
XỬ TRÍ BƯỚC ĐẦU VẾT THƯƠNG THẤU BỤNG
Thạc sĩ: Nguyễn Văn Trí
ĐỀ CƯƠNG HƯỚNG DẪN
1. ĐẠI CƯƠNG
- Vết thương thấu bụng (VTTB) là vết thương gây thủng phúc mạc thành, có thể
tổn thương tạng (VTTB phức tạp) hoặc không tổn thương tạng (VTTB đơn giản).
- Nguyên nhân gây VTTB thường do vũ khí lạnh hoặc hoả khí.
- Nếu không được phát hiện và tổ chức cứu chữa kịp thời thì tỷ lệ tử vong sẽ rất
cao do sốc và mất máu lớn hay các biến chứng nhiễm khuẩn, viêm phúc mạc.
2. LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
2.1. Lâm sàng
- Triệu chứng cơ năng: đau khắp ổ bụng bí trung đại tiện, buồn nôn và nôn.
- Triệu chứng thực thể:

+ Toàn thân: có thể có biểu hiện của sốc (da xanh, niêm mạc nhợt, mạch nhanh,
huyết áp hạ…) của nhiễm khuẩn viêm phúc mạc (sốt, môi khô, lưỡi bẩn, hơi thở
hôi…).
+ Tại chỗ: có vết thương (VT ở vùng bụng hoặc xa bụng) cùng với dấu hiệu bụng
ngoại khoa (cứng bụng, phản ứng thành bụng, cảm ứng phúc mạc), nhu động ruột
giảm hoặc mất, thăm túi cùng Douglas căng và đau, chọc dò ổ bụng có máu hoặc
dịch bất thường.
2.2. Cận lâm sàng
- Máu: hồng cầu và huyết sắc tố thường giảm bạch cầu có thể tăng, chuyển trái.
- Siêu âm: có dịch bất thường trong ổ bụng.
- X.Q ổ bụng không chuẩn bị tư thế đứng: có hình liềm hơi hoặc khí dưới vòm
hoành.
3. CHẨN ĐOÁN
3.1. Chẩn đoán dễ
Vết thương xuyên qua ổ bụng, có vết thương vùng bụng lòi tạng hoặc chảy dịch
bất thường (dịch mật, dịch dạ dày ruột, phân…) hoặc qua vết thương nhìn thấy
tạng ổ bụng.

3.2. Chẩn đoán khó
Gặp ở vết thương chột vùng bụng, vết thương xa bụng. Chẩn đoán dựa vào hội
chứng kích thích phúc mạc, chảy máu trong, viêm phúc mạc kết hợp với chọc dò ổ
bụng, siêu âm, X.Q.
4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Nguyên tắc chung
Mổ, mổ càng sớm càng tốt, hồi sức tích cực trước, trong và sau mổ.
4.2. Xử trí bước đầu vết thương bụng
- Vết thương phần mềm thành bụng: rửa vết thương bằng nước sát khuẩn, lấy dị
vật, băng vết thương, kháng sinh, SAT.
- Vết thương thấu bụng: nếu không có tạng lòi qua vết thương thì lấy dị vật bề mặt
vết thương, sát khuẩn xung quanh vết thương, băng vết thương. Nếu có tạng lòi thì
băng kiểu bát úp hoặc vành khăn. Nhịn ăn uống, kháng sinh, SAT, giảm đau,
chuyển BN lên tuyến trên.
NỘI DUNG BÀI GIẢNG CHI TIẾT
1. ĐẠI CƯƠNG

- Vết thương thấu bụng (VTTB) là vết thương gây thủng phúc mạc thành. VTTB
có thể có tổn thương tạng trong ổ bụng khi đó được gọi là VTTB phức tạp còn nếu
không gây tổn thương tạng được gọi VTTB đơn giản.
- Nguyên nhân VTTB thường gặp do vũ khí lạnh như dao, lê, kiếm gây nên bởi
các hành vi bạo lực đâm chém nhau; hoặc vũ khí nóng (hoả khí): bom, mìn, pháo,
đạn thẳng, lượng nổ… Ngoài ra cũng có thể gặp do dùi, cọc nhọn… ở trong những
tai nạn lao động, sinh hoạt…
- VTTB là một cấp cứu ngoại khoa hầu như không thể trì hoãn mổ vì những tổn
thương các tạng trong ổ bụng đều có nguy cơ đe doạ tính mạng người bị thương.
Nguy cơ gây tử vong của VTTB chủ yếu là sốc và mất máu lớn cấp tính do tổn
thương các tạng như gan, lách, tuỵ, các mạch máu lớn, hay các biến chứng nhiễm
khuẩn, viêm phúc mạc do tổn thương các tạng rỗng như dạ dày, ruột…
- Hiệu quả của việc cấp cứu và cứu chữa VTTB ngày càng thể hiển rõ sự phụ
thuộc vào tiến bộ của công tác cấp cứu tại chỗ, chuyển thương, gây mê hồi sức,
phán đoán nhanh, thời gian được mổ sớm và chiến thuật điều trị ngoại khoa đúng
đắn. Do giải quyết tốt khâu chuyển thương và phòng chống mất máu, nhiễm khuẩn
trên đường vận chuyển nên xu thế hiện nay điều trị VTTB được tiến hành ở các cơ
sở bệnh viện hậu phương.
2. LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

2.1. Lâm sàng
2.1.1. Hỏi bệnh:
Tốt nhất hỏi được trực tiếp từ bệnh nhân, nếu bệnh nhân lơ mơ thì hỏi người đi
theo, hỏi để khai thác:
- Nguyên nhân bị thương: Do hoả khí thì yếu tố sát thương có tốc độ đâm xuyên
cao thường gây nên tổn thương dập nát và mức độ ô nhiễm lớn. Do bạch khí (vũ
khí lạnh), yếu tố sát thương có tốc độ đâm xuyên thấp nên các tổn thương thường
gọn và có giới hạn.
- Vị trí bị thương; ở vùng bụng hoặc “xa bụng” (đáy ngực, lưng, bẹn, đùi, tầng
sinh môn).
- Ngày giờ bị thương, bị thương lúc đói hay hay lúc no. Nếu bị thương sau ăn mà
có thủng dạ dày thức ăn tràn vào ổ bụng gây ô nhiễm hoặc nếu nôn thì thức ăn tràn
vào đường thở gây hội chứng trào ngược rất nguy hiểm.
- Tư thế bệnh nhân lúc bị thương, hướng tác dụng của yếu tố sát thương, khoảng
cách xa hay gần.
- Các triệu chứng chủ quan khi bị thương:

