intTypePromotion=3

Chẩn đoán hình ảnh (có phân độ) chấn thương Lách

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
253
lượt xem
31
download

Chẩn đoán hình ảnh (có phân độ) chấn thương Lách

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chấn thương lách là 1 cấp cứu bụng ngoại khoa hay gặp nhất. Chẩn đoán chính xác mức độ chấn thương lách và các tổn thương phối hợp là rất quan trọng giúp lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp, giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Chẩn đoán hình ảnh là phương tiện giúp các bác sĩ lâm sàng thực hiện điều này, trong đó CT.Scanner là phương pháp chẩn đoán có giá trị cao. - Nguyên nhân: do tai nạn giao thông,tai nạn lao động,tai nạn sinh hoạt. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chẩn đoán hình ảnh (có phân độ) chấn thương Lách

  1. Chẩn đoán hình ảnh (có phân độ) chấn thương Lách I. Đại cương:. - Chấn thương lách là 1 cấp cứu bụng ngoại khoa hay gặp nhất. Chẩn đoán chính xác mức độ chấn thương lách và các tổn thương phối hợp là rất quan trọng giúp lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp, giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Chẩn đoán hình ảnh là phương tiện giúp các bác sĩ lâm sàng thực hiện điều này, trong đó CT.Scanner là phương pháp chẩn đoán có giá trị cao. - Nguyên nhân: do tai nạn giao thông,tai nạn lao động,tai nạn sinh hoạt. - Lâm sàng: + Đau vùng mạng sườn T sau chấn thương. + Bệnh nhân nằm trong bệnh cảnh choáng,sốc: mạch nhanh ,HA tụt,vã mồ hôi,da lạnh + Bụng chướng Khám lâm sàng l cách khó khăn II.Chẩn đoán hình ảnh :
  2. 1./ Chụp bụng không chuẩn bị. a./ Dấu hiệu trực tiếp: - Bóng mờ của lách to, bờ không đều. b./ Dấu hiệu gián tiếp: - Gãy các xương sườn cuối bên trái. - Vòm hoành bị đẩy cao, có thể bị xẹp vùng đáy phổi trái. - Dạ dày và đại tràng góc lách bị đè đẩy. - Liệt ruột với các quai ruột giãn chứa hơi. - Nếu có tràn dịch, tràn máu ổ bụng: Hình ảnh mờ vùng thấp thay đổi theo tư thế bệnh nhân. Rãnh đại tràng – thành bụng dầy và mờ. 2./ Siêu âm: Là thăm khám tốt nhất với độ nhạy 90% . a./ Dấu hiệu trực tiếp: - Đụng dập nhu mô lách : Nhu mô lách không đều, có các vùng giảm âm, đậm âm xen kẽ. - Khối máu tụ trong nhu mô lách: Hình ảnh thay đổi theo thời gian. Khối giảm âm, sau đó tăng âm, giảm âm, dịch hoá, tạo nang giả, vôi hoá. - Hình đường vỡ trong nhu mô lách giảm âm.
  3. - Tụ máu dưới bao: Hình thấu kính đè đẩy nhu mô và thay đổi cấu trúc âm theo thời gian ( tăng âm >> giảm âm). - Khi tổn thương có rách bao lách và nhu mô lách: Bao lách bị gián đoạn không liên tục. Dạng đường thẳng hay hình chan chim, tạo hình chêm đi từ bao lách vào trong nhu mô hình tăng âm bên cạnh giảm âm dạng dịch - Vỡ lách : Có thể thấyđ ường vỡ từ ngoài bao lách đến bên trong nhu mô làm lách tách thành hai mảnh rời, hay nhiều mảnh, hình ảnh siêu âm là đường tăng âm nham nhở có giảm âm dạng dịch bên cạnh, kèm theo là dịch máu tự do trong ổ bụng - Thương tổn cuống lách: Siêu âm nghi ngờ khi đường vỡ, đường rách đi ngang qua rốn lách b./ Dấu hiệu gián tiếp : - Tràn máu khoang phúc mạc: lượng ít ở tầng trên ổ bụng(quanh lách, khoang dưới hoành, khoang lách thận), lượng nhiều thấy khoang Morisson, ngách thành đại tràng hai bên, túi cùng Douglas - Tràn dịch màng phổi trái. 3./ Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: CT là phương tiện được chỉ định hàng đầu trong việc phát hiện, đánh giá, phân độ thương tổn. - Trong trường hợp lâm sàng và siêu âm không rõ ràng cần chụp CT ổ bụng có tiêm thuốc cản quang để chẩn đoán.
  4. a./ Trước tiêm : Có các dấu hiệu giống như trên siêu âm. - Lách to, bờ lách mất liên tục. - Nhu mô lách có tỉ trọng không đều nếu đụng dập nhu mô. - Tụ máu dưới bao lách hoặc tụ máu quanh lách, tụ máu trong ổ bụng nếu rách bao. b./ Sau tiêm thuốc cản quang: - Nhu mô lách ngấm thuốc không đều, có nhiều vùng không ngấm thuốc do đụng dập nhu mô. - Hình đường vỡ trong nhu mô lách rõ. - Tổn thương mạch máu : Nếu đứt hoàn toàn ĐM lách không ngấm thuốc sau tiêm, có thể thấy thuốc lưu thông và dừng lại ở vị trí tổn thương mạch…. III./ Phân độ vỡ lách 1./ Phân độ vỡ lách ( Theo AAST 1994 ). Độ I : - Tụ máu dưới bao < 10% bề mặt. - Rách nhu mô, đường vỡ sâu < 1cm. Độ II: - Tụ máu dưới bao 10%-15% bề mặt, tụ máu trong nhu mô đường kính < 5cm. - Đường vỡ sâu 1-3 cm không có tổn thương mạch.
  5. Độ III:- Tụ máu dưới bao > 50% bề mặt, tụ máu trong nhu mô > 5cm. - Đường vỡ sâu > 3cm liên quan đến mạch. Độ IV: - Rách nhu mô sâu có tổn thương mạch rốn lách với mất mạch ( giảm tưới máu > 25% ). Độ V: - Rách nhu mô: Lách vỡ nhiều mảnh. - Mất mạch toàn bộ lách. 2. Phân độ vỡ lách (Theo Mirvis 1989 ). Độ I : - Tụ máu dưới bao hoặc trong nhu mô d < 1cm. - Đường vỡ sâu < 1cm. Độ II:- Tụ máu dưới bao hoặc trong nhu mô d 3cm. - Đường vỡ sâu > 3cm. Độ IV: - Lách vỡ trên 3 phần. - Mất mạch lách.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản