
Alzheimer
Năm 1907, Alois Alzheimer đã mô tả một bệnh nhân nữ 51 tuổi với các biểu hiện
sa sút trí tuệ có tính chất tiến triển do một bệnh mà ba năm sau đó Kraepelin đã đặt
tên là "bệnh Alzheimer" (AD). Trải qua gần 100 năm, bệnh Alzheimer đã được
chẩn đoán trên lâm sàng với nhiều thay đổi về các quan niệm bệnh học cũng như
các thành tựu mới trong nghiên cứu về các bệnh nguyên, bệnh sinh. Tuy nhiên các
tác giả đều thừa nhận Alzheimer là một đơn thể bệnh. Đây là quá trình bệnh lý có
hệ thống các triệu chứng lâm sàng và các tổn thương giải phẫu bệnh đặc trưng ở
não được coi là các "tiêu chuẩn vàng"để làm chẩn đoán.
Trong khi sa sút trí tụê là rối loạn phổ biến hàng thứ 2 trong các rối loạn tâm thần
ở người cao tuổi, thì Alzheimer là bệnh đứng hàng đầu trong các căn nguyên gây
sa sút trí tuệ: 50-60% các trường hợp sa sút trí tuệ là do bệnh Alzheimer; 10-15%
các trường hợp sa sút trí tuệ là có sự phối hợp giữa bệnh Alzheimer và bệnh mạch

máu não. Bệnh Alzheimer gặp ở 5% người trên 60 tuổi và tỷ lệ này cứ 5 năm lại
tăng lên gấp đôi.
I. Căn nguyên gây bệnh
Yếu tố di truyền, đến nay đã được xác nhận là một trong các nguyên nhân gây
bệnh Alzheimer. Yếu tố di truyền được thấy ở 5% các bệnh nhân Alzheimer và là
bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Các biến đổi nhiễm sắc thể đã được di truyền theo
kiểu gen trội, tự thân. Tuy nhiên, trong gia đình người mang các biến dị nhiễm sắc
thể gây bệnh Alzheimer vẫn có sự khác nhau về tuổi khởi phát bệnh cũng như biểu
hiện các triệu chứng. Điều đó được cắt nghĩa là do tác động của môi trường.
- Các biến đổi ở nhiễm sắc thể 21: Các biến đổi về gen của Protein tiền chất
Amyloid (APP) trên nhiễm sắc thể 21 đã được mô tả ở các bệnh nhân Alzheimer
khởi phát sớm có tính gia đình. Các biến đổi này xuất hiện ở gần đầu và ở phần
cuối của chuỗi peptid. Các biến đổi này tác động đến quá trình dị hoá APP và làm
tăng sản xuất ra các protein β Amyloid (Aβ) đặc biệt là dạng có 42 acide amine
gây chết nơron.
- Các biến đổi ở gen nằm ở vùng giữa nhánh dài của nhiễm sắc thể 14-gen kiểm
soát tổng hợp preseniline 1 và biến đổi gen ở nhiễm sắc thể 1 gọi là gen tổng hợp
preseniline 2. Các biến đổi này cũng dẫn đến hậu quả làm tăng sản xuất ra protein
Aβ 42 acide amine.

II. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh:
Rất nhiều bệnh nhân bị Alzheimer có khởi phát muộn sau tuổi 60 và xuất hiện ở
những gia đình không có yếu tố di truyền. Người ta đã xác nhận Alzheimer là
bệnh có nhiều yếu tố căn nguyên, nhiều cơ chế bệnh sinh và có các biểu hiện lâm
sàng khác nhau ở các bệnh nhân. Các yếu tố hiện được coi là nguy cơ có thể dẫn
đến bệnh Alzheimer là:
1- Các kiểu gen gây ra cơ địa dễ bị bệnh Alzheimer: hiện có 3 kiểu gen được mô
tả là đã gây ra tính dễ bị bệnh Alzheimer. Đặc biệt là gen Apolipotein (ApoE).
Đây là gen kiểm soát việc tổng hợp 3 loại protein ApoE2, ApoE3 và ApoE4.
ApoE4 được xác định là có tác động làm tăng lắng đọng protein Aβ, thay đổi sự
kết tập các Amyloid để tạo ra các mảng lão suy. Gen ApoE mang allen Ψ4 được
thấy ở 50% các bệnh nhân Alzheimer.
Gen tổng hợp protein receptor lipoprotein (LRP) được mã hoá di truyền bởi các
allen trên nhiễm sắc thể 12 và gen tổng hợp yếu tố kháng nguyên bạch cầu người
(HLA) được mã hoá bởi các allen A2 trên nhiễm sắc thể 6 đều được thấy là có liên
quan đến việc làm tăng đáng kể só lượng các mảng lão suy và sự khởi phát sớm
bệnh Alzheimer.
Những cá thể mang 1 trong 3 gen này có nguy cơ cao bị bệnh. Tuy nhiên, bệnh
còn xuất hiện cả ở những người không có yếu tố nguy cơ này.

2- Các yếu tố biểu sinh (Epigenitec factors):
- Tiền sử gia đình có người bị bệnh Alzheimer. Các thành viên trong gia đình này
có thể mang các biến đổi di truyền đã được xác định rõ (ở nhiễm sắc thể 21,14,1...)
hoặc mang các kiểu gen làm tăng cơ địa dễ bị bệnh như ApoE4.... Tần số xuất hiện
bệnh là 50% trong số con các bệnh nhân Alzheimer - cao gấp 4 lần so với những
người không có tiền sử gia đình bị bệnh này.
- Tuổi là yếu tố nguy cơ rất lớn với bệnh Alzheimer. ở người trên 60 tuổi, cả tỷ lệ
mắc chung và tỷ lệ mắc mới bệnh Alzheimer cứ sau 5 năm lại tăng lên gấp đôi: ở
nhóm tuổi 65-69 số người bị bện là 2%; ở nhóm tuổi 80-85 số người bị bệnh là 30-
40%...
- Giới: Nhiều tác giả cho là phụ nữ thường sống lâu hơn nam giới, do vậy phụ nữ
có thể được thấy nhiều hơn trong quần thể các bệnh nhân Alzheimer
- Tiền sử chẩn thương sọ não: dường như có một sự tác động cộng lực của các yếu
tố chấn thương sọ não cũ, kiểu gen Apo4 và sự tăng lắng đọng Amyloid... tạo ra
một tố bẩm làm tăng cường tính dễ bị Alzheimer.
- Các yếu tố chu vi đầu, kích thước não, trí thông minh .. cũng được coi là liên
quan đến khả năng chống đỡ với quá trình thoái hoá trong bệnh Alzheimer.
3- Các yếu tố tác động khác:

- Yếu tố nhiễm độc nhôm: tình trạng nhiễm độc nhôm dường như có liên quan đến
sự tăng lắng đọng protein β Amyloid và số lượng các đám rối sợi thần kinh trong
não bệnh nhân Alzheimer.
- Yếu tố nhiễm trùng (virus chậm) giống như bệnh creutzfeld-Jakob)
- Các rối loạn chuyển hoá: phản ứng oxy hoá quá mức dẫn đến tăng các gốc tự do.
Các gốc tự do này cũng được cho là có liên quan đến sự kết hợp và tăng lắng đọng
protein Aβ gây chết tế bào thần kinh. Sự giảm lưu lượng máu não, rối loạn sinh
tổng hợp các yếu tố dinh dưỡng thần kinh... cũng được giả định là có vai trò trong
cơ chế gây bệnh Alzheimer.
III. Các tổn thương tổ chức não trong bệnh Alzheimer:
1. Các mảng lão suy (Neuritic plaques) là tổn thương bên ngoài nơron, đó là một
cấu trúc hình cầu đường kính từ 15-20 µm. Mảng bao gồm một nhân Amyloid ở
trung tâm. Bao xung quanh nhân đó là các tế bào thần kinh loạn dưỡng với các sợi
xoắn kép và bất thường trong cấu trúc lưới nội bào, ty lạp thể... Người ta còn thấy
các tế bào hình sao, các tiểu thần kinh đệm (microglie) và các biểu hiện một phản
ứng viêm rõ rệt ngay bên trong và vùng liền kề với các mảng thần kinh. Đây là tổn
thương não khá đặc hiệu có trong bệnh Alzheimer và quá trình già hoá. Số lượng
mảng lão suy xuất hiện ở não trong mối liên quan với tuổi tác được dùng làm tiêu
chuẩn chẩn đoán tổ chức học trong bệnh Alzheimer.

