intTypePromotion=1

Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hóa ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
3
lượt xem
0
download

Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hóa ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài viết này, nhóm tác giả đánh giá thực trạng am hiểu tài chính và giáo dục tài chính của Việt Nam, nhận diện những thách thức đối với tài chính toàn diện của Việt Nam nếu thiếu hụt giáo dục tài chính. Trên cơ sở xem xét những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình giáo dục tài chính quốc gia tại Nhật Bản và Thái Lan đưa ra một số đề xuất về chương trình giáo dục tài chính quốc gia hướng đến mục tiêu thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam trong bối cảnh số hóa ngành tài chính.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hóa ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam

  1. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam1 Trần Thanh Thu Đào Hồng Nhung Khoa Tài chính doanh nghiệp, Học viện Tài chính Ngày nhận: 03/12/2019 Ngày nhận bản sửa: 08/07/2020 Ngày duyệt đăng: 25/08/2020 Giáo dục tài chính, nhân tố được đánh giá là chiếc cầu nối giữa bên cung và bên cầu của tài chính toàn diện, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao mức độ am hiểu tài chính quốc gia, thúc đẩy tài chính toàn diện, đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính. Tại khu vực châu Á, phần lớn các nước đã xây dựng và triển khai chương trình giáo dục tài chính quốc gia, trong khi Việt Nam vẫn chưa có. Trong bài viết này, nhóm tác giả đánh giá thực trạng am hiểu tài chính và giáo dục tài chính của Việt Nam, nhận diện những thách thức đối với tài chính toàn diện của A national financial education program in the context of financial digital- A review and recommendations for Vietnam Abstract: Financial education, a factor bridging the supply and demand side of financial inclusion, plays a key role in enhancing the level of national financial literacy, promoting financial inclusion, and ensuring the stability of financial market. In Asia, while most countries have developed and implemented a financial education program at national level, the Vietnamese Government has not had an official national program to raise financial knowledge and financial literacy yet. In this study, the authors assess financial literacy and financial education in Vietnam, identifying the challenges to Financial Inclusion in case of no financial education program. Based on the lessons of other countries in building a national education program, the authors make some recommendations for planning Vietnamese financial education program towards the objective of promoting Financial Inclusion. Keywords: Financial Literacy, Financial Education program, Financial Inclusion, Financial Digital, Vietnam Thu Thanh Tran Email: tranthanhthu308@gmail.com Nhung Hong Dao Email: nhungpttc@gmail.com Organization of all: Faculty of Corporate Finance, Academy of Finance 1 Bài báo là một phần nội dung của Đề tài Nhà nước tại Bộ Khoa học Công nghệ “Giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam” mã số KX.01.30/16-20 do PGS. TS. Chúc Anh Tú làm Chủ nhiệm đề tài. © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng ISSN 1859 - 011X 71 Số 221- Tháng 10. 2020
  2. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam Việt Nam nếu thiếu hụt giáo dục tài chính. Trên cơ sở xem xét những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình giáo dục tài chính quốc gia tại Nhật Bản và Thái Lan, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất về chương trình giáo dục tài chính quốc gia hướng đến mục tiêu thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam trong bối cảnh số hóa ngành tài chính. Từ khoá: Am hiểu tài chính, chương trình giáo dục tài chính, tài chính toàn diện, số hoá tài chính 1. Giới thiệu tiện, phù hợp với nhu cầu, với chi phí hợp lý, được cung cấp một cách có trách nhiệm Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và bền vững, trong đó chú trọng đến nhóm 2007- 2008, tài chính toàn diện (Financial người nghèo, người thu nhập thấp, người Inclusion) đã trở thành vấn đề trọng tâm yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh trong các chương trình hành động xuyên nghiệp siêu nhỏ”. quốc gia nhằm đảm bảo một thị trường tài chính ổn định và bền vững. Tháng 10/2013, Đồng thời, những nỗ lực về việc rút ngắn Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB) đã khoảng cách vùng miền trong tiếp cận tài đưa ra mục tiêu đến năm 2020 mỗi người chính của Chính phủ được thấy rõ qua các trưởng thành phải có một tài khoản giao chương trình tín dụng cho nông nghiệp dịch. Liên Hợp Quốc cũng đưa tài chính nông thôn (Nghị định 55/2015/NĐ-CP), toàn diện vào một trong số các giải pháp Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài để đạt mục tiêu phát triển bền vững đến chính vi mô tại Việt Nam (Quyết định số năm 2030. Các quốc gia ASEAN đã thành 2195/QĐ-TTg). Đặc biệt, trong bối cảnh lập Uỷ ban Công tác về tài chính toàn diện cách mạng công nghiệp lần thứ tư, số hoá (WC-FINC) từ năm 2016 với mục tiêu hợp ngành dịch vụ tài chính đã mở ra cánh cửa tác thúc đẩy tài chính toàn diện trên toàn mới cho tài chính toàn diện khi cơ hội tiếp khu vực cũng như tại các quốc gia thành cận các dịch vụ tài chính của người dân và viên. Tài chính toàn diện đã trở thành mục doanh nghiệp được gia tăng nhờ công nghệ tiêu tài chính quốc gia của rất nhiều nền số. Chính phủ cũng đã phê duyệt và triển kinh tế. Tính đến năm 2017, có 34 quốc khai nhiều chương trình thúc đẩy hoạt động gia đã triển khai chiến lược tài chính toàn này, từ việc thúc đẩy thanh toán phi tiền diện, 29 quốc gia đang xây dựng chiến lược mặt đến tăng cường ứng dụng công nghệ số (WB, 2017). Không nằm ngoài xu thế đó, vào khu vực dịch vụ công. Chính phủ Việt Nam đã có những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể nhằm Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ tài nâng cao tài chính toàn diện. Tại Quyết chính ngân hàng của Việt Nam còn khá định số 149/QĐ-TTg ngày 20/01/2020 nhiều khoảng trống, đặc biệt là khoảng của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến trống về kiến thức tài chính. Kết quả điều lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm tra của S&P năm 2014 cho thấy tỷ lệ dân 2025, định hướng đến năm 2030, tài chính số trưởng thành có am hiểu về tài chính toàn diện là “việc mọi người dân và doanh chiếm 25%. Việt Nam đứng thứ 16/17 nghiệp được tiếp cận và sử dụng các sản nước về am hiểu tài chính theo điều tra của phẩm, dịch vụ tài chính một cách thuận Master Card năm 2015. Năm 2016, theo 72 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  3. TRẦN THANH THU - ĐÀO HỒNG NHUNG ADBI và OECD, điểm am hiểu tài chính Am hiểu tài chính là một khái niệm nhiều của Việt Nam là 11,6, thấp hơn nhiều nước tầng nấc, phản ánh không chỉ kiến thức mà trong khu vực châu Á như Hong Kong còn là kỹ năng, thái độ, và hành vi thực tế. (14,5), Hàn Quốc (14,3), Thái Lan (12,8), Một khái niệm rộng hơn am hiểu tài chính, Malaysia (12,3). Lý do chính của tình trạng được sử dụng rộng rãi hơn là năng lực hành này là do Việt Nam chưa có chiến lược vi tài chính (financial capability). Khái giáo dục tài chính quốc gia. Trong khi phần niệm này được WB (2013) định nghĩa là lớn các nước trong khu vực như Thái Lan, khả năng nội tại của các cá nhân và hộ gia Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore đình trong việc đưa ra các quyết định tối ưu đã xây dựng và triển khai chiến lược giáo về tài chính trong các điều kiện môi trường dục tài chính quốc gia, hoạt động này tại kinh tế- xã hội. Việc đánh giá có thể được Việt Nam còn khá sơ khai và mang tính thực hiện thông qua những câu hỏi khách chất tự phát là chính (Yoshino và cộng sự, quan (objective questions) hoặc những câu 2015; Morgan và Trịnh, 2017; GIZ, 2018). hỏi tự đánh giá (self evaluated questions). Trong bảng hỏi điều tra của OECD/INFE Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc (2016) trên 30 quốc gia, am hiểu tài chính biệt là công nghệ số vào ngành dịch vụ tài được chia thành ba khía cạnh, gồm (i) kiến chính sẽ mang đến cho người dùng những thức tài chính, (ii) hành vi tài chính, và (iii) cơ hội tiêu dùng và trải nghiệm mới, sản thái độ đối với lập kế hoạch tài chính dài phẩm đa dạng và đáp ứng được đòi hỏi đa hạn. Kiến thức tài chính giúp các cá nhân diện của người tiêu dùng. Song nó cũng so sánh các sản phẩm tài chính và đưa ra đặt ra những thách thức không nhỏ đối với quyết định tài chính phù hợp và toàn diện người dùng trong việc lựa chọn sản phẩm về mặt thông tin. Hành vi tài chính phản dịch vụ phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích ánh sự lựa chọn của người tiêu dùng giữa của mình trong không gian số. Trong bối thực hiện hay không thực hiện các quyết cảnh đó, giáo dục tài chính được xem là định tài chính. Hành vi tài chính có tác nhân tố đóng vai trò kép, xoá bỏ những rào động đến tình hình tài chính và sự an toàn cản từ phía cầu đối với mục tiêu nâng cao tài chính của cá nhân. Thái độ tài chính cho tài chính toàn diện và kết nối yếu tố cung biết khẩu vị thời gian cũng như mức độ sẵn với yếu tố cầu. lòng lập kế hoạch tiết kiệm dài hạn. Điều này có thể thấy thông qua sự đối ngược Trong khuôn khổ của bài viết này, nhóm tác giữa hai quan điểm tiêu dùng “sống và chi giả chỉ ra sự cần thiết của việc tăng cường tiêu cho hiện tại” và “tiết kiệm cho sự an am hiểu tài chính và xây dựng chương trình toàn trong tương lai”. giáo dục tài chính quốc gia tại Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ kinh nghiệm xây dựng Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy và triển khai chương trình giáo dục tài mức độ am hiểu tài chính của người dân chính tại một số nước trong khu vực, nhóm ở mức rất thấp so với các quốc gia trong tác giả đưa ra một số đề xuất về xây dựng khu vực và trên thế giới. Thứ hạng của Việt chương trình quốc gia về giáo dục tài chính Nam theo Master Card Financial Literacy tại Việt Nam trong thời gian tới. giai đoạn 2013-2015 lần lượt là 12/16, 11/16, 16/17. Theo Đinh Thị Thanh Vân 2. Thực trạng am hiểu tài chính và giáo & Nguyễn Thị Huệ (2017), năm 2013, chỉ dục tài chính tại Việt Nam 51% người đi vay từng nghe và hiểu về Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 73
  4. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam thời hạn vay. Kết quả điều tra tại 7 trường Hong Kong hay Hàn Quốc. Kết quả điều tra phổ thông ở TP Hồ Chí Minh năm 2012 sinh viên tại các trường đại học TP. Hồ Chí và 2013 cho thấy chỉ có 17,2% học sinh Minh năm 2016 (OECD, 2016) cho thấy, có biết cách tiết kiệm và chỉ sử dụng một phần đến 47% sinh viên tự đánh giá mình không tiền, 8,8% tiêu toàn bộ số tiền có được có bất kỳ kiến thức gì về tài chính. Đồng (Đinh Thị Vân Anh & Nguyễn Thị Huệ, thời, đối với những cá nhân có kinh nghiệm 2017). Điều tra của OECD năm 2014 cho làm việc trung bình 5 năm, điểm am hiểu tài thấy có 33% người trả lời không thiết lập chính (ở mức độ căn bản) chỉ đạt 2,411/5. ngân quỹ từ thu nhập và quản lý chi tiêu. Điều này cho thấy người trưởng thành Việt Nghiên cứu của WB (2014) cho thấy chỉ Nam chưa có nhận thức đúng về tầm quan có 4,5% số người trưởng thành (từ 18 tuổi trọng của am hiểu tài chính. Ngoại trừ sinh trở lên) có trình độ tiểu học có tài khoản viên hoặc những người đi làm trong lĩnh tại ngân hàng; tín dụng phi chính thức là vực, ngành nghề có liên quan, khái niệm nguồn cung chính cho các cá nhân có thu tài chính và kiến thức kinh tế tài chính còn nhập thấp, sống ở khu vực nông thôn, có tương đối xa lạ với bộ phận dân cư còn lại. trình độ học vấn thấp. Chỉ có 30% doanh Nghiên cứu của Morgan & Trinh (2017) nghiệp nhỏ và vừa (SME) có sử dụng tín cho thấy có 59,4% số người được hỏi tại dụng chính thức. Những sản phẩm tín dụng khu vực thành thị của Hà Nội và TP. Hồ tiêu dùng như Home Credit còn mới đối Chí Minh cho rằng mình có mức am hiểu với thị trường. Kết quả điều tra năm 2013 tài chính trung bình. Chỉ có 13% tự đánh của HomeCredit trên 1.000 hộ gia đình có giá mình ở mức khá cao. Kết quả này cũng thu nhập trung bình ở khu vực thành thị tương đồng với điều tra của Nguyễn (2016) cho thấy 51% có kiến thức tốt về tín dụng khi điểm cho am hiểu tài chính (ở cấp độ tiêu dùng, 42% có kiến thức hạn chế, và cao) chỉ đạt 2,711/5 (Bảng 2). 7% không biết gì về tín dụng tiêu dùng (Le Van Luyen & Nguyen Hong Hiep, 2017). Bên cạnh đó, tính ứng dụng kiến thức tài chính vào thực tiễn còn thấp. Mặc dù những Có thể thấy điểm am hiểu tài chính của Việt chương trình giáo dục tài chính đã được Nam thấp nhất trong khu vực, chỉ đứng trên triển khai, song theo kết quả điều tra của Cam-pu-chia và thấp hơn rất nhiều so với RoboCash Group năm 2019, có đến 90% Bảng 1. Mức am hiểu tài chính tại một số quốc gia châu Á* Quốc gia Kiến thức Hành vi Thái độ Tổng HongKong 5,8 6,0 2,7 14,5 Hàn Quốc 5,4 5,7 3,2 14,3 Thái Lan 3,9 5,8 3,1 12,8 Malaysia 3,6 5,7 3,0 12,3 Cam-pu-chia 3,5 5,2 2,8 11,5 Việt Nam 3,6 5,0 3,0 11,6 *Ghi chú: Kết quả điều tra dựa trên bảng hỏi của OECD (2016). Mẫu nghiên cứu là người trưởng thành, trong đó: HongKong 1.000; Hàn Quốc 2.424; Thái Lan 10.000; Malaysia 2.889; Cam-pu-chia 1.035 (chủ yếu thủ đô PnomPenh); Việt Nam 1.000 (chủ yếu Hà Nội & TP. HCM) Nguồn: OECD (2016), Morgan & Trinh (2017) 74 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  5. TRẦN THANH THU - ĐÀO HỒNG NHUNG Bảng 2. Mức độ am hiểu tài chính của người trưởng thành Chỉ tiêu Trung bình Lớn nhất Nhỏ nhất Độ lệch chuẩn Điểm am hiểu tài chính căn bản 2,411 5 0 1,33 Điểm am hiểu tài chính cao cấp 2,711 7 0 2,25 Điểm am hiểu tài chính tích luỹ 5,12 12 0 3,3 Kinh nghiệm làm việc 4,86 36 0 8,41 Mức độ độc lập tài chính 73,95 100 0 28,82 Nguồn: Số liệu từ khảo sát trên 435 sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh, thực hiện bởi Nguyễn Thị Hải Yến (2016) người sử dụng thương mại điện tử phải mua sắm lớn. Đây là chương trình tư vấn đối mặt với việc thiếu hụt dòng tiền; 24% tài chính với tên gọi “Think it through, sign số người được hỏi đánh giá mức hiểu biết it wisely” dành cho vay tiêu dùng. Đại diện trung bình; nhưng có đến 93% người Việt của Home Credit cho biết những khách Nam không hứng thú với việc cải thiện hàng nữ từ 25~50 tuổi đủ điều kiện vay. tình hình (Dougn, 2019). Điều này đòi hỏi Những người tham quan có thể tham gia những chương trình đào tạo nâng cao am những thử thách về tài chính và giành phần hiểu tài chính trong tương lai phải có tính thưởng cũng như có thêm những thông tin thực tiễn và tạo động lực cho người dân. tài chính từ sổ tay tài chính. Một số chương trình giáo dục tài chính tiêu ○○ Creative Wealth Vietnam: Đây là biểu trước năm 2015 phải kể đến là (Phạm chương trình được điều hành bởi Creative Mạnh Hùng, 2017): Wealth- Mỹ, dành cho trẻ em nhằm giúp trẻ em có được trách nhiệm cao nhất với ○○ Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP): số tiền có được từ cha mẹ và họ hàng cũng Chương trình giáo dục tài chính bắt đầu như hiểu cách sử dụng tiền. năm 2007 và được tài trợ bởi City Group. Chương trình hướng đến đối tượng là hộ ○○ VISA: Chương trình thực hành quản lý nghèo ở khu vực Hà Nội và lân cận. Năm tài chính tài trợ bởi VISA, hợp tác với Citi 2016, VBSP đào tạo tài chính cho chương Foundation, Công ty quan hệ công chúng trình nuôi cá theo vùng tại Nam Á và Đông Ogilvy, và Trung ương Hội sinh viên Việt Nam Á. Nam. Những video này được công khai vào năm 2012 và nhận được hàng triệu ○○ HSBC Việt Nam: Năm 2012, HSBC lượt xem (tại https://www.youtube.com/ Việt Nam giới thiệu chương trình giáo dục watch?v=R55kRHo5Ba0&t=39s) tài chính gồm thư viện online với 10 nội dung (tài chính cá nhân và tài chính doanh ○○ Sacombank: Nhận diện tầm quan trọng nghiệp) và chương trình thí điểm ở trường của những kỹ năng tài chính dành cho đối tiểu học với tên gọi “Junior Achievement tượng trẻ em, Sacombank giới thiệu chương More than Money”. trình giáo dục tài chính cho trẻ em. Nội dung của chương trình tập trung vào việc trả lời ○○ Home Credit: Chương trình bắt đầu từ câu hỏi của giáo viên và cha mẹ về cách thức năm 2013 và hợp tác với những trung tâm quản lý tiền bạc hiện đại cho trẻ em. Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 75
  6. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam ○○ Save the Children và Citi Foundation: duc-tu-duy-tai-chinh-va-khoi-nghiep-vao- Quỹ Save the Children và Citi Foundation chuong-trinh-chinh-khoa-2/). Chương trình triển khai chương trình thí điểm tại các gồm ba nội dung là kiến thức tài chính, kiến trường trung học TP. Hồ Chí Minh trong thức kinh doanh và tinh thần khởi nghiệp, 4 năm từ 2009~2013 với sự tham gia của hướng nghiệp. Tập đoàn Bảo Việt cũng triển 3.000 học sinh và 300 cha mẹ. Nội dung khai chương trình truyền thông về bảo hiểm của chương trình là giúp học sinh biết cách nhân thọ nhằm thay đổi nhận thức của người chi tiêu, giá trị thời gian của tiền, rủi ro, và dân về sản phẩm bảo hiểm. cách lập kế hoạch tài chính cá nhân. Một xu hướng mới nổi là sự kết nối các Sự bùng nổ của Internet và mạng xã hội gần trí thức Việt Nam để hình thành các cộng đây đã cho phép các chương trình giáo dục đồng hoặc các tổ chức phi lợi nhuận nhằm tài chính tại Việt Nam đa dạng về phương nâng cao kiến thức tài chính cho người dân. thức, phong phú về nội dung và có sức ảnh Microfinance Vietnam (VMFWG) thuộc hưởng đến cộng đồng cao hơn. Đồng thời, Hiệp hội SMEs Việt Nam cung cấp những sự tham gia của các tổ chức tài chính như khoá đào tạo về quản lý tài chính cho nông ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty dân, các hộ kinh doanh cá thể, SMEs. Đồng bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư vào thời, tổ chức này cũng kết nối các tổ chức hoạt động giáo dục tài chính ngày càng sâu thành viên để liên tục cập nhật những kiến rộng, gắn liền với chiến dịch truyền thông thức và cơ hội đầu tư mới nhất cho các quảng bá sản phẩm, ngày hội nghề nghiệp, nhà đầu tư. Vietnam Financial Literacy hoặc các gameshow thực tế. Các trường Network (VietFinlit) là một nhóm nghiên quốc tế tại Việt Nam với tư duy giáo dục cứu tài chính cá nhân với sự tham gia của khai phóng đã có những chương trình giáo các học giả, nghiên cứu viên hàng đầu về dục tài chính cho cả giáo viên và học sinh lĩnh vực này tại Việt Nam. Tổ chức này nhằm thay đổi hành vi tiêu dùng của học sinh cũng cung cấp các khoá đào tạo và phổ cập cũng như cha mẹ học sinh. Tiêu biểu phải kể kiến thức tài chính cho cá nhân và doanh đến gameshow “Những đứa trẻ thông thái” nghiệp, chú trọng đến đối tượng sinh viên (VTV1) và “Tiền khéo tiền khôn” (VTV3), và SMEs (tại http://tccn.ueb.edu.vn/Page- chương trình hợp tác giữa Vụ truyền thông 4/Su-menh.html). NHNN phối hợp với VTV nhằm giáo dục tài chính cho trẻ. Chương trình hướng đến Như vậy, có thể thấy, mặc dù Chính phủ mục tiêu thay đổi hành vi, giảm chi phí xã chưa có những chính sách cụ thể về chương hội, đảm bảo an toàn, bảo mật và giảm thiểu trình giáo dục tài chính quốc gia, các cá rủi ro cho người sử dụng dịch vụ tài chính nhân, tổ chức, doanh nghiệp đã tự kết nối ở Việt Nam; hướng dẫn các dịch vụ thanh để cung cấp các chương trình nhằm nâng toán, cách sử dụng thẻ, dịch vụ tiêu dùng cá cao mức độ am hiểu tài chính cho người nhân, cung cấp thông tin. dân cũng như doanh nghiệp tại Việt Nam. Tháng 4/2018, Vinschool đưa chương trình 3. Số hoá ngành tài chính tại Việt Nam Giáo dục Tư duy tài chính và khởi nghiệp và sự cần thiết của chương trình giáo cho học sinh phổ thông qua ký kết hợp tác dục tài chính quốc gia với JA và BK Holdings (tại https://vinschool. edu.vn/news_event/vinschool-dua-giao- Số hoá ngành tài chính là xu hướng đã và 76 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  7. TRẦN THANH THU - ĐÀO HỒNG NHUNG Bảng 3. Những dấu mốc quan trọng của Fintech thế giới và Việt Nam Thời gian Thế giới Việt Nam 2000 Năm bắt đầu kỷ nguyên của Fintech 2005 Thanh toán P2P Nền tảng thanh toán di động đầu tiên được giới Ví điện tử thiệu ở thị trường Việt Nam Điện toán đám mây Thanh toán không tiếp xúc 2010 Giới thiệu Bitcoin và P2P 2011 giới thiệu ứng dụng quản lý tài sản cá nhân Quỹ cộng đồng đầu tiên Công nghệ DLT 2013 giới thiệu quỹ gọi vốn cộng đồng đầu tiên, Tăng cường AI vào tài chính POS, quản lý dữ liệu, công nghệ Blockchain Ngân hàng công nghệ 2014 lần đầu tiên có P2P và so sánh dữ liệu 2015 ngân hàng số đầu tiên được thành lập 2016 huy động vốn cho các startups Fintech như Amigo, Payoo, Momo, VNPT E-Pay 2018 Trái phiếu Blockchain Tốc độ gia tăng của các sản phẩm tài chính Phát hành thẻ Apple +12,8% của thanh toán di động Blocktrack nhận giấy phép + 31,2% của tài chính cá nhân hoạt động của ngân hàng +35,9% của giải pháp tài chính doanh nghiệp Nguồn: Báo cáo của IMF-World Bank (2018) và MBS (2018) đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới trong (i) Fintech Việt Nam bùng nổ và phát vòng 10 năm trở lại đây với việc ứng dụng triển cùng với làn sóng khởi nghiệp trong công nghệ số như Blockchain, AI, IoT, và khuôn khổ đề án quốc gia khởi nghiệp điện toán đám mây vào lĩnh vực tài chính. của Chính phủ. Quyết định 844/QĐ-TTg Kết quả của sự kết hợp này, cụ thể là Fintech, của Thủ tướng chính phủ chính thức phê được kỳ vọng rằng sẽ tạo ra những thúc đẩy duyệt đề án xây dựng hệ sinh thái khởi to lớn đến thị trường tài chính nói chung và nghiệp tại Việt Nam, cùng với nỗ lực đưa tài chính toàn diện nói riêng. Những công Việt Nam trở thành quốc gia khởi nghiệp ty Fintech đầu tiên của Việt Nam xuất hiện đổi mới sáng tạo là những tiền đề quan trong lĩnh vực thanh toán năm 2005 với trọng để nuôi dưỡng và phát triển Fintech hai doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực tại Việt Nam. Theo kết quả điều tra của thanh toán là VNPay và Payoo. Tuy nhiên, Fintechnews Singapore, có khoảng 60% làn sóng Fintech tại Việt Nam chỉ thực sự đến 70% số doanh nghiệp Fintech tại Việt bùng nổ sau năm 2015 cùng với đề án đưa Nam là startups. Các doanh nghiệp này cấu Việt Nam trở thành quốc gia khởi nghiệp thành hệ sinh thái Fintech với những lĩnh đổi mới sáng tạo trong bối cảnh cuộc cách vực hoạt động khác nhau. Năm 2017, hệ mạng công nghiệp 4.0. Những dấu mốc sinh thái khởi nghiệp Fintech có 48 doanh quan trọng của Fintech thế giới và Việt nghiệp, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực Nam được thể hiện ở Bảng 3. thanh toán di động và chuyển tiền. Đến năm 2019, con số này tăng gấp 2,5 lần, Một số đặc điểm nổi bật của Fintech tại giả trên cơ sở phỏng vấn các công ty Fintech tại Hà Nội Việt Nam1 gồm có: và Tp.Hồ Chí Minh từ tháng 9- 12/2019, kết hợp với nội dung buổi hội thảo trong khuôn khổ Diễn đàn công 1 Nội dung nghiên cứu này là quan điểm của nhóm tác nghệ tài chính Việt Nam- FVF 2019 ngày 08/11/2019. Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 77
  8. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam Bảng 4. Hệ sinh thái khởi nghiệp Fintech tại Việt Nam giai đoạn 2017- 2019 Lĩnh vực cung cấp Năm 2017 Năm 2019 2019/ Số lượng % Số lượng % 2017 Thanh toán/chuyển tiền 26 54,16 35 31,81 +9 Quản lý TCCN 4 8,33 Quản lý tài sản 0 0 9 8,18 +9 Cho vay ngang hàng 3 6,25 23 20,90 +20 Quản lý dữ liệu/Xếp hạng tín dụng 4 8,33 6 5,45 +2 Gọi vốn cộng đồng 4 8,33 6 5,45 +2 Huy động vốn cho SME 0 0 3 2,72 +3 Blockchain/Crypto 4 8,33 18 16,36 +14 POS 3 6,25 10 9,09 +7 Công nghệ bảo hiểm 0 0 0 0 0 Tổng 48 100 110 100 Nguồn: Báo cáo của IMF-World Bank (2018) và MBS (2018) lên đến 110 doanh nghiệp, mở rộng sang điểm đến của các công ty Fintech toàn cầu. những lĩnh vực hoạt động như quản lý tài sản hay gọi vốn cộng đồng. Đây là kết quả (iii) Đã hình thành hệ sinh thái Fintech với của những cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù ba trụ cột chính là (1) các nhà cung cấp dành cho Fintech, đặc biệt là vai trò tiên dịch vụ Fintech; (2) các đối tượng sử dụng phong của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sản phẩm dịch vụ Fintech; (3) các nhà đầu (NHNN) trong tiến trình số hoá ngành dịch tư cho Fintech. Đối với nhóm các nhà cung vụ tài chính ngân hàng. cấp dịch vụ Fintech, có thể nhận thấy vốn xu hướng chính tại Việt Nam. Thứ nhất, (ii) Lĩnh vực hoạt động của các công ty bên cung cấp dịch vụ là các công ty Fintech Fintech có sự dịch chuyển về cơ cấu, tiệm thuần tuý. Tỷ lệ các công ty Fintech Việt cận dần với cơ cấu Fintech châu Á và Nam tại VietFintech 2019 là khoảng 46%. thế giới. Năm 2017, trong số 48 công ty Ngoài các quỹ đầu tư mạo hiểm truyền Fintech khởi nghiệp có 26 công ty cung cấp thống như Vina Capital, Mekong Capital, dịch vụ thanh toán di động và chuyển tiền, IDG, những thương vụ lớn trong năm 2019 chiếm 50% số lượng các công ty Fintech. cho thấy sự tham gia của các quỹ đầu tư Sang đến năm 2019, số lượng các công ty ngoại vào thị trường Việt Nam, điển hình thanh toán mặc dù vẫn tiếp tục tăng về mặt là Trusting Social- công ty khởi nghiệp số lượng song đã giảm đi đáng kể về mặt chuyên về đánh giá điểm tín dụng của Việt tỷ trọng, chỉ còn chiếm 1/3 tổng số công Nam- đã huy động được 25 triệu USD ty Fintech. Các công ty cung cấp dịch vụ từ các nhà đầu tư Sequoia Capital, 500 P2P và Blockchain, Crypto gia tăng mạnh Startups, BeeNext ngày 26/7/2019. Thứ mẽ. Sự dịch chuyển này là do tác động của hai, Fintech được hình thành từ những ngân Fintech thế giới và Fintech châu Á, đặc biệt hàng thương mại (NHTM) lớn. Số hoá các là Fintech tại Singapore, nơi được coi là dịch vụ tài chính ngân hàng là một đòi hỏi 78 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  9. TRẦN THANH THU - ĐÀO HỒNG NHUNG bắt buộc để tồn tại của các ngân hàng. Xu số đòi hỏi người sử dụng phải có một mức hướng hợp tác giữa các công ty Fintech và độ nhận thức nhất định về công nghệ cũng các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ. Điển như các dịch vụ được đề xuất. Đồng thời, hình nhất là Live Bank của NHTM cổ phần việc căn cứ vào những yếu tố phi tài chính Tiên Phong thể hiện sự hợp tác của ngân như trình độ học vấn, nghề nghiệp, khu vực hàng với công ty Fintech trong lĩnh vực sinh sống, mục đích sử dụng của các công bán lẻ. Các NHTM cổ phần nhà nước lớn ty cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra ưu thế cho như NHTM cổ phần Ngoại thương Việt một bộ phận thị trường và tạo ra những rào Nam, NHTM cổ phần Công thương Việt cản phi tiền tệ cho một bộ phận khác. Mặt Nam, NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển khác, việc đánh giá và đưa ra thang điểm Việt Nam đã xây dựng hệ sinh thái Fintech dựa toàn bộ vào hệ thống số hoá sẽ dẫn đến với mô hình ngân hàng số nhằm thay đổi tình trạng người cần vốn không tiếp cận phương thức cung cấp các sản phẩm, nâng được vốn và ngược lại, người không cần cao trải nghiệm và tính kinh tế cho người vốn lại nhận được quá nhiều cơ hội tiếp cận sử dụng. Thứ ba, Fintech của các công ty dịch vụ tài chính (Trần và cộng sự, 2019). công nghệ hoặc các tập đoàn viễn thông lớn. Những doanh nghiệp này tận dụng lợi Đồng thời, việc cung cấp các thông tin cá thế về hạ tầng viễn thông và công nghệ, đầu nhân và lưu trữ dữ liệu giao dịch của các tư mở rộng hoạt động kinh doanh sang lĩnh dịch vụ tài chính FinTech khiến người sử vực tài chính nhằm đa dạng hoá hoạt động dụng phải đối mặt với nguy cơ mất an toàn kinh doanh của doanh nghiệp. Xu hướng thông tin, nguy cơ bị lừa đảo, hoặc sử dụng này cho thấy sự bao phủ của công nghệ số các dịch vụ tài chính phi chính thức giả trong tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh mạo. Do phần lớn người sử dụng có tâm lý vực tài chính. Thứ tư, Fintech được ứng né tránh và phòng ngừa rủi ro, việc sử dụng dụng trong những tập đoàn đa ngành nghề FinTech như một nhân tố thúc đẩy mức độ đã có sẵn hệ sinh thái. Tiêu biểu nhất chính tiếp cận tài chính đòi hỏi sự hợp tác ba bên, là VinGroup với VinID và điểm quy đổi bên cung cấp dịch vụ, bên sử dụng dịch được sử dụng tại toàn bộ đơn vị thuộc hệ vụ, và các nhà điều hành thị trường (Lê và sinh thái của VinGroup. Nguyễn, 2017; Lê, 2017; Đào và cộng sự, 2020). Sự bùng nổ của thông tin khiến mọi Như vậy, sự bùng nổ và thâm nhập của chủ thể đối mặt với tình trạng quá tải thông công nghệ số vào lĩnh vực tài chính sẽ xoá tin (overinformed) do giới hạn về mặt nhận đi những rào cản từ phía cung của tài chính thức. Trong tình huống này, tính sẵn có của toàn diện. Điều này có ý nghĩa to lớn với thông tin làm tình trạng bất cân xứng thông nhóm có thu nhập thấp, thiếu lịch sử tín tin càng trở nên trầm trọng. Theo đó, mức dụng, nhóm không đảm bảo năng lực gia độ tiếp cận tài chính của các chủ thể bị sụt nhập thị trường dịch vụ tài chính, nhóm giảm, đi kèm với nó là sự gia tăng của chi sống ở những khu vực có sự ngăn trở về phí quản lý điều hành (Ryu, 2018). địa lý, phụ nữ... Tuy nhiên, FinTech có thể làm giảm sút tài chính toàn diện thông qua Như vậy, bên cạnh những kỳ vọng về tác việc nới rộng sự bất bình đẳng trong tiếp động tích cực của số hoá ngành tài chính là cận các dịch vụ tài chính của các chủ thể những rào cản mà nó tạo ra cho tài chính trên thị trường (Ryu, 2018). Việc sử dụng toàn diện. Trong bối cảnh đó, cần thiết phải các dịch vụ tài chính có nền tảng kỹ thuật có một chương trình giáo dục tài chính quốc Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 79
  10. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam gia, bởi giáo dục tài chính được xem là nhân Ba là, giáo dục tài chính chính là chiếc cầu tố có vai trò kép, thúc đẩy tài chính toàn diện nối quan trọng xoá đi sự khác biệt về kiến cũng như giảm bớt tác động tiêu cực của thức (knowledge gap) giữa bên cung ứng Fintech (OECD, 2016; Yoshino và cộng sự, sản phẩm và người tiêu dùng, đẩy mạnh quá 2017; Ozili, 2018). Cụ thể như sau: trình tiếp cận thông tin về sản phẩm dịch vụ, từ đó gia tăng khả năng tiếp cận và sử dụng Một là, giảm bớt chi phí tìm kiếm thông tin, dịch vụ. Giáo dục tài chính gia tăng hiệu quả tăng nhận thức về sự hiện hữu sản phẩm của các chương trình quảng cáo, các hoạt trên thị trường, cho phép hiểu cặn kẽ về ưu động marketing, mức độ phủ rộng của thông và nhược điểm của từng sản phẩm dịch vụ, tin về sản phẩm đến thị trường. Sản phẩm sự khác biệt giữa các sản phẩm chính thức và dịch vụ trong lĩnh vực tài chính tương và phi chính thức, cách thức vận hành của đối phức tạp so với những sản phẩm tiêu từng sản phẩm, dịch vụ. Từ đó, người tiêu dùng khác bởi nó chứa đựng rủi ro cao, sử dùng có thể đưa ra những quyết định tài dụng nguồn lực, mất thời gian và công sức chính tối ưu và phù hợp với điều kiện của (Nguyễn và Hoàng, 2017). Do vậy, hiểu biết chính họ. Đối với nhóm đối tượng bị loại là yếu tố then chốt tác động đến nhận thức bỏ vì không đáp ứng những yêu cầu của của người tiêu dùng về sản phẩm và dịch vụ. nhà cung cấp, thiếu thông tin cá nhân, hoặc Giáo dục tài chính cho phép người tiêu dùng vấp phải những rào cản về địa lý, ngôn nhận diện được nhu cầu an toàn tài chính, ngữ, cơ thể, giáo dục tài chính cũng giúp đánh giá và so sánh các sản phẩm dịch vụ, gia tăng kiến thức tài chính, giúp họ tìm lựa chọn và ra quyết định, tin tưởng vào kiếm sự trợ giúp, cho họ hiểu được rằng ngân hàng và các tổ chức tài chính. Thêm họ được bảo vệ về mặt tài chính. Đối với vào đó, hiểu biết đúng và đầy đủ giúp người nhóm đối tượng đã có mức độ am hiểu nhất tiêu dùng ra quyết định nhanh và chính xác. định về tài chính, một chương trình giáo Như vậy, giáo dục tài chính là nhân tố thúc dục tài chính phù hợp giúp nâng cao mức đẩy cầu và khuyến khích cung trong tài độ am hiểu tài chính, bảo vệ họ khỏi những chính toàn diện. rủi ro tiềm ẩn, cho phép họ sử dụng những sản phẩm dịch vụ tài chính bậc cao. Đồng 4. Kinh nghiệm xây dựng chương trình thời, đây cũng là nhóm đối tượng then chốt giáo dục tài chính quốc gia tại một số trong việc lan toả kiến thức và kỹ năng tài nước châu Á chính đến những nhóm còn lại, đẩy nhanh quá trình toàn diện hoá thị trường tài chính. (i) Chương trình giáo dục tài chính của Nhật Bản Hai là, giáo dục tài chính đối với chủ doanh nghiệp, đội ngũ lãnh đạo, cũng như Nghiên cứu của Yoshino và cộng sự (2017) người lao động là tiền đề quan trọng để chỉ ra rằng Nhật Bản là quốc gia châu Á rất đảm bảo tình hình tài chính doanh nghiệp chú trọng đến giáo dục tài chính cho người lành mạnh, duy trì tốc độ tăng trưởng ổn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Chương trình giáo định và sự phát triển trong tương lai (Trần, dục tài chính được lồng ghép vào chương 2017). Đây là những tiền đề để các doanh trình phổ thông bắt đầu từ lớp 1 của cấp tiểu nghiệp này tiếp cận được các dịch vụ tín học cho đến lớp 12 của cấp trung học. Hội dụng chính thức, giảm thiểu việc phụ thuộc đồng trung ương về thông tin dịch vụ tài vào nguồn tín dụng đen. chính (CCSFI), tài trợ bởi Ngân hàng Nhật 80 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  11. TRẦN THANH THU - ĐÀO HỒNG NHUNG Bản (Bank of Japan), tạo ra một ma trận tác công tư trong chiến lược giáo dục tài mục tiêu đầy tham vọng cho việc thực hiện chính quốc gia (Nguyễn và Hoàng, 2016). giáo dục tài chính ở cấp tiểu học và trung Khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân học. Những nội dung chính gồm có: vào chiến lược giáo dục tài chính quốc gia không chỉ giúp san sẻ gánh nặng xã hội với ○○ Lập kế hoạch tài chính trọn đời và quản Chính phủ mà còn tăng tính thực tiễn cho lý chi tiêu hộ gia đình, bao gồm quản lý nội dung đào tạo. tiền và ra quyết định, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các sản phẩm tài chính, hiểu tầm Các tổ chức tham gia vào chiến lược giáo quan trọng của lập kế hoạch và đạt được dục tài chính quốc gia của Thái Lan rất đa những kỹ năng về việc đó, hoặc dự phòng dạng, gồm: cho tai nạn, thảm hoạ, hoặc ốm đau. ○○ Các tổ chức tài chính chuyên nghiệp: ○○ Cơ chế của tài chính và nền kinh tế, bao Tại khu vực nông thôn là Ngân hàng gồm hiểu chức năng của tiền và tài chính, Nông nghiệp và Hợp tác xã nông nghiệp chu kỳ kinh doanh, nhu cầu chính sách kinh (BAAC); tại khu vực thành thị là Ngân tế, và những vấn đề tài chính. hàng Tiết kiệm Chính phủ (GSB). Đây là hai tổ chức chuyên nghiệp thuộc Chính phủ ○○ Quyền và rủi ro đối với người tiêu dùng, lớn nhất tại Thái Lan. BAAC tích hợp giáo phòng ngừa những vấn đề tài chính bao dục tài chính với phân phối các sản phẩm gồm đạt được những kỹ năng căn bản cho ngân hàng thông qua chương trình như việc ra quyết định độc lập và phù hợp để “Người nông dân thông thái”. GSB đã triển sống tốt hơn, ngăn chặn những vấn đề liên khai các chương trình giáo dục tài chính quan đến giao dịch tài chính và nợ nhiều. dựa trên tiết kiệm, hướng đến trẻ em, thành lập các ngân hàng học sinh được điều hành ○○ Giáo dục nghề nghiệp, bao gồm hiểu tầm bởi chính học sinh. quan trọng của công việc và sự lựa chọn nghề nghiệp. ○○ Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thực hiện trách nhiệm xã hội của mình Tuy nhiên, chương trình giáo dục tài chính thông qua việc cử các nhân viên đến đào của Nhật Bản có nhiều điểm hạn chế như tạo cho các trường học hoặc cung cấp dịch thiếu giáo viên có kinh nghiệm, thiếu thời vụ lập kế hoạch tài chính cá nhân miễn phí gian, thiếu động lực cho học sinh. Chỉ có cho khách hàng. 13% giáo viên tham gia giảng dạy có kiến thức về kinh tế và kinh doanh. Đồng thời, ○○ Các cơ quan quản lý nhà nước, gồm Sở học sinh phổ thông cho rằng chương trình Giao dịch chứng khoán và Uỷ ban Chứng quá khó hiểu và không có tính thực tiễn cao. khoán Thái Lan, thiết kế chương trình xây dựng thói quen tiết kiệm dài hạn cho học (ii) Chương trình giáo dục tài chính của sinh tiểu học và trung học nhằm giúp các Thái Lan em trở thành nhà đầu tư chứng khoán tiềm năng. Chương trình nhà đầu tư tiềm năng Điểm nổi bật trong chương trình giáo đã thu hút 7 triệu học sinh tham gia. Đồng dục tài chính của Thái Lan là sự đổi mới thời, các cơ quan này còn cho phát sóng các trong kênh đào tạo và đẩy mạnh sự hợp tập phim về đầu tư hoặc phát triển những Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 81
  12. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam ứng dụng công nghệ để giáo dục kiến thức 5. Một số đề xuất về chương trình giáo đầu tư, cung cấp những công cụ như máy dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số tính cá nhân để học sinh có thể tính toán hoá ngành tài chính ở Việt Nam được tỷ suất sinh lời đơn giản của các khoản đầu tư. Qua đánh giá thực trạng am hiểu tài chính và giáo dục tài chính tại Việt Nam, trên cơ ○○ Trung tâm bảo vệ người tiêu dùng tài sở tham khảo bài học kinh nghiệm của một chính và các tổ chức xã hội và tổ chức phi số quốc gia, nhóm tác giả đưa ra một số chính phủ: Các tổ chức như Viện nghiên đề xuất về chương trình giáo dục tài chính cứu châu Á Kennan, Quỹ nghiên cứu Thái quốc gia như sau: Lan, Quỹ Khom Loy và quỹ Step Ahead đều cung cấp các khoá học tài chính cho ○○ Ban hành khung khổ pháp lý cho giáo dục những người có thu nhập thấp và khó khăn. tài chính quốc gia. Giáo dục tài chính phải Nguồn tài trợ từ chính phủ Thái Lan và các được luật hoá thành các văn bản cụ thể, phải tổ chức khác. Ngoài hình thức đào tạo căn trở thành chủ trương chính thống của Chính bản tại lớp học, có những tổ chức cung cấp phủ để các chương trình triển khai sau đó khoá đào tạo ngay cạnh bãi rác như Quỹ đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống. Khom Loy, quỹ Kennan tại các khu ổ chuột để đảm bảo giáo dục tài chính đến được ○○ Quy định cơ quan chủ quản và các cơ quan những nhóm yếu thế nhất trong xã hội. Vai phối hợp thực hiện. Có thể phân cơ quan trò của chính quyền địa phương được thúc chủ quản và cơ quan phối hợp theo từng đối đẩy thông qua việc khuyến khích chính tượng của chương trình giáo dục. Đối với quyền thành lập các nhóm nghiên cứu vì đối tượng là học sinh phổ thông và sinh viên cộng đồng. Việc đo lường được thực hiện đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên là cơ thông qua bài kiểm tra trước và sau khoá quan chủ quản. Bộ Tài chính, UBCKNN, đào tạo và thông qua kết quả của dự án thực NHNN, Bảo Việt,... là cơ quan phối hợp. tế. Những học viên ưu tú sẽ trở thành giáo Đối với đối tượng là doanh nghiệp, nên giao viên và tiếp tục đào tạo tài chính cho cộng cho Bộ Tài chính bởi đây là cơ quan quản lý đồng của mình. các chứng chỉ nghề nghiệp có liên quan. Đối với đối tượng thuộc vùng nông thôn, miền Như vậy, một chương trình giáo dục tài núi, nên giao cho Chính quyền địa phương chính quốc gia phải làm rõ được bốn vấn đề kết hợp cùng các tổ chức như Đoàn thanh (i) Đối tượng của giáo dục tài chính là ai? niên, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Quỹ tín (ii) Những nội dung gì cần cung cấp? (iii) dụng nhân dân... Cách thức cung cấp giáo dục tài chính là gì? (iv) Đánh giá chương trình giáo dục tài ○○ Nội dung chương trình phải được xây chính như thế nào? Chương trình giáo dục dựng phù hợp với từng đối tượng. Thông tài chính quốc gia đòi hỏi sự xuyên suốt thường, nên phân loại dựa vào các tiêu chí trong cuộc đời của mỗi cá nhân, sự hợp tác về nhân khẩu học như tuổi, giới tính, nghề của nhà nước với tư nhân, sự chung tay góp nghiệp, địa bàn sinh sống, thu nhập, trình sức của nhiều tổ chức, cá nhân nhằm tạo ra độ học vấn, mục tiêu tài chính. một cộng đồng am hiểu tài chính, có thái độ đúng đắn với các quyết định tài chính cá ○○ Chuẩn bị nguồn lực cho chương trình giáo nhân, hướng đến an toàn tài chính. dục tài chính quốc gia. Vốn là điều kiện tiên 82 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  13. TRẦN THANH THU - ĐÀO HỒNG NHUNG quyết và nên được huy động từ sự hỗ trợ của các ứng dụng trên điện thoại, trò chơi điện ngân sách nhà nước cũng như các tổ chức tử, gameshow, các khoá đào tạo online, xã hội (trong và ngoài nước), từ các quỹ gọi hoặc các clips ngắn. Hiện đại hoá cách thức vốn cộng đồng, đóng góp của mạng lưới các cung cấp kiến thức sẽ tạo sự hứng thú và dễ trí thức, các doanh nghiệp. Nguồn lực con dàng khi tiếp cận cho cộng đồng. Đồng thời người có thể đến từ nguồn lực chính thức giúp cho việc chia sẻ kiến thức trở nên dễ (đội ngũ giảng viên, doanh nhân, nhân viên dàng và nhanh chóng hơn. các tổ chức tài chính) hoặc phi chính thức (người dân) để tăng tính lan toả và xây dựng ○○ Xây dựng bộ khung đánh giá am hiểu tài một cộng đồng hiểu biết tài chính. chính cho cá nhân. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về am hiểu tài chính cá nhân cũng ○○ Ứng dụng công nghệ thông tin vào hình như doanh nghiệp ■ thức cung cấp phổ cập kiến thức, đặc biệt là Tài liệu tham khảo 1. Chúc Anh Tú (2020), ‘Giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam’, Đề tài Nhà nước tại Bộ Khoa học Công nghệ mã số KX.01.30/16-20. 2. Dougn Dean (2019), ’90 percent of online customers in Vietnam face urgent shortage of money’, Vietnaminsider. vn, https://vietnaminsider.vn/90-percent-of-online-customers-in-vietnam-face-urgent-shortages- of-money/. 3. Đào Hồng Nhung, Trần Thanh Thu, & Nguyễn Minh Tuấn (2020), ‘Tác động của Fintech đối với tài chính toàn diện: Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia và một số khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 276 tháng 6/2020, 41-48. 4. Đinh Thị Thanh Vân & Nguyễn Thị Huệ (2017), ‘Hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên Việt Nam’, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Thức đẩy tiếp cận tài chính tại Việt Nam Vol 1, Viện chiến lược ngân hàng & Vụ hợp tác quốc tế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 5. GIZ (2018), ‘Financial Literacy and financial inclusion in Vietnam: A way back and forth’, Study Report. 6. International Monetary Fund; World Bank (2018), ‘The Bali Fintech Agenda: Chapeau Paper (English)’, Washington, D.C. : World Bank Group. 7. Le Van Luyen & Nguyen Hong Hiep (2017), ‘Promoting Financial Inclusion Through Financial Education in Vietnam’, International Conference Proceedings, Promoting Financial Inclusion in Vietnam, Vol 2, SBV. 8. Le Thanh Tam (2017), ‘Fintech for Promoting Financial Inclusion in Vietnam: Fact Findings and policy. implication’. International Conference Proceedings, Promoting Financial Inclusion in Vietnam, Vol 2, SBV. 9. Morgan, P.J., & Trinh, Q.L. (2017), ‘Determinants and impacts of Financial Literacy in Cambodia and Vietnam’, ADBI Working paper No. 754 10. Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Diễn đàn công nghệ tài chính Việt Nam (FVF) 2019, Hà Nội tháng 11/2019. 11. Nguyễn Đăng Tuệ & Hoàng Anh Tú (2016, ‘Mạng lưới cung cấp chương trình giáo dục tài chính tại Thái Lan và kinh nghiệm cho Việt Nam’,Tạp chí khoa học Đại học Đồng Tháp, Số 18, 2-2016, 6-14. 12. Nguyen Hoai Nam & Hoang Phuong Dung (2017), ‘Explaining Financial Inclusion on Demand-Side Perspective: The central role of financial knowledge’. International Conference Proceedings, Promoting Financial Inclusion in Vietnam, Vol 2, SBV. 13. OECD/INFE (2014). Progress Report on Financial Education. Paris: OECD. 14. OECD/INFE (2016), International Survey of Adult Financial Literacy Competencies. Paris: OECD. 15. Ozili P.K (2018). Impact of digital finance on financial inclusion and stability. Borsa Istanbul Review 18-4 (2018) 329-340. 16. Phạm Mạnh Hùng (2017), ‘Financial Literacy in Vietnam: Situation and recommendation’, International Conference Proceedings, Promoting Financial Inclusion in Vietnam, Vol 2, SBV. 17. Ryu, Hyun-Sun (2018), ‘Understanding Benefit and Risk Framework of Fintech Adoption: Comparison of Early Adopters and Late Adopters’, Proceedings of the 51st Hawaii International Conference on System Sciences, 3864–3873. 18. Standard and Poor Global Finlit Survey (2015). 19. Trần Thanh Thu, Đào Hồng Nhung & Nguyễn Thị Bảo Hiền (2019), ‘Fintech và tài chính toàn diện: Thúc đẩy hay kiến tạo’, Hội thảo khoa học quốc gia về Thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của các nước, Học viện Tài chính, Hà Nội. 20. Trần Thị Vân Anh (2017), ‘Đào tạo tài chính nâng cao khả năng tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 83
  14. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam doanh nghiệp khởi nghiệp’, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Thúc đẩy tiếp cận tài chính tại Việt Nam, Tập 1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 21. Vietnam Fintech Report 2018, Military Bank Security (MBS). 22. World Bank (2013), Global survey on consumer protection and financial literacy. 23. World Bank’s Global Findex Data 2014; World Bank’s Global Findex Data 2017. 24. Yen Thi Hai Nguyen (2017), ‘Evaluate Financial Literacy of Vietnamese Students in Higher Education and Its Determinants- The need of Financial Education’, Conference Papers – VEAM 2017. 25. Yoshino, Nayuki, Morgan, Peter, & Wignaraja, Ganeshan (2015), ‘Financial Education in Asia: Assessment and Recommendations’, ADBI Working Paper Series No. 534. 26. Yoshino, Nayuki, Morgan, Peter, & Trinh, Q.L. (2017), ‘Financial Literacy in Japan: Determimants and Impacts’, ADBI Working Paper 796. 27. http://tccn.ueb.edu.vn/Page-4/Su-menh.html; 28. https://www.youtube.com/watch?v=R55kRHo5Ba0&t=39s; 29. https://vinschool.edu.vn/news_event/vinschool-dua-giao-duc-tu-duy-tai-chinh-va-khoi-nghiep-vao-chuong-trinh- chinh-khoa-2/; 30. https://www.fintechnews.org tiếp theo trang 70 dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp mình (FEM) và hồi quy tác động ngẫu nhiên bằng cách nâng cao trình độ chuyên môn (REM) và các kiểm định để lựa chọn ra của các kiểm toán viên. Các cơ quan quản phương pháp phù hợp nhất, kết quả nghiên lý chức năng cũng cần đưa ra những biện cứu cho thấy ảnh hưởng đáng kể của chất pháp giám sát chặt chẽ để nâng cao chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam và công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam từ áp dụng các chế tài xử phạt có tính răn đe năm 2014 đến năm 2018. Nghiên cứu đã để đảm bảo tính minh bạch, công bằng trên chỉ ra quy mô, danh tiếng của công ty kiểm thị trường chứng khoán. toán và việc thay đổi kiểm toán viên trong các cuộc kiểm toán có ảnh hưởng lớn tới Hạn chế của nghiên cứu là chưa bao quát biến động giá của cổ phiếu trên TTCK tại các nhân tố, trong đó có mức độ chuyên sâu Việt Nam được đo lường bởi chỉ số giá thị về từng lĩnh vực ngành nghề của kiểm toán trường trên mỗi cổ phiếu (MPS). Ngoài ra, viên như một thước đo quan trọng cho chất việc luân chuyển các công ty kiểm toán lượng kiểm toán tới giá cổ phiếu trong các cũng có tác động đến giá thị trường mỗi doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Hạn cổ phiếu. Vì vậy, việc thay đổi kiểm toán chế này sẽ là gợi ý cho các hướng nghiên viên thường xuyên sẽ góp phần làm giảm cứu tiếp theo trong tương lai ■ sự thân thiết của kiểm toán viên đối với khách hàng kiểm toán, từ đó tăng thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính khách quan độc lập trong số liệu của báo cáo kiểm toán, dẫn đến thông tin tài chính có chất lượng hơn cho các nhà đầu tư. Mặt khác, các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn các công ty kiểm toán có quy mô và uy tín lớn trên thị trường để thực hiện dịch vụ kiểm toán. Các công ty kiểm toán cần có những chính sách nâng cao chất lượng 84 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2