn phải trả cho bên kia một khoản thù lao nhất định (HĐ   khoán việc). 2.3 Các hợp đồng dân sự thông dụng:  Hợp đồng mua bán tài sản;  Hợp đồng mua bán nhà;  Hợp đồng trao đổi tài sản;  Hợp đồng tặng cho tài sản;  Hợp đồng vay tài sản;  Hợp đồng thuê tài sản; Trang 6 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  7. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM  Hợp đồng mượn tài sản;  Hợp đồng dịch vụ;  Hợp đồng vận chuyển;  Hợp đồng gia công;  Hợp đồng gửi giữ tài sản;  Hợp đồng bảo hiểm;  Hợp đồng uỷ quyền 2.4 Hình thức ký kết hợp đồng dân sự.  Hình thức bằng lời nói: Các điều khoản của HĐ được giao kết bằng   lời nói. Sau khi các bên đã thống nhất với nhau về nội dung của hợp   đồng, các bên sẽ bắt đầu thực hiện HĐ.  Hình thức viết; Khi ký kết hợp đồng, các bên thỏa thuận và thống nhất  về  nội dung chi tiết của hợp đồng, sau đó lập văn bản viết tay hoặc   đánh máy. Các bên cần phải ký tên mình hoặc đại diện hợp pháp ký tên   vào văn bản đã lập.  Hình thức văn bản có chứng thực; đối với những HĐ mà pháp luật quy   định phải có chứng thực của cơ  quan công chứng Nhà nước như  hợp   đồng mua bán nhà  ở, buộc các bên phải đến cơ  quan công chứng để  chứng thực, hoặc phải có xác nhận của UBND địa phương. 3. Chê đinh Quyên s ́ ̣ ̀ ở hưu tri tuê. ̃ ́ ̣ 3.1 Khái niệm ­ đặc điểm:  Khái niệm: Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối   với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả  và quyền liên quan đến  quyền tác giả, quyền sở  hữu công nghiệp và quyền đối với giống  cây trồng  Đặc điểm:  Tài sản thuộc QSHTT thể hiện dưới dạng vô hình, gồm:  Gồm các thông tin, thông số kết  hợp chặt chẽ với nhau thể hiện dưới   những vật thể hữu hình (tức các bản sao)  Bản thân các bản sao hay các hình thức chứa đựng thông tin là tài sản   hữu hình nên có thể thuộc về chủ thể khác  QSHTT là quyền sở hữu kết quả lao động mang tính sáng tạo,   có đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế ­ xã hội:  Nhiều sản phẩm trí tuệ nhưng người tạo ra không hưởng quyền sở hữu  sản phẩm đó nên không đặt ra vấn đề SHTT.  Không phải mọi đối tượng của quyền SHTT đều là sản phẩm của trí   tuệ.   QSHTT không nhất thiết bao gồm quyền hiếm hữu:  Vì SHTT là sở  hữu các thông tin nên ngoài CSH, chủ  thể khác cũng có   thể chiếm giữ được (nhất là những thông tin đã được công bố);  Ðể bảo vệ quyền lợi của chủ SHTT,  pháp luật cấm những hành vi sử  dụng, định đoạt trái phép;  Trang 7 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  8. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM  CSH cần giữ bí mật những thông tin liên quan đến tài sản mà pháp luật   không bắt buộc công bố  Bảo vệ QSHTT là bảo vệ thành quả lao động có “tính mới”:  Sản phẩm chưa được công bố  hay bảo hộ  trước đó cho đến khi được  công bố  hay bảo hộ  (Lưu ý: phạm vi công bố  hay bảo hộ  là trong và   ngoài nước).  Sản phẩm tái tạo hay phái sinh (phù hợp với luật định) vẫn có thể  có   tính mới (như tác phẩm phái sinh: cải biên, chuyển thể,…)  Sản phẩm được “sáng tạo lại trên sự  sáng tạo của người khác trái   pháp luật” là không có tính mới nên không được bảo hộ (Ví dụ: hành vi   sao chép, nhái, làm giả, đạo văn,...) 3.2  Phân loại quyền SHTT 3.2.1 Quyền tác giả là quyền đối với tác phẩm do mình sáng tạo  ra hoặc sở hữu , gồm:   ­ Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, nghệ  thuật dân  gian và tác phẩm khác được thể  hiện dưới dạng chữ  viết hoặc ký tự  khác; ­ Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; ­ Tác phẩm báo chí; âm nhạc; sân khấu; điện ảnh; tạo hình, mỹ  thuật ứng   dụng; nhiếp ảnh; kiến trúc; ­ Bản họa đồ, sơ  đồ, bản đồ, bản vẽ  liên quan đến địa hình, công trình  khoa học; ­ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. 3.2.2 Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên  quan) là quyền đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,   chương trình phát sóng, tín hiệu vệ  tinh mang chương trình  được mã hóa. 3.2.3 Quyền sở  hữu công nghiệp  là quyền đối với sáng chế, kiểu   dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn   hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình   sáng tạo ra hoặc sở hữu,... 3.2.4.Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân  đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát triển .  * Một số lưu ý về việc bảo hộ QSHTT ­ Tác giả  hay chủ  sở  hữu muốn được bảo hộ  sản phẩm thì phải làm thủ  tục đăng ký “bảo hộ  quyền SHTT” tại Sở  hoặc Bộ  “khoa học và công   nghệ” để được cấp văn bằng bảo hộ; ­ Trong thời hạn bảo hộ, chủ  thể khác không được có hành vi xâm phạm   QSHTT   (làm   nhái,   giả,   sử   dụng   không   xin   phép,   sao   chép   trái   pháp   luật,...).  ­ Việc chuyển nhượng QSHTT phải được lập thành văn bản dưới dạng  hợp đồng. 4. Chế định thừa kế: Trang 8 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  9. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM 4.1 Khái niệm thừa kế: Thừa kế  là việc chuyển dịch tài sản của người chết   cho những người còn sống. 4.2 Khái niệm quyền thừa kế:  KN1: Là một loại quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các chủ thể tham gia   là những người được hưởng di sản của người chết theo một trình tự nhất  định, xác định nội dung quyền nhận, khước từ hưởng di sản thừa kế của   những người thừa kế.  KN2: Quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, tổng hợp các quy   phạm pháp luật về thừa kế, quy định việc bảo vệ  và điều chỉnh trình tự  chuyển tài sản và quyền tài sản của người chết cho những người khác  còn sống.  KN3:Quyền thừa kế là quyền của chủ thể thừa kế. 4.3. Người để lại di sản thừa kế : Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người  có tài sản chết. ­  Người đề  lại di sản thừa kế  là người mà sau khi chết có tài sản để  lại cho  người khác theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. ­   Người để  lại di sản thừa kế chỉ có thể  là cá nhân, là người thành niên hoặc   chưa thành niên có tài sản riêng.. ­ Di sản thừa kế theo điều  634 BLDS – 2005 gồm Tài sản riêng của người chết,   phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. 4.4. Người thừa kế: Là người được người chết để  lại cho di sản theo di chúc   hoặc theo qui định của pháp luật. ­ Người thừa kế  là cá nhân phải là nười còn sống vào thời điểm mở  thừa kế  hoặc được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở  thừa kế  nhưng đã thành thai   trước khi người để  lại di sản thừa kế  chết. (điều 635 BLDS – 2005). Người   thừa kế là cá nhân  có thể nhận di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. ­ Người thừa kế  là cơ  quan, tổ  chức, pháp nhân chỉ  được nhận di sản thừa kế  theo di chúc và phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. ­ Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế, trừ trường hợp việc từ  chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ  tài sản của mình đối với người khác; Việc từ  chối phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực của UBND   xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế và trong thời hạn 6 tháng kể từ  ngày mở thừa kế. 4.5 Người không được quyền hưởng di sản: a. Người bị  kết án về  hành vi cố  ý xâm phạm tính mạng sức khoẻ  hoặc   về  hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ  người để  lại di sản, xâm phạm  nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính  mạng người thừa kế  khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ  phần di sản mà người đó có quyền   được hưởng; Trang 9 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  10. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM d. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản   trong việc lập di chúc; giả  mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ  di chúc nhằm   hưởng một phần hoặc tòan bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Lưu ý: Những người nêu trên vẫn được hưởng di sản nếu người để  lại di sản  đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.  4.6 Thơi điêm, đia điêm m ̀ ̉ ̣ ̉ ở thưa kê: ̀ ́ • Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường   hợp Toà án tuyên bố  một người là đã chết thì thời điểm mở  thừa kế  là  ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật DS. • Địa điểm mở  thừa kế  là nơi cư  trú cuối cùng của người để  lại di sản;  nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là  nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản. 4.7 Thơi hiêu kh ̀ ̣ ởi kiên vê th ̣ ̀ ừa kê:́ • Thời hiệu khởi kiện để  người thừa kế  yêu cầu chia di sản, xác nhận   quyền thừa kế  của mình hoặc bác bỏ  quyền thừa kế  của người khác là   mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. • Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ  về tài  sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.  4.8. Các loại thừa kế:  4.8.1 Thừa kế theo di chúc: là việc chuyển di sản thừa kế  của người chết cho   những người còn sống theo sư định đoạt của người đó khi còn sống.  Người lập di chúc:  Người đã thành niên  (trừ  trường hợp người đó bị  bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ  được hành vi của mình); Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ  18 tuổi  có  thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.  Quyền của người lập di chúc: ­ Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; ­ Phân định phần di sản cho người thừa kế; ­ Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; ­ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; ­ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. ­ Thay thế, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ di chúc.  Các hình thức của di chúc: Di chúc bằng văn bản; di chúc miệng  Di chúc bằng văn bản: ­ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải  tự  tay viết và ký vào bản di chúc. nếu di chúc nhiều trang thì mỗi trang  phải được đánh số thứ tự và có chữ ký  hoặc điểm chỉ và theo qui định tại  điều 653 BLDS – 2005. ­ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Có thể  nhờ  người khác viết  nhưng phải có ít nhất 2 người làm chứng; người lập di chúc phải ký hoặc   điểm chỉ  vào di chúc trước mặt những người làm chứng; Những người   Trang 10 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  11. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM làm chứng xác nhận chữ  ký, điểm chỉ  của người lập di chúc và ký vào  bản di chúc. ­ Di chúc bằng văn bản có công chứng: ­ Di chúc bằng văn bản có chứng thực:  Di chúc miệng. Trong trường hợp tính mạng một người bị    cái chết đe  doạ  do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng   văn bản thì có thể  di chúc miệng; Người di chúc miệng thể  hiện ý chí của   mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm  chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ; trong thời hạn 5 ngày, kể từ  ngày người di chúc miệng thể  hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được  công chứng, chứng thực; sau 3 tháng, kể  từ  thời điểm di chúc miệng mà   người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị  huỷ bỏ.  Những người không được làm chứng cho việc lập di chúc: ­ Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; ­ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; ­ Người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.  Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: Trong trường hợp không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ  cho hưởng di sản ít hơn 2/3 suất của người   thừa kế  theo luật, thì những   người dưới đây được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất thừa kế theo luật trừ khi   họ từ chối nhận di sản thừa kế hoặc họ không có quyền hưởng di sản thừa   kế:  ­ Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; ­ Con đã thành niên mà không có khả năng lao động. 4.8.2 Thừa kế theo pháp luật: Là việc để lại tài sản của người chết cho những  người thừa kế  không phải theo di chúc, mà theo các qui định của pháp luật về  thừa kế.  Thừa kế  theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau   đây: ­ Không có di chúc; ­ Di chúc không hợp pháp; ­ Những người thừa kế  theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời   điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di   chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế; ­ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có   quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản; ­ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; ­ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp   luật; ­ Phần di sản có liên quan đến ngườ thừa kế theo di chúc nhưng họ không   có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết   cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ  quan, tổ  chức   Trang 11 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  12. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa  kế.  Người thừa kế  theo pháp luật: Được qui định theo thứ  tự  và nguyên tắc   sau: ­ Người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau; ­ Những người  ở  hàng thừa kế  sau chỉ  được thừa kế  nếu không còn ai  ở  hàng thừa kế  trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị  truất   quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. ­ Thứ tự hàng thừa kế như sau:  Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ  nuôi, con đẻ, con nuôi của người  chết.  Hàng thừa kế thứ  hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột,  chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người  chết ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.  Hàng thừa kế  thứ  ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú  ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người   chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột;   chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.  Thừa kế thế vị: Trong trường hợp con của người để lại di sản  thừa kế chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì  cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ  cháu được hưởng nếu còn  sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để  lại di sản thừa kế  thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ  chắt   được hưởng nếu còn sống.  Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung  khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn  được thừa kế di sản.  Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã   được Toà án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp   luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.  Người đang là vợ  hoặc chồng của một người tại thời  điểm  người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di  sản.  Con riêng và bố  dượng, mẹ  kế  nếu có quan hệ  chăm sóc, nuôi  dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. B. LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm ngành luật Tố  tụng dân sự: Luật Tố tụng dân sự là ngành luật  hình thức, quy định cách thức, trình tự, thủ  tục để  Tòa án và các chủ  thể  thực   hiện các hành vi tố tụng nhằm giải quyết các tranh chấp dân sự, các yêu cầu dân   sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà nước, cá nhân, cơ  quan, tổ  chức   theo quy định của pháp luật. Trang 12 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  13. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM 1.1  Đối tượng và phương pháp điều chỉnh    1.1.1 Đối tượng điều chỉnh: Các mối quan hệ  thuộc phạm vi điều chỉnh  của ngành luật Tố tụng dân sự được chia làm ba nhóm:  Nhóm quan hệ  tố  tụng phát sinh giữa Tòa án nhân dân với các cơ  quan tiến hành tố tụng khác   Nhóm quan hệ tố tụng phát sinh giữa Tòa án nhân dân với các bên   đương sự   Nhóm quan hệ  phát sinh giữa Tòa án nhân dân, đương sự, cơ  quan  tiến hành tố  tụng khác với các chủ  thể khác tham gia vào quá trình  giải quyết các vụ việc dân sự. Luật Tố tụng dân sự tùy thuộc vào mục đích tham gia của các chủ thể vào  quá trình giải quyết các vụ  việc dân sự  để  quy định quyền và nghĩa vụ  cụ  thể  cho từng chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. 1.1.2       Phương   pháp   điều   chỉnh:   Luật   Tố   tụng   dân   sự   sử   dụng   hai  phương pháp điều chỉnh: Phương pháp mệnh lệnh và phương pháp bình đẳng   định đoạt. Trong đó phương pháp mệnh lệnh chỉ áp dụng điều chỉnh các mối quan hệ  tố tụng mà một bên chủ thể là Tòa án nhân dân và trong mối quan hệ đó Tòa án  nhân dân nhân danh quyền lực nhà nước có quyền đưa ra các yêu cầu mang tính   chất mệnh lệnh đối với các chủ  thể  tham gia tố  tụng nhằm bảo đảm cho việc   giải quyết các vụ việc dân sự theo đúng quy định của pháp luật. Phương pháp bình đẳng định đoạt chỉ  áp dụng trong quan hệ  tố  tụng mà   chủ  thể  đều là các bên đương sự, bảo đảm cho họ  hoàn toàn bình đẳng trong  việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình để Tòa án có cơ sở giải  quyết vụ việc dân sự một cách khách quan và đúng pháp luật. Tòa án nhân dân có  trách nhiệm bảo đảm cho các đương sự được bình đẳng trong quá trình tố tụng  giải quyết các vụ việc dân sự. 1.2   Khái niệm trình tự  tố  tụng giải quyết vụ  việc dân sự  tại Tòa án   nhân dân Trình tự  tố  tụng là quá trình Tòa án tiến hành giải quyết các vụ  việc dân  sự, được xác định bắt đầu từ  thời điểm thụ  lý vụ  việc dân sự  cho đến khi kết  thúc bằng việc tuyên các bản án hoặc quyết định có hiệu lực thi hành. Trình tự tố tụng giải quyết vụ việc dân sự  được phân biệt khác nhau giữa   vụ án dân sự và việc dân sự. ­ Trình tự giải quyết vụ án dân sự bao gồm:  Khởi kiện  Thụ lý;   Chuẩn bị xét xử sơ thẩm;   Xét xử sơ thẩm;   Xét xử phúc thẩm;   Thi hành án;  Trang 13 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  14. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM  Thủ tục giám đốc thẩm; tái thẩm. ­ Trình tự giải quyết việc dân sự bao gồm:  Gửi đơn,   Thụ lý;  Chuẩn bị phiên họp sơ thẩm;   Phiên họp phúc thẩm;   Thi hành án;  Thủ tục giám đốc thẩm.     2. Khái quát về các quan hệ Tố tụng dân sự Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là những quan hệ xã hội do Luật Tố tụng   dân sự điều chỉnh. Đó là những quan hệ xã hội giữa Tòa án với các chủ thể trong   quá trình giải quyết vụ việc dân sự.  Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự ­ Tòa án là chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Tòa án là cơ  quan do Nhà nước thành lập có chức năng giải quyết các vụ  việc dân sự, do đó trong các quan hệ tố tụng Tòa án là chủ thể bắt buộc phải có   để giải quyết các yêu cầu của đương sự, người yêu cầu. ­ Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự không có sự bình đẳng giữa Tòa   án với các chủ thể khác  Tòa án nhân dân là cơ  quan xét xử, giải quyết các vụ  việc dân sự  có các   quyền, nghĩa vụ  mang tính quyền lực nhà nước trong việc áp dụng pháp luật.  Các quyết định của Tòa án nhân dân đã có giá trị  thi hành, các chủ thể liên quan   phải tuân thủ, nếu không sẽ bị cưỡng chế.  Đương sự và người yêu cầu, theo quy định của luật, họ có quyền yêu cầu   Tòa án giải quyết những quyền lợi của họ  bị  xâm phạm hoặc đề  nghị  Tòa án  công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý nhất định. Giữa Tòa án và  đương sự, người yêu cầu có các quyền, nghĩa vụ  khác nhau, không bình đẳng   xuất phát từ địa vị pháp lý và tư cách chủ thể. ­ Quan hệ  pháp luật tố  tụng dân sự  chỉ  xuất hiện trong quá trình tố  tụng   thể hiện dưới những hình thức tố tụng nhất định   Quan hệ pháp luật tố tụng phát sinh khi có các chủ thể có quyền tiến hành   khởi kiện, kháng cáo, kháng nghị  và các chủ  thể  khác yêu cầu. Tương  ứng với  từng thủ tục, ở từng giai đoạn khác nhau, các hoạt động tố tụng là khác nhau về  trình tự, phương pháp tiến hành, chủ thể tham gia và pháp luật điều chỉnh. 3. Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân 3.1 Thẩm quyền chung:  Thẩm quyền chung là giới hạn (khả  năng) do  pháp luật quy định để Tòa án nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình  trong việc thụ lý và giải quyết các vụ việc dân sự.  Nội dung thẩm quyền chung bao gồm: Trang 14 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  15. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM ­ Thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với các tranh chấp về dân sự.  Theo Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự  Việt Nam 2004, Tòa án nhân dân có  quyền thụ lý, giải quyết những loại việc sau: Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Tranh chấp về hợp đồng dân sự. Tranh chấp về  quyền sở  hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ  trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật Tố  tụng dân  sự. Tranh chấp về thừa kế tài sản. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tranh chấp về  quyền sử  dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo  quy định của pháp luật về đất đai. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định  của pháp luật. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định. 3.2 Thẩm quyền theo cấp Tòa án:  Thẩm quyền theo cấp Tòa án là bộ  phận của thẩm quyền xét xử, xác định cấp Tòa án được tiến hành thụ  lý giải   quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm. Thẩm quyền theo cấp Tòa án là   giới hạn do pháp luật quy định để  Tòa án các cấp thực hiện chức năng giải   quyết các vụ việc dân sự. Thẩm quyền theo cấp Tòa án có thể  được phân chia theo các tiêu chí: Giá  trị  tranh chấp, tính chất của vụ  việc hoặc bản chất của tài sản. Theo quy định  của Bộ  luật tố tụng dân sự  2004, thẩm quyền theo cấp Tòa án được phân chia   căn cứ vào tính chất của vụ việc. Thẩm quyền theo cấp Tòa án quy định đối với   Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh. Nội dung thẩm quyền theo cấp Tòa án 3.2.1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện đối với các tranh chấp dân  sự. Theo Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân cấp huyện có quyền  giải quyết các tranh chấp sau: ­ Các tranh chấp dân sự theo Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự ­ Các tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự  gôm:̀  Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.    Tranh chấp về  chia tài sản chung của vợ  chồng trong thời kỳ  hôn  nhân.  Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.   Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha,   mẹ.   Tranh chấp về cấp dưỡng. Trang 15 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  16. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM    Các tranh chấp khác về  hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy   định. ­ Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d,  đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự: “1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,  tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: a) Mua bán hàng hoá; b) Cung ứng dịch vụ; c) Phân phối; d) Đại diện, đại lý; đ) Ký gửi; e) Thuê, cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h) Tư vấn, kỹ thuật; i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội   địa; ­ Các tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật tố  tụng dân sự . 1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động  mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản   lý nhà nước về  lao động quận, huyện, thị  xã, thành phố  thuộc tỉnh hoà giải   không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các  tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở: a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn  phương chấm dứt hợp đồng lao động; b) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về  trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động; đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao   động. 3.2.2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với các tranh chấp dân   sự  Theo khoản 3 Điều 33 và Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân   cấp tỉnh có quyền thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau:  ­ Những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,   thương mại, lao động mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải  uỷ  thác tư  pháp cho cơ  quan Lãnh sự  của Việt Nam  ở  nước ngoài, cho Toà án   nước ngoài.  Trang 16 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  17. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM ­ Những tranh chấp về  dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương  mại, lao động không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp  huyện.     ­ Những vụ  việc dân sự  thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân  dân cấp huyện nhưng Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết. 3.4. Thẩm quyền theo lãnh thổ:  Thẩm quyền theo lãnh thổ  là giới hạn  (khả năng) do pháp luật quy định xác định chức năng giải quyết các vụ việc dân  sự  của Tòa án theo đơn vị  hành chính cụ  thể. Thẩm quyền theo lãnh thổ  được   quy định dựa vào các yếu tố: nơi cư trú của đương sự, người yêu cầu; nơi có tài   sản tranh chấp; theo thỏa thuận của các chủ  thể  hoặc nơi xảy ra sự kiện pháp   lý. Nội dung thẩm quyền theo lãnh thổ Thẩm quyền theo lãnh thổ được quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân   sự 2004.  Thẩm quyền giải quyết vụ  án dân sự  của Toà án theo lãnh thổ  được xác   định: ­ Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân), nơi bị  đơn có  trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức).  ­ Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn (nếu nguyên đơn là cá nhân),   nơi bị đơn có trụ  sở (nếu bị đơn là cơ  quan, tổ  chức) khi các đương sự  tự  thoả  thuận với nhau bằng văn bản về vấn đề trên. ­ Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp  về bất động sản.   Thẩm quyền giải quyết việc dân sự  của Toà án theo lãnh thổ  được xác   định: ­ Toà án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị  hạn chế năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu   cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực   hành vi dân sự; ­ Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú,  bị  yêu cầu tuyên bố  mất tích hoặc là đã chết có nơi cư  trú cuối cùng có thẩm  quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và   quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố  một người mất tích hoặc là đã  chết; ­ Toà án đã ra quyết định tuyên bố  một người mất tích hoặc là đã chết có   thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã  chết; ­ Toà án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia   đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài cư trú, làm việc,  nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở,  nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến   việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nước ngoài có thẩm quyền giải   quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân  Trang 17 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  18. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước   ngoài; ­ Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân   hoặc nơi người gửi đơn có trụ  sở, nếu người gửi đơn là cơ  quan, tổ  chức có   thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn   nhân và  gia  đình,  kinh  doanh,  thương  mại,  lao  động  của  Toà  án  nước   ngoài  không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; ­ Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư  trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành  có trụ  sở, nếu người phải thi hành là cơ  quan, tổ  chức hoặc nơi có tài sản liên  quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải  quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài   nước ngoài; ­ Toà án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm   quyền giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật; ­ Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly  hôn cư  trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly   hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; ­ Toà án nơi một trong các bên thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi  con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận  sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; ­ Toà án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm   quyền giải quyết yêu cầu hạn chế  quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành  niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; ­ Toà án nơi cha, mẹ  nuôi hoặc con nuôi cư  trú, làm việc có thẩm quyền   giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi; ­ Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ  giải quyết các yêu cầu liên quan   đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ  tranh chấp được  thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại 3.5. Thẩm quyền theo sự lựa chọn:  Thẩm quyền theo sự lựa chọn là giới  hạn do luật định cho các chủ  thể  trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết các vụ  việc dân sự  Nội dung thẩm quyền theo sự lựa chọn Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn đối với các vụ  án dân  sự  Nguyên đơn trong một số vụ án  có quyền lựa chọn các Tòa án sau để khởi   kiện: ­ Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có  thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ  sở cuối cùng hoặc nơi bị  đơn có tài sản giải quyết; ­ Nếu tranh chấp phát sinh từ  hoạt động của chi nhánh tổ  chức thì nguyên  đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ  sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh  giải quyết; Trang 18 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  19. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM ­ Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án  về  tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể  yêu cầu Toà án nơi mình  cư trú, làm việc giải quyết; ­ Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn   có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc   gây thiệt hại giải quyết; ­ Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng  lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương,  thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn  là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết; ­ Nếu tranh chấp phát sinh từ  việc sử  dụng lao động của người cai thầu  hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người   sử  dụng lao động là chủ  chính cư  trú, làm việc, có trụ  sở  hoặc nơi người cai   thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết; ­ Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu  cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết; ­ Nếu các bị  đơn cư  trú, làm việc, có trụ  sở   ở  nhiều nơi khác nhau thì   nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị  đơn cư trú, làm việc, có   trụ sở giải quyết; ­ Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có  ở  nhiều địa phương   khác nhau thì nguyên đơn có thể  yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động   sản giải quyết.  Thẩm quyền theo sự lựa chọn của người yêu cầu đối với các việc dân   sự.  Người yêu cầu trong một số việc dân sự có quyền lựa chọn các Tòa án sau   để yêu cầu giải quyết: ­ Đối với các yêu cầu tuyên bố  một người mất năng lực hành vi dân sự  hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người   mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi  dân sự; yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài   sản của người đó; yêu cầu tuyên bố  một người mất tích, huỷ  bỏ  quyết định   tuyên bố  một người mất tích; yêu cầu tuyên bố  một người là đã chết, huỷ  bỏ  quyết định tuyên bố một người là đã chết thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà   án nơi mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết;  ­ Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì người yêu cầu có thể  yêu cầu Toà án nơi một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết; ­ Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên   hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án  nơi người con cư trú giải quyết. Về  thẩm quyền theo sự  lựa chọn, tại điểm 5 Nghị  quyết ngày 31.03.2005  của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn thi hành phần quy định  chung của Bộ  luật tố  tụng dân sự  quy định nguyên tắc lựa chọn Tòa án giải   quyết vụ việc dân sự theo hướng: lựa chọn có điều kiện và lựa chọn theo ý chí  của nguyên đơn, người yêu cầu. Đối với các vụ  việc dân sự  pháp luật tố  tụng   dân sự  có đưa ra điều kiện lựa chọn thì nguyên đơn, người yêu cầu chỉ  được  Trang 19 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương
  20. Thạc sĩ – Giảng viên chính Vũ Thị Bích Hường – Đại học Luật Tp.HCM khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết khi họ đã tuân thủ  điều kiện do luật  quy định. Tòa án sẽ không chấp nhận việc thụ lý và giải quyết vụ việc dân   sự  khi nguyên đơn, người yêu cầu đã không tuân thủ  đúng điều kiện theo   yêu cầu của luật. Đối với những trường hợp pháp luật tố  tụng không đưa ra  điều kiện thì nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn một số các Tòa án   để thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu của mình.  Tuy nhiên, khi nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn nhiều Toà  án có thẩm quyền giải quyết vụ  việc dân sự  thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn   yêu cầu, Toà án phải giải thích cho họ biết là họ chỉ được chọn một trong số các   Toà án giải quyết và họ phải cam kết trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu là không  khởi kiện hoặc yêu cầu Toà án khác giải quyết nữa. Trường hợp người khởi   kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại nhiều Toà án khác nhau  thì Toà án đã thụ lý đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết.  HẾT Trang 20 – Môn Pháp luật Việt nam đại cương

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản