intTypePromotion=1

Cái nhìn nhân bản của Nguyễn Minh Châu về hiện thực chiến tranh trong truyện ngắn sau năm 1975

Chia sẻ: ViVatican2711 ViVatican2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
39
lượt xem
11
download

Cái nhìn nhân bản của Nguyễn Minh Châu về hiện thực chiến tranh trong truyện ngắn sau năm 1975

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm 1975, có thể dễ dàng nhận thấy sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật của nhà văn. Nếu như ở giai đoạn trước năm 1975, Nguyễn Minh Châu nhìn nhận, đánh giá chiến tranh thông qua các sự kiện, biến cố mang tầm vóc lịch sử và thời đại, thì đến giai đoạn sau 1975 nhà văn lại nhìn nhận chiến tranh từ tiêu điểm con người.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cái nhìn nhân bản của Nguyễn Minh Châu về hiện thực chiến tranh trong truyện ngắn sau năm 1975

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 33 (58) - Thaùng 10/2017<br /> <br /> <br /> <br /> Cái nhìn nhân bản của Nguyễn Minh Châu<br /> về hiện thực chiến tranh trong truyện ngắn sau năm 1975<br /> <br /> Nguyen Minh Chau’s humane view on the reality of war in short stories after 1975<br /> <br /> TS. Nguyễn Diệu Linh,<br /> Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> Nguyen Dieu Linh, Ph.D.,<br /> University of Sciences – Thai Nguyen University<br /> <br /> Tóm tắt<br /> Nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm 1975, có thể dễ dàng nhận<br /> thấy sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật của nhà văn. Nếu như ở giai đoạn trước năm 1975, Nguyễn<br /> Minh Châu nhìn nhận, đánh giá chiến tranh thông qua các sự kiện, biến cố mang tầm vóc lịch sử và<br /> thời đại, thì đến giai đoạn sau 1975 nhà văn lại nhìn nhận chiến tranh từ tiêu điểm con người. Trong<br /> đó, ông đi sâu khám phá những tính cách, số phận và cả những nỗi đau riêng của từng cá nhân. Nhà<br /> văn thể hiện rất rõ cái nhìn nhân bản đối với các vấn đề của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề hiện<br /> thực chiến tranh.<br /> Từ khóa: Nguyễn Minh Châu, cái nhìn nhân bản, hiện thực chiến tranh.<br /> Abstract<br /> Looking back on Nguyen Minh Chau’s compositions before and after 1975, it is easy to see the<br /> innovation of the writer's artistic thinking. Before 1975, Nguyen Minh Chau recognized and assessed<br /> the war through incidents and events bearing historical and contemporary stature, then in the post-1975<br /> period, the writer saw the war with human focus, on which he has deeply explored personality, fate and<br /> personal pain of each individual. The writer has clearly showed his humane view on issues of social life,<br /> including issues of the reality of war.<br /> Keywords: Nguyen Minh Chau, humane view, the reality of war.<br /> <br /> <br /> 1. hiện lại bức tranh khốc liệt ấy c ng những<br /> số phận éo le, bi kịch một cách sâu sắc và<br /> 1.1. Sự tàn khốc và nghiệt ngã của da diết. Qua những tác phẩm của mình,<br /> chiến tranh Nguyễn Minh Châu đã đưa ra cách nhìn<br /> Sau giai đoạn đổi mới, với khẩu hiệu: nhận mới mẻ về chiến tranh, về những “di<br /> “Nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, chứng” của chiến tranh đối với con người.<br /> nói rõ sự thật”, một số nhà văn đã nhận Chiến tranh đã l i xa, nhưng không hề phai<br /> thức lại nhiều vấn đề của chiến tranh. Là mờ trong ký ức của nhà văn. Ông đã nhìn<br /> một nhà văn - chiến sĩ, từng chứng kiến và nó với nhiều chiều kích khác nhau. Sự tàn<br /> tham gia vào những thời khắc ác liệt nhất khốc dai dẳng và dữ dội của chiến tranh<br /> của cuộc chiến, Nguyễn Minh Châu đã tái được tái hiện đúng như những gì nó đã<br /> <br /> 61<br /> CÁI NHÌN NHÂN BẢN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU VỀ HI N THỰC CHIẾN TRANH…<br /> <br /> <br /> diễn ra. Hiện thực ấy có khi là những chiến một sự đày đọa của chiến tranh lên con<br /> công vang dội, nhưng cũng có khi là những người nhỏ bé của cô.<br /> tổn thất trên nhiều mặt của đời sống xã hội, Khác với Q y, nhân vật Hạnh trong<br /> nhưng bi kịch nhất là trên phương diện tình Bên đường chiến tranh lại có một mối<br /> yêu. Nguyễn Minh Châu đã đáp ứng được tình đầu thầm lặng mà sâu sắc. Chiến tranh<br /> nhu cầu sâu thẳm của bạn đọc cũng như đã đưa Thụy đến bên cuộc đời Hạnh.<br /> của chính người cầm bút khi nhìn thẳng Nhưng cũng chính chiến tranh đã khiến họ<br /> vào những nỗi đau mà chiến tranh đem lại phải xa nhau quá nửa đời người. D sự gặp<br /> cho con người. gỡ ấy thỏa lòng mong mỏi của hai người,<br /> Qùy - nữ nhân vật chính trong Người nhưng không thể giúp họ trở về sống bên<br /> đàn bà trên chuyến tàu tốc hành có cả một nhau. Cuối truyện, sau khi gặp được Thụy,<br /> lịch sử tình trường dài dằng dặc và đẹp như Hạnh yên tâm theo chồng đi nơi khác và<br /> mơ bên những cánh rừng Trường Sơn trải nhường lại ngôi nhà của mình cho bộ đội.<br /> đầy bom đạn. Nhưng niềm khát khao đi Tình yêu đã giúp cho không khí chiến<br /> kiếm tìm sự hoàn mỹ và “thánh nhân” giữa tranh bớt đi sự ngột ngạt, nhưng nó lại<br /> cuộc đời đã khiến Q y trở thành “một con càng làm rõ hơn sự tàn nhẫn của cuộc<br /> chim mất bạn, núp vào xó nhà...chưa bao chiến, khắc sâu hơn nỗi đau mà họ phải<br /> giờ cảm thấy lẻ loi cô độc như vậy...” [2, gánh chịu. Chiến tranh đã đẩy họ xuống<br /> tr.160]. Chị chỉ còn là “cái xác, hai con mắt vực sâu của sự mất mát và tổn thương,<br /> sâu hoắm, thăm thẳm” [2, tr.160], đến nỗi khiến “bi kịch tình yêu” đeo bám tâm hồn<br /> “không khóc được, hai con mắt và cả người những con người ấy đến hết cuộc đời.<br /> như bị vắt kiệt hết nước” [2, tr.160]. Và sự Sự khốc liệt và nghiệt ngã của chiến<br /> day dứt, đau khổ, hối lỗi, hoang tưởng của tranh không chỉ hằn lên số phận những con<br /> tình yêu đổ vỡ đã ám ảnh dai dẳng suốt cả người đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia<br /> cuộc đời Quỳ. Chiến tranh đã không cho vào cuộc chiến mà còn được Nguyễn Minh<br /> Q y cơ hội để được “tắm mình” trong Châu miêu tả qua những cảnh tượng đổ nát,<br /> những phút giây hạnh phúc và yêu đương hoang tàn của cảnh vật, thiên nhiên một<br /> thật sự, theo đúng nghĩa của tình yêu. Quỳ cách chân thực mà vô c ng khủng khiếp.<br /> đã cống hiến hết mình cho những năm tháng Đặc biệt là mảnh đất miền Trung nghèo đói,<br /> tuổi trẻ nơi chiến trường. Chị nhìn thấy sự xác xơ trong Cỏ lau với “…cái thị xã<br /> khốc liệt của chiến tranh đã đè nát cuộc đời Quảng Trị này… chiến sự chà đi xát lại<br /> của những người quanh chị. Quỳ đã bước mấy phen, đến một nửa hòn gạch nguyên<br /> qua bom đạn, bước ra từ chiến tranh, tường lành cũng chẳng thấy, giá còn thì cũng<br /> chừng đó là chiến thắng, nhưng suốt phần không nằm ở chỗ nhà cũ”, “nhà cửa, phố xá<br /> đời còn lại chị phải mang bi kịch do chiến chỉ còn một đống gạch vỡ cho cỏ lau mọc”<br /> tranh để lại. Những tổn thương đã khắc sâu [2, tr.460]. Hình ảnh điêu tàn của mảnh đất<br /> và hằn vết trong trái tim người đàn bà đa miền Trung trong Miền cháy sau những<br /> cảm, khiến Q y trở thành một “bệnh nhân ngày tháng bom đạn đã gieo vào lòng người<br /> tâm thần” với căn bệnh mộng du. Đôi khi đọc nỗi xót xa, thương cảm. Trên mảnh đất<br /> những vết thương tinh thần còn đau đớn và ấy, là những cảnh chia ly, mất mát, là những<br /> dai dẳng hơn gấp nhiều lần vết thương trên người mẹ, người vợ…chờ đợi người thân<br /> thân thể. Và Q y đã phải chấp nhận nó, như trong vô vọng mỏi mòn.<br /> <br /> 62<br /> NGUYỄN DI U LINH<br /> <br /> <br /> Và sự tàn phá của chiến tranh cũng phận, trong: Bức tranh, Người đàn bà trên<br /> được miêu tả qua cái nhìn của Q y: chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau và Mùa trái<br /> “…trong các làng xóm vẫn còn tiêu điều cóc ở miền Nam. Đồng thời, nhà văn đã<br /> và nát như tương… Sau trận tàn phá của không ngần ngại thẳng thắn vạch trần bộ<br /> bom đạn Mỹ như nạn hồng thủy vừa tràn mặt đạo đức giả, sự vô ơn bội nghĩa, sự tha<br /> qua, cuộc sống của con người y như vừa hóa của những người lính đã không giữ<br /> mới bắt đầu” (Người đàn bà trên chuyến được nhân phẩm của mình. Chiến tranh đã<br /> tàu tốc hành) [2, tr.187]. Ngay đến cả ngôi sàng lọc phẩm giá con người đến mức đau<br /> đền linh thiêng nhất làng Thơi cũng bị xót. Chiến tranh cũng đã phanh phui đến<br /> “đánh bom nhiều đợt chỉ còn một hàng bậc trần trụi những sai lầm không chỉ của<br /> thềm xây đá Thanh” [2, tr.376]. người lính mà còn của cả một số vị lãnh<br /> Từ cái nhìn về hiện thực chiến tranh đạo chỉ huy của ta trong quân đội. Đây là<br /> mang tính chất khám phá, phát hiện, có điều nhạy cảm mà chưa một nhà văn nào<br /> chiều sâu, Nguyễn Minh Châu muốn phê c ng thời với Nguyễn Minh Châu nhắc đến<br /> phán cái nhìn lãng mạn, một chiều về cuộc trong những sáng tác của mình.<br /> sống. Nhà văn đặt ra vấn đề trách nhiệm Ngọn lửa chiến tranh đã giúp người<br /> của người nghệ sĩ, của nghệ thuật phải đào đọc nhìn nhận và đánh giá đâu là những<br /> sâu, phải phản ánh chân thực cuộc sống, d phẩm chất tốt đẹp, anh h ng, đâu là sự hèn<br /> thực tế ấy gai góc, x xì, quá phũ phàng, nhát, đố kỵ, hám lợi của con người. Ngay<br /> bất công, ngang trái. Đó chính là tư tưởng cả những nhân vật được nhà văn tôn vinh<br /> nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua như những anh h ng vẫn có những khuyết<br /> từng trang viết. điểm thậm chí tầm thường, đốn mạt… Mới<br /> 1.2. Sự xuống cấp đạo đức của con hôm qua có thể họ sẵn sàng hy sinh bản<br /> người trong chiến tranh thân cho lý tưởng cao đẹp, sát cánh c ng<br /> Sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã đồng đội, nhưng hôm nay khi được phong<br /> khai thác hình tượng người lính ở nhiều chức tước, quân hàm thì họ trở nên cao<br /> bình diện khác nhau. Đặc biệt là ở trạng ngạo, tự mãn, thậm chí có những hành<br /> thái tâm lý và nhân cách đạo đức. Bên cạnh động chỉ huy hết sức sai lầm, để rồi phải<br /> việc miêu tả những con người có lối sống trả giá bằng cả mạng sống và cuộc đời của<br /> trong sáng, có nhân cách, có ý chí, thể hiện những người lính khác.<br /> niềm tin yêu của tác giả đối với thế hệ trẻ, Toàn trong Mùa trái cóc ở miền Nam<br /> thì vẫn còn đó những con người có lối sống là một nhân vật như thế. Toàn được miêu<br /> tham lam, vị kỷ, biến chất, tha hoá nhân tả là một tay tiểu đoàn trưởng bạc bẽo, lạnh<br /> cách vì mải mê chạy theo chủ nghĩa vật l ng, ham hố quyền lực, địa vị… Sau khi<br /> chất, chủ nghĩa danh lợi “con người vì cái chiếm được căn cứ “con nhím” của địch,<br /> lợi vật chất đang hèn đi, tầm thường đi” Toàn đã vin vào kỷ luật quân đội biến<br /> (Ma Văn Kháng). Nhà văn đã mạnh dạn đề người lính anh h ng thành những người t<br /> cập đến những con người “rắn rết” trong khổ sai. Toàn bắt anh em trong tiểu đoàn<br /> hình dạng “rồng phượng”, là khuôn mặt “dầm mưa” luyện tập “đi đều” và hát<br /> “thiên thần” trong một tâm hồn “ác những bài hát ca ngợi người lính. Sự cứng<br /> quỷ”…, những con người chịu sự tác động nhắc trong suy nghĩ lãnh đạo và sự lạnh<br /> tiêu cực của chiến tranh lên tính cách và số l ng của một “bàn tay sắt” đã biến những<br /> <br /> 63<br /> CÁI NHÌN NHÂN BẢN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU VỀ HI N THỰC CHIẾN TRANH…<br /> <br /> <br /> người từng sát cánh bên Toàn trở thành khuyết trên cơ thể, thậm chí là cả những nhu<br /> những cỗ máy biết nói và thật nực cười. Sự cầu cá nhân tầm thường, ích kỷ. Anh “cũng<br /> nhẫn tâm lên đến đỉnh điểm trong cách chỉ mừng rỡ hí hửng khi được thăng cấp…<br /> huy sai lầm của Toàn là cái chết thương cũng chăn một đàn gà riêng, đánh một cái<br /> tâm của Phác - người anh em, người đồng quần xà lỏn đi phát rẫy, cũng yêu người<br /> đội đã vào sinh ra tử với anh. Cũng chính này, nói xấu sau lưng người kia” và đặc biệt<br /> vì địa vị quyền lực, Toàn đã tỏ ra thờ ơ, là “có mồ hôi tay, hai bàn tay lúc nào cũng<br /> lạnh nhạt với mẹ ruột vì hắn muốn mình có dấp dính” [2, tr.152]. Ngay đến chính bản<br /> một bản “lý lịch trong sạch” để thuận lợi thân Quỳ là một người đàn bà hoàn hảo, đẹp<br /> trên con đường thăng quan tiến chức. Đến về mọi mặt: thể xác, tâm hồn, tài năng, đức<br /> lúc này, Nguyễn Minh Châu không thể kìm hạnh… nhưng cũng mắc không ít sai lầm,<br /> nén nổi thái độ căm ghét mà phải thốt lên nhất là trong tình yêu với Hòa.<br /> rằng: “Lâu nay mình chỉ sống với người, Trong Cỏ lau, Lực - một phó chính ủy<br /> chỉ biết sống với người, với thần thánh, thì kiên trung, anh dũng cũng có những phút<br /> bây giờ hãy sống với quỷ, hãy chạm chén tầm thường. Chỉ vì sự ích kỷ, nhỏ nhen với<br /> với quỷ, quỷ già đời quỷ mới tập sự” một chút tư th cá nhân mà anh đã đẩy<br /> [2, tr.557]… Đây cũng là một hiện thực người lính vào chỗ chết. Không những thế,<br /> đau lòng tồn tại ngay trong hàng ngũ cách Lực luôn muốn che đậy những sai lầm khi<br /> mạng mà Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn chỉ huy trận đánh: “Trong khi chuẩn bị<br /> phanh phui trên trang giấy. trận đánh, tôi chỉ hạ lệnh mà không kiểm<br /> Đó còn là hình ảnh của Quang trong tra, và nhát sợ chết trong một lúc trận<br /> Cơn giông. Vì ham muốn quyền lực, muốn đánh quá ác liệt, đã để cho xe tăng địch<br /> được thỏa mãn những nhu cầu “dung tục khống chế được bãi tha ma, khi mà chúng<br /> thường ngày”, không chịu được cảnh thiếu ồ ạt phản kích vào lúc nửa đêm”. Sự thiếu<br /> thốn khi phải “ăn rau tàu bay, ăn củ đoác, trách nhiệm, “hục hặc, đòn phép, thậm chí<br /> uống nước suối để duy trì chiến đấu” là kèn cựa địa vị” [2, tr.152] đã dẫn đến sự<br /> [2, tr.227], Quang đã chạy sang hàng ngũ hy sinh, đổ máu vô nghĩa của những người<br /> địch, trở thành kẻ phản bội Tổ quốc. Thông lính trẻ. Nguyễn Minh Châu đã cay đắng<br /> qua Cơn giông, Nguyễn Minh Châu muốn nhận rằng: “chiến tranh làm con người ta<br /> nêu lên một thực trạng, người chiến sĩ cách hư hơn là làm cho người ta tốt hơn”<br /> mạng d chân chính đến đâu cũng có thể [2, tr.504]. Chiến tranh đã ném con người<br /> đánh mất mình, bị những lợi lộc, ham muốn vào vòng thử thách phẩm giá hết sức nghiệt<br /> tầm thường làm lu mờ lương tâm, phẩm ngã, nhưng nó cũng dạy cho mỗi người biết<br /> chất, nhân cách nếu không có một tinh thần hối lỗi và nhìn ra sai lầm.<br /> tỉnh táo, sự kiên định và lòng quả cảm. 2. K ám p á ỗ đ ị l<br /> Hòa - một Trung đoàn trưởng trong số ủ ữ ờ ậ<br /> Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Phản ánh nỗi đau riêng của từng con<br /> tuy là một người chỉ huy tài năng trong người cá nhân có ý nghĩa sâu sắc và đậm<br /> quân sự, nhạy bén trong chiến lược, am hiểu tính nhân văn. Nguyễn Minh Châu đã khắc<br /> binh pháp với những trận đánh thần thánh, họa những bi kịch ấy một cách chân thực,<br /> vang dội và được tôn vinh như một người không tô vẽ, gượng ép. Với cái nhìn nhân<br /> anh hùng, nhưng cũng có những khiếm bản, nhà văn đã thấy được miền đất mới<br /> <br /> 64<br /> NGUYỄN DI U LINH<br /> <br /> <br /> mà mình cần đi đến và khám phá. Bằng sự người sau chiến tranh. Họ hòa nhập vào<br /> đổi mới “thầm lặng” của một cây bút mẫn cuộc sống thường nhật với vô vàn những<br /> cảm với đời và tràn đầy tình yêu thương mất mát, đớn đau.<br /> con người, Nguyễn Minh Châu đã kéo gần Chúng ta đều biết rằng “chiến tranh<br /> khoảng cách giữa nhân vật văn học với đâu phải trò đùa”. Đó là chân lí, bởi chiến<br /> hiện thực cuộc sống, đưa văn học Việt tranh đã gây nên tội ác, những vết thương<br /> Nam tới chân trời của những cách tân và không thể hàn gắn. Cuộc đời và số phận<br /> đổi mới trong tư duy nghệ thuật. của anh lính Lực trong truyện ngắn Cỏ lau<br /> 2.1. Số phận của những người lính thật nghiệt ngã, trớ trêu. Bước vào cuộc<br /> chịu nhiều bất hạnh chiến, Lực mới là một thanh niên ngoài hai<br /> Văn học kháng chiến đã xây dựng hình mươi tuổi, còn khi trở về anh đã ngoài bốn<br /> ảnh những người lính hiên ngang trước đầu mươi. Chiến tranh đã lấy đi tuổi trẻ, hạnh<br /> đạn quân th . Họ luôn mang trong mình vẻ phúc lứa đôi và xót xa hơn, nó đã để lại<br /> đẹp lý tưởng, đại diện cho sức mạnh và ý trong anh một nỗi đau, một vết thương tinh<br /> chí của cả cộng đồng. Chiến tranh qua đi, thần không thể lành. Anh đã dằn vặt trong<br /> người lính hạnh phúc đón nhận sự tự do, sự đau đớn mà nghĩ rằng “Hai mươi bốn<br /> được rời tay súng với niềm tin về một cuộc năm, cả tôi và Thai đều đã già. Chúng tôi<br /> sống với những trọng trách lớn lao và mới đánh mất nhau suốt cả một thời trẻ tuổi,<br /> mẻ: kiến thiết và xây dựng đất nước. Thế nhưng trừ phi kẻ sống người chết, bây giờ<br /> nhưng, chưa hưởng hết niềm vui bất tận gặp nhau chúng tôi không thể nào quen<br /> của chiến thắng, người lính đã bừng tỉnh và được trông thấy mỗi người có một cuộc đời<br /> hụt hẫng bởi những khắc nghiệt, những lo khác. Chúng tôi vẫn còn yêu nhau. Tôi<br /> toan của cuộc sống thường ngày. Họ chao không dám nghĩ đến ngày mai Thai lại trở<br /> đảo giữa cuộc đời và nỗi đau đầu tiên đến về với gia đình. Tôi biết rằng chỉ có người<br /> với họ, chính là bi kịch “lạc thời”. Họ như đàn bà đang đi bên cạnh, giữa đáy con<br /> đứng ngoài xã hội, cô đơn giữa đồng loại sông khô này mới có thể xoa dịu bao nhiêu<br /> và lạc lõng trước cuộc sống mới. Ngày nào vết thương mà chiến tranh đã để lại trong<br /> những người lính còn sục sôi khí thế lên lòng tôi” [2, tr.517]. Lực trở về quê hương<br /> đường tham gia chiến đấu bảo vệ từng mái sau chiến tranh để nối lại cuộc sống hạnh<br /> nhà, và cả những người họ yêu thương, thì phúc xưa, nhưng rốt cục lại trở thành người<br /> trong khoảnh khắc của sự trở về, những thừa ngay trong chính ngôi nhà của mình.<br /> người lính lại cảm thấy bơ vơ trên chính Chiến tranh như “một nhát dao phạt<br /> mảnh đất từng thấm máu của mình, trong ngang” khiến cuộc đời Lực trở nên dang<br /> chính gia đình mà họ đã cất bước ra đi. Họ dở. Số phận của Lực tiêu biểu cho biết bao<br /> thành kẻ trắng tay khi mất đi tất cả: gia người lính trở về hậu phương phải chịu<br /> đình, vợ con, người yêu, bè bạn…Nếu cảnh mất người yêu, mất vợ, mất gia đình.<br /> trong chiến tranh, người lính có thể giải Nhưng không vì thế mà người lính xưa<br /> quyết mọi vấn đề một cách công minh và chạy trốn số phận, anh đã dũng cảm đối<br /> sòng phẳng thì trong thời bình, họ lại lúng mặt với sự thật nghiệt ngã ấy. Dường như<br /> túng trong việc ứng xử với các mối quan hệ Nguyễn Minh Châu chưa bao giờ mất đi<br /> xã hội đầy phức tạp. Nguyễn Minh Châu niềm tin vào những người lính. Vì thế mà<br /> luôn trăn trở với số phận của những con “Cái làm nên sự hấp dẫn của câu chuyện<br /> <br /> 65<br /> CÁI NHÌN NHÂN BẢN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU VỀ HI N THỰC CHIẾN TRANH…<br /> <br /> <br /> trong Cỏ lau không phải là việc khắc phục không dứt. Những phẩm chất cao đẹp của<br /> khó khăn, rắc rối trong khi đi tìm mộ các người lính giữa cuộc sống thường lại được<br /> chiến sĩ đã hy sinh ở chiến trường Quảng thử thách bởi những nghĩa vụ đời thường<br /> Trị, mà là câu chuyện đôi vợ chồng vì diễn ra âm thầm nhưng vô c ng khốc liệt.<br /> chiến tranh phải tan vỡ hạnh phúc, chuyện Nhà văn đã thể hiện sự trăn trở suy tư về số<br /> về thân phận những người đã trải qua hai phận của con người sau chiến tranh, khi họ<br /> cuộc chiến tranh, những hi sinh mất mát hòa nhập vào cuộc sống đời thường với<br /> của những người trẻ tuổi chiến đấu cho biết bao mất mát, đớn đau và thua thiệt.<br /> độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc, tự do của Nhưng tựu chung lại, điều cốt lõi mà nhà<br /> nhân dân” [7, tr.219]. văn muốn cho chúng ta thấy được là sự<br /> Những cô thanh niên xung phong trực khắc nghiệt và những khó khăn trong cuộc<br /> tiếp tham gia chiến đấu trên các cánh rừng sống thực tại đã đẩy người lính đến “tấn bi<br /> Trường Sơn như Q y (Người đàn bà trên kịch” của số phận.<br /> chuyến tàu tốc hành) có số phận đau đớn 2.2. Những người phụ nữ vượt lên số<br /> với một chuỗi bi kịch trong tình yêu. Tạo phận để sống đẹp<br /> hóa đã ưu ái cho Quỳ vẻ đẹp từ khuôn mặt Bên cạnh những câu chuyện về số<br /> đến dáng dấp, làm chết đứng bao chàng trai phận người lính, Nguyễn Minh Châu còn<br /> nơi chiến trường. Và cũng thật trớ trêu khi dành sự quan tâm đặc biệt tới người phụ nữ<br /> Q y bước vào tình yêu - sự khởi nguồn của với một sự cảm thông, thấu hiểu sâu sắc.<br /> hạnh phúc và cả những khổ đau, tê tái. Khi Nhà văn đã ghi dấu ngòi bút của mình qua<br /> yêu, có lúc chị mãnh mẽ, quyết liệt, sẵn một loạt sáng tác viết về kiểu nhân vật này<br /> sàng “vừa van lạy như một con nô lệ vừa với số lượng và nội dung khá dày dặn, như:<br /> rút súng K54 ra dạo” [2, tr.151], nhưng tiểu thuyết Những người đi từ trong rừng<br /> cũng lại có những phút giây chị trốn chạy, ra (1982), tập truyện ngắn Người đàn bà<br /> nhẫn tâm bỏ rơi người mà mình yêu tha trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê<br /> thiết. Và cũng chính tình yêu đã khiến cuộc (1985), Cỏ lau (1989)… Với các câu<br /> đời chị rơi vào những cơn mộng du triền chuyện này, Nguyễn Minh Châu đã đi sâu<br /> miên, không dứt. Sống trong cuộc đời mới vào những góc khuất, những bi kịch của<br /> nhưng Quỳ lại chìm đắm trong hoài niệm, người phụ nữ trong và sau chiến tranh.<br /> quá khứ với sự cô đơn hối tiếc khôn nguôi. Thông qua “những lát cắt của hiện thực”,<br /> Thế nhưng, nhờ có tình yêu của Hòa, của nhà văn đã làm sáng lên phẩm giá tốt đẹp<br /> Hậu, của Ph mà Quỳ đã không đánh mất của người phụ nữ ngay cả trong những thời<br /> chính mình, không làm mờ đi phẩm chất khắc khó khăn nhất của cuộc sống.<br /> cao đẹp của một người lính cũng như phẩm Những người phụ nữ nơi hậu chiến<br /> hạnh của một người phụ nữ mẫu mực. suốt chặng đường dài chiến tranh đã chôn<br /> Chiến tranh đã đi qua, nhưng ngọn lửa v i tuổi thanh xuân trong cô đơn và đợi<br /> nhiệt thành và nỗi đau của những người chờ vô vọng. D trong hoàn cảnh chiến<br /> lính thì còn mãi. Nguyễn Minh Châu đã đề tranh hay khi hòa bình lập lại, họ vẫn chấp<br /> cập tới số phận người lính ở nhiều khía nhận và sẵn sàng trở thành “hòn vọng phu”<br /> cạnh và bình diện khác nhau. Cái nhìn về với “những hình người đàn bà bằng đá đầy<br /> bi kịch của những con người hậu chiến cô đơn giữa trời xanh” [2, tr.518]. Đó là<br /> mang âm hưởng của nỗi đau, nỗi xót xa Thai trong Cỏ lau. Cũng giống như bao<br /> <br /> 66<br /> NGUYỄN DI U LINH<br /> <br /> <br /> người con gái khác, Thai ao ước có một sáng, bình yên.<br /> mái ấm gia đình và những đứa con. Chị kết Một trong những yếu tố quan trọng<br /> hôn với Lực, nhưng chưa đầy một tuần bên giúp cho những người phụ nữ vượt lên sự<br /> nhau anh đã phải ra chiến trường và rồi éo le của cuộc sống chính là chức năng<br /> Thai đau đớn nhận nhầm cái xác trôi sông thiên bẩm: thiên chức làm mẹ. Nguyễn<br /> là chồng mình. Nỗi đau ấy tưởng chừng đã Minh Châu viết về họ trong tư cách một<br /> ngủ yên trong kí ức, khi Thai quyết định đi người mẹ với một thái độ đầy ưu ái. Q y<br /> bước nữa với Quảng, người đã hết lòng yêu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành)<br /> thương, tôn trọng và cho chị mái nhà yên đã nói lên điều thiêng liêng này thật trân<br /> ấm. Nhưng trớ trêu thay, sau hai mươi bốn trọng: “Tôi đã trông thấy, tất cả cái phần<br /> năm xa cách, Lực quay trở về. Thai bị đặt sâu thẳm như một thiên phú riêng của tâm<br /> trong hoàn cảnh éo le khi phải đứng trước hồn những người đàn bà chúng tôi: Đó là<br /> sự lựa chọn giữa người cũ và kẻ mới: Lực, bản năng chăm lo, bảo vệ lấy sự sống của<br /> người đàn ông duy nhất mà chị yêu suốt con người - do chính chúng tôi mang nặng<br /> đời và Quảng - người chồng mới với những đẻ đau sinh ra. Đó là tình thương người<br /> đứa con... Cuộc gặp gỡ với Lực đã trỗi dậy bẩm sinh của nữ tính - sợi dây thần kinh<br /> trong chị tình yêu thời tuổi trẻ và dấy lên đặc biệt nhạy cảm của nữ giới chúng tôi”<br /> niềm đau đớn, ân hận. Tận đáy lòng, chị [2, tr.184].<br /> muốn b đắp và xoa dịu vết thương chiến Có thể nói, hình tượng người phụ nữ<br /> tranh đã để lại cho Lực: “Em sẽ van xin trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu<br /> anh ấy cho em được nuôi nấng mấy đứa sau năm 1975 luôn mang nét tính cách dịu<br /> con em. Anh ấy thương cho thì được, bằng dàng, nhưng ẩn chứa bên trong một khát<br /> không em cũng tay trắng trở về với anh. khao sống mạnh mẽ và quyết liệt. Tất cả<br /> Vớt vát mấy năm tuổi già, em sống với họ: Q y, Loan, Hạnh, Thai… đều là những<br /> anh” [2, tr.517]. Thế nhưng cuối cùng, người đàn bà thủy chung, son sắc, tình yêu<br /> Thai vẫn không thể chối bỏ trách nhiệm và của họ chỉ dành riêng cho một người. Tuy<br /> thiên chức làm mẹ của một người đàn bà. cuộc đời họ trải qua những bi kịch, nhưng<br /> Số phận đã an bài, chị không dễ gì thay đổi ở bất cứ hoàn cảnh nào, nỗi đau nào họ vẫn<br /> được hoàn cảnh và phải chấp nhận số phận chọn cho mình một cách sống đẹp, đầy<br /> éo le của mình. niềm tin và lạc quan vào cuộc sống. Họ là<br /> Loan trong Sống mãi với cây xanh những người phụ nữ có sự chịu đựng, sự hi<br /> may mắn hơn Thai bởi trước khi chồng hy sinh đầy cảm phục. Chính sự nhẫn nhịn ấy<br /> sinh, đã kịp để lại cho cô một đứa con. làm đẹp thêm “thiên tính nữ” của những<br /> Loan đã kìm nén nỗi đau riêng để nuôi dạy người phụ nữ với bản tính tốt đẹp không dễ<br /> đứa con trai khôn lớn và dành cho con tất gì bị thay đổi. Họ đã tự vươn lên thoát khỏi<br /> cả tình yêu của một người mẹ, cũng là tình hoàn cảnh éo le của cuộc sống, luôn giữ<br /> yêu của một người cha. Chiến tranh đã trong mình đức hy sinh cao cả, lòng thủy<br /> cướp Huân khỏi tay Loan nhưng suốt bao chung và giàu lòng yêu thương con người.<br /> năm sống trong cảnh mẹ góa con côi, cô Qua những tác phẩm của mình,<br /> vẫn giữ trọn tình yêu thủy chung với Nguyễn Minh Châu đã khai thác tận c ng<br /> chồng, chấp nhận cuộc sống cô đơn đến nội tâm nhân vật với những bi kịch số phận<br /> cuối đời và hy vọng vào một ngày mai tươi của mỗi người lính, mỗi người phụ nữ, để<br /> <br /> 67<br /> CÁI NHÌN NHÂN BẢN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU VỀ HI N THỰC CHIẾN TRANH…<br /> <br /> <br /> từ đó nhìn thấy rất nhiều vấn đề nổi cộm, K<br /> khẩn thiết mà trước đây văn học chưa nhìn 1. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam<br /> thấy và chưa dám động chạm tới. Nhà văn 1975 - 1995 những đổi mới cơ bản, Nxb<br /> cũng đã bộc lộ những nỗi day dứt về sự tha Giáo dục.<br /> hóa biến chất của con người bởi chiến 2. Nguyễn Minh Châu (2006), Tuyển tập truyện<br /> tranh. Chiến tranh có thể đem lại cho người ngắn, Nxb Văn học.<br /> lính những chiến thắng vinh quang nhưng 3. Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trước<br /> đèn, Nxb Khoa Học Xã Hội, H.<br /> nó cũng sẵn sàng lấy đi thiên lương và<br /> 4. Nguyễn Văn Công (2011), Những chuyển<br /> phẩm giá cao cả của những người không biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện<br /> vững tâm trên con đường cách mạng mà họ ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975, Luận văn<br /> đã chọn và chiến đấu vì nó. Phải chăng nhà thạc sĩ văn học, Trường Đại học Sư phạm<br /> văn đã ngộ ra rằng d là anh h ng thì vẫn Tp. Hồ Chí Minh.<br /> là con người, mà đã là con người thì không 5. Nguyễn Đăng Điệp (2006), Chân dung các<br /> nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục,<br /> thể không mắc sai lầm, không thể là thánh<br /> Hà Nội.<br /> nhân. Bằng thái độ nhìn thẳng, nói thật, 6. Nguyễn Trọng Hoàn (Giới thiệu và tuyển<br /> Nguyễn Minh Châu muốn nhấn mạnh sự chọn) (2004), Nguyễn Minh Châu về tác giả<br /> suy thoái đạo đức của con người sẽ là mầm và tác phẩm, Nxb Giáo dục.<br /> mống cho cái xấu, cái ác xuất hiện làm rối 7. Nhiều tác giả (2007), Truyện ngắn Nguyễn<br /> xã hội nếu như nó không bị lên án, không Minh Châu tác phẩm và lời bình, Nxb<br /> Văn học.<br /> được tiêu diệt đến tận gốc rễ.<br /> <br /> <br /> Ngày nhận bài: 20/9/2017 Biên tập xong: 15/10/2017 Duyệt đăng: 20/10/2017<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 68<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2