intTypePromotion=1

Chuyên đề thực tập: Thực trạng hoạt động đầu tư và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Thiết bị Thực phẩm

Chia sẻ: Conan Edowa | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:46

0
310
lượt xem
85
download

Chuyên đề thực tập: Thực trạng hoạt động đầu tư và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Thiết bị Thực phẩm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vận động theo cơ chế thị trường nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp phải gắn liền với cơ chế thị trường, tuân thủ theo các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp phải thích nghi với thị trường, cạnh tranh gay gắt với nhau để tồn tại và phát triển, trong những cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào biết thích nghi với thị trường, tận dụng được mọi cơ hội, phát huy được khả năng của mình sẽ giành thắng lợi. Mời các bạn cùng tham khảo chuyên đề thực tập: Thực trạng hoạt động đầu tư và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Thiết bị Thực phẩm để hiểu hơn về vấn đề này.

 

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề thực tập: Thực trạng hoạt động đầu tư và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Thiết bị Thực phẩm

  1. LỜI MỞ ĐẦU Nước ta đang trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế  thị  trường có sự  quản lý của Nhà Nước. Việc tham gia nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ  hội cũng như những thách thức lớn lao cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp  tại  Việt Nam.  Vận  động theo cơ   chế  thị   trường  nghĩa  là  hoạt  động của  doanh  nghiệp phảo gắn liền với cơ chế thị trường, tuân thủ theo các quy luật kinh tế trong   đó có quy luật cạnh tranh. Mỗi doanh nghiệp phải thích nghi với thị  trường, cạnh  tranh gay gắt với nhau để  tồn tại và phát triển. Trong những cuộc cạnh tranh này,  doanh nghiệp nào biết thích nghi với thị  trường, tận dụng được mọi cơ  hội, phát  huy được khả  năng của mình sẽ  giành thắng lợi. Ngược lại, những doanh nghiệp   yếu thế không thích nghi được sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Bắt đầu từ ý tưởng này, sau một thời gian tìm hiểu và thực tập tại công ty Cổ  Phần Thiết Bị  Thực Phẩm, em quyết định chọn đề  tài: “Thực trạng hoạt động  đầu tư và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ Phần Thiết  Bị Thực Phẩm.” cho đề tài chuyên đề tốt nghiệp. Công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm là một doanh nghiệp chuyên sản xuất  bình chứa khí gas hóa lỏng, thiết bị  phòng cháy chữa cháy, bình chứa bia inox. Qua   gần 15 năm hoạt động và phát triển (từ năm 1995), công ty đã tìm cho mình một vị  trí khá ổn định trên thị trường với các chi nhánh đặt tại cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.  Tuy nhiên, hiện nay công ty đang phải đương đầu với sự  cạnh tranh mạnh mẽ  từ  nhiều phía trên thị  trường sản xuất vỏ  bình chứa khí gas hóa lỏng. Sự  cạnh tranh   của các doanh nghiệp mới thành lập và các đối thủ  cũ cùng sản xuất mặt hàng này  đã làm cho hoạt động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn và quyết liệt. Để  tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường công ty cần phải nghiên cứu tìm ra những  biện pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Có nâng cao khả năng  1
  2. cạnh tranh, công ty mới có thể chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh, đứng vững  trên thị trường cạnh tranh khốc liệt này. Do thời gian nghiên cứu và khả  năng có hạn nên chuyên đề  của tôi không   tránh khỏi có những sai sót nhất định, rất mong sự góp ý của thầy cô và các bạn để  bài viết của tôi được hoàn thiện hơn.  Em xin chân thành cám ơn cô giáo Đinh Đào Ánh Thủy đã tận tình giúp đỡ em  trong quá trình lựa chọn và hoàn thiện đề  tại này. Đồng thời em cũng xin gửi lời  cảm ơn tới toàn thể cán bộ trong công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm nói chung và   các cô chú, anh chị trong phòng kế toán và phòng kinh doanh nói riêng đã giúp đỡ em  trong quá trình thực tập tại đơn vị. Kết cấu chuyên đề thực tập gồm 2 chương: Chương I: Thực trạng hoạt động đầu tư  nâng cao năng lực cạnh tranh của   công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm. Chương II: Một số  giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả  hoạt động đầu tư   tại công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm. 2
  3. CHƯƠNG I THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ THỰC PHẨM 1. Khái quát về  khả  năng cạnh tranh của công ty Cổ  Phần Thiết Bị  Thực  Phẩm. 1.1  Giới thiệu tổng quan về công ty trong lĩnh vực sản xuất thiết bị thực phẩm. Công ty được thành lập năm 1975. Tiền thân Công ty là Nhà máy Cơ khí đường được  tách ra từ một bộ phận của Nhà máy đường Vạn Điểm. Ban đầu khi được tách khỏi Nhà   máy đường Vạn Điểm, Công ty được giao nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa các thiết bị phục   vụ cho ngành công nghiệp mía đường.  Năm 1995, Công ty xây dựng dự án đầu tư  một dây chuyền thiết bị đồng bộ  để  sản xuất bình chứa khí gas hoá lỏng (Bình Gas) với công suất thiết kế  150.000  sản phẩm/năm. Năm 2000, dự  án đầu tư  hoàn thành và đưa vào khai thác sử  dụng.   Sản phẩm bình gas đầu tiên đưa ra thị trường cuối năm 2000.  Năm 2002, Công ty xây dựng dự án đầu tư bổ  sung nâng công suất sản xuất  lên 350.000 bình gas/năm. Dự án đầu tư kết thúc trong năm. Tính đến hết năm 2008,   Công ty đã đưa vào thị trường trên 2 triệu vỏ bình gas các loại.  Năm 2007, Công ty đưa dây truyền sản xuất thiết bị chữa cháy bao gồm bình  chứa cháy xách tay các loại, bình chữa cháy xe đầy, bình chứa khí không hàn vào  hoạt động và đã bước đầu đưa sản phẩm ra thị trường, được khách hàng chấp nhận.  Tính đến thời điểm cuối năm 2008, ngành nghề sản xuất kinh doanh của công  ty đã mở  rộng ra nhiều lĩnh vực. Các sản phẩm chính của công ty gồm có 3 nhóm   sản phẩm chính: bình chứa khí gas hoá lỏng; thiết bị  phòng cháy chữa cháy; bình   3
  4. chứa bia inox. Ngoài ra công ty cũng tham gia với tư  cách nhà thầu cung cấp máy   móc, thiết bị cho một số dự án, công trình trong nước. Các hoạt động chính của công   ty bao gồm: Sản xuất các sản phẩm từ  gỗ, composit. sản xuất thùng, bể  chứa và   dụng cụ chứa bằng kim loại (sản xuất, kinh doanh và tái kiểm định bình, bồn chứa  chịu áp lực, chứa các loại ga hóa lỏng, bình cứu hỏa, bình ôxi dùng cho dân dụng và  công nghiệp). Sản xuất sắt, thép định hình (sản xuất khuôn mẫu kim loại và các chi  tiết máy có độ  chính xác cao dùng cho ngành). Chuẩn bị  mặt bằng, san lấp mặt  bằng. Xây dựng công trình, hạng mục công trình dân dụng, công nghiệp giao thông,  thủy lợi. Lắp đặt trang thiết bị  cho các công trình xât dựng. Hoàn thiện các công   trình xây dựng. Buôn bán phụ tùng và các bộ phận phụ trợ của xe có động cơ. Buôn  bán sắt, thép, ống thép, thép hình kim loại màu (kết cấu thép, sắt thép xây dựng, ống  kim loại, tôn và thép lá, dây kim loại). Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh  doanh. Vận tải hàng hóa bằng đường bộ. Dịch vụ  khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ.   Đại lý du lịch (du lịch trong nước). Dịch vụ  hỗ  trợ  liên quan đến quảng bá và tổ  chức tour du lịch. Cho thuê nhà phục vụ mục đích kinh doanh. 1.2 Sự cần thiết phải đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Qua hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chuyển đổi nền kinh  tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường đã mở ra  một thời kỳ mới đầy những cơ hội và thách thức lớn lao cho các thành phần kinh tế  nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Vận động theo cơ chế thị trường có nghĩa  là các doanh nghiệp phải hoạt động gắn liền với thị  trường, tuân thủ  các qui luật  kinh tế trong đó qui luật cạnh tranh. Mỗi doanh nghiệp phải biết thích nghi với thị  trường, cạnh tranh nhau để  tồn tại và phát triển. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh  nghiệp nào biết thích nghi với thị trường, tận dụng mọi cơ hội, phát huy được khả  năng sẽ giành thắng lợi, ngược lại những doanh nghiệp yếu thế không tận dụng cơ  hội, không thích nghi với môi trường sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Giành thắng lợi   trong cạnh tranh tức là doanh nghiệp sẽ  thu dược nhiều lợi nhuận  muốn thế phải   thu hút được nhiều khách hàng về  phía mình bằng mọi cách vượt trội hơn các đối  4
  5. thủ  khác. Trong hoạt động kinh doanh không phải doanh nghiệp nào cũng thành  công, có những doanh nghiệp tồn tại phát triển phát triển song có những doanh  nghiệp làm ăn sa sút và dẫn tới phá sản. Bởi vậy, mỗi doanh nghiệp phải vạch ra   cho mình những chiến lược khác nhau để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và  dễ  thấy rằng các chiến lược này đều có một điểm chung nhằm vào việc tăng khả  năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Có thể  nói rằng không còn con đường nào khác   buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Do tầm quan trọng   của yếu tố cạnh tranh trên thị trường công ty cần xác định rõ sự cần thiết phải nâng   cao năng lực cạnh tranh như sau:  Thứ nhất: vì mục tiêu lợi nhuận. Là một chủ  thể  tham gia nền kinh tế, cũng như  các doanh nghiệp khác thì lợi  nhuận là mục tiêu hoạt động của mọi doanh nghiệp, nó quyết định sự  tồn tại và  phát triển của doanh nghiệp. Thu được lợi nhuận cao đồng nghĩa với việc công ty  làm ăn có hiệu quả, công ty sẽ có thêm vốn để thực hiện tái đầu tư, nâng cao năng   lực sản xuất của mình. Với những điều kiện cụ  thể  khác nhau, cơ  chế  vận hành  hoạt động kinh doanh khác nhau, thì kết quả  lợi nhuận cũng khác nhau.  Mà muốn  thu lợi nhuận cao thì công ty phải nâng cao được lợi thế cạnh tranh của mình trên thị  trường để  chiếm lĩnh được càng nhiều thị  phần càng tốt. Với việc thị  trường sản   xuất vỏ  bình gas đang ngày càng cạnh tranh gay gắt, công ty phải đưa ra các chiến   lược, các biện pháp để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với chi phí cạnh tranh  nhất. Công ty cũng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, không ngừng tìm  kiếm và nắm bắt lấy những thị trường tiềm năng mới. Và cùng với việc mở  rộng   thị phần tiêu thụ là lợi nhuận thu được của công ty sẽ ngày càng cao. Do đó để  thu   được lợi nhuận cao thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty là hết sức cần   thiết. Thứ hai: vì sự cạnh tranh với các đối thủ cũ và đối thủ  mới xuất hiện trên thị   trường. 5
  6. Trong nền kinh tế  thị  trường hiện nay thì môi trường cạnh tranh diễn ra ngày   càng gay gắt. Cùng với nhu cầu sử dụng các sản phẩm gas của người dân ngày càng  tăng là sự  xuất hiện của các  doanh nghiệp mới sản xuất mặt hàng này. Khu vực  phía Bắc đã và đang xuất hiện thêm nhiều nhà máy sản xuất vỏ bình gas như  Bình  An, Vạn Lộc, Hồng Hà, Tấn Phát. Các doanh nghiệp trẻ mới thành lập này tuy chưa   có nhiều uy tín nhưng có tham vọng chiếm lĩnh thị  trường rất lớn với những chiến   lược rõ ràng. Những doanh nghiệp mới thành lập đã và đang nghiên cứu, tham khảo  kinh nghiệm của các doanh nghiệp đi trước, bên cạnh đó đẩy mạnh thu thập thông   tin, tìm cách nắm bắt và mở rộng thị trường. Dựa vào những điều học hỏi được họ  liên tục cải tiến mẫu mã, chất lượng để  thu hút khách hàng. Sự  tham gia của các  doanh nghiệp mới này đang trở  thành mối đe dọa chia sẻ  thị  phần tiêu thụ  đối với   công ty.  Ngoài những doanh nghiệp mới hoạt động thì những đối thủ  cạnh tranh lâu   năm cũng luôn là mối lo thường trực của công ty. Khác với những doanh nghiệp mới  xuất hiện, những đối thủ cạnh tranh lâu năm này có lợi thế về thương hiệu và uy tín  trên thị trường. Trên thực tế, các đối thủ cạnh tranh này và công ty đã hình thành nên  những thị  trường tiêu thụ, những khách truyền thống của mình và có những biện  pháp nhằm duy trì mối quan hệ truyền thống đó. Nhưng trong điều kiện cạnh tranh  hiện nay, các đối thủ  cạnh tranh đó luôn để  ý và chờ  đợi thời cơ  để  chiếm lấy   nguồn khách hàng truyền thống của công ty. Mà các khách hàng truyền thống là   nguồn tiêu thụ  sản phẩm chính của công ty, do đó công ty phải luôn đề  phòng và   cảnh giác với các đối thủ này. Nếu công ty không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của  khách hàng thì họ sẵn sàng xen vào và nhận lấy nguồn cung  ứng này. Bên cạnh đó   họ cũng không ngừng nâng cao và hoàn thiện dây chuyền sản xuất của mình để mở  rộng và chiếm lĩnh thị trường. Đã và đang có thêm những đơn vị đầu tư dây chuyền   để  phục hồi vỏ  bình gas như: TQT, công ty TNHH Đông Nam Á tại Phủ  Lý, Nam   Hà. Với những tính chất như vậy, sự canh tranh với các đối thủ này có phần gay gắt   hơn so với các đối thủ mới. Bên cạnh những đối thủ  cạnh tranh trong nước, công ty còn phải cạnh tranh  với cả  công ty sản xuất nước ngoài. Cụ  thể   ở đây là trên thị  trường thiết bị  phòng  6
  7. cháy chữa cháy nói chung và thị trường bình chữa cháy nói riêng đang được thống trị  bởi hàng Trung Quốc. Các mặt hàng phòng cháy chữa cháy của Trung Quốc với  ưu   thế  là giá rẻ  hơn so với hàng trong nước từ  lâu đã chiếm lĩnh được một thị  trường   tiêu thụ  lớn. Thêm vào đó là tâm lý và thói quen của người tiêu dùng đối với sản   phẩm thiết bị  phòng cháy chữa cháy từ  Trung Quốc chưa thể  thay đổi ngay được,   kết hợp với một số vụ việc phát sinh gây hình ảnh xấu đối với sản phẩm sản xuất   trong nước làm cho việc mở rộng và phát triển thị  trường thiết bị  phòng cháy chữa  cháy của công ty là rất khó khăn trong thời gian tới. Việc xác định rõ các đối thủ  cạnh tranh cũng như  thế  mạnh và điểm yếu của   họ là vô cùng quan trọng đối với công ty. Dựa vào đó công ty phải có những chiến  lược đúng đắn để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Thứ ba: đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ phía khách hàng. Kinh tế  ­ xã hội ngày càng phát triển thì đời sống của con người ngày càng  được cải thiện và nâng cao. Kéo theo đó là những yêu cầu của khách hàng đối với   các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày nói chung và sản phẩm bình gas nói riêng ngày   càng cao. Họ  có những yêu cầu khắt khe về  chất lượng, về  mức độ  an toàn, các   chứng chỉ chứng nhận của các cơ quan kiểm tra có uy tín, thời gian hoàn thành hợp   đồng nhanh, các điều khoản ưu đãi kèm theo...Có đáp ứng được những yêu cầu này   của khách hàng hay không chính là vấn đề  sống còn của công ty. Đối với những  khách hàng truyền thống, những khách hàng lớn có tiềm năng phát triển và có năng  lực tài chính thì cần phải cố gắng củng cố và duy trì mối quan hệ tốt đẹp đó. Làm   được điểu đó cũng chính là đảm bảo cho quá trình tiêu thụ  được diễn ra  ổn định,  liên tục. Đối với những khách hàng mới, công ty cũng cần chú trọng thực hiện tốt   hợp đồng về  thời gian giao hàng và chất lượng sản phẩm. Cần gây  ấn tượng tốt   đẹp ngay từ  đầu với các khách hàng mới, không ngừng củng cố  uy tín và thương  hiệu của mình với khách hàng. Thậm chí còn đưa ra một số  những  ưu đãi đối với   những khách hàng mới đặt hàng với công ty. Tạo được lòng tin và uy tín đối với  những khách hành mới, giữ  chân được các khách hàng tiềm năng sẽ  hết sức có lợi  cho sự phát triển lâu dài, bền vững của công ty trong tương lai. Nhưng nếu công ty  không đáp ứng được những yêu cầu đó thì khách hàng sẽ rời bỏ công ty và tìm đến  7
  8. những công ty khác đáp ứng được yêu cầu đó. Vì thế, để tồn tại lâu dài và đáp ứng   được những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng công ty phải không ngừng nâng   cao năng lực cạnh tranh của mình. Thứ tư: duy trì thương hiệu và uy tín của công ty Công ty cổ  phần thiết bị  thực phẩm đã có một thời gian hoạt động kể  từ  lúc  thành lập đến giờ có thể nói cũng là một khoảng thời gian khá dài. Và để  tạo được   thương hiệu và uy tín trên thị  trường như bây giờ  công ty cũng phải trải qua sự  nỗ  lực và  phát triển không ngừng. Đối với một doanh nghiệp thì để  tạo ra uy tín và  thương hiệu đối với khách hàng trong một môi trường cạnh tranh như  hiện nay là   rất khó khăn và  là cả một quá trình lâu dài. Do đó việc duy trì thương hiệu và uy tín   trên thị  trường là rất quan trọng. Ngay từ  khi mới thành lập, công ty đã hoạt động  theo phương châm “  chất lượng khởi đầu từ  khách hàng và kết thúc vì khách  hàng”, cùng với đó là triết lý hoạt động của công ty “ Cổ  Phần Thiết Bị  Thực  Phẩm – Uy Tín ­ Tin Cậy – Cùng Phát Triển”. Công ty luôn cam kết: thường  xuyên cải tiến, duy trì, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001: 2000   xuyên suốt trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; luôn nâng cao uy  tín và thương hiệu, đảm bảo là nhà sản xuất, thương mại, dịch vụ, cung cấp cho  khách hàng những sản phẩm có chất lượng tốt nhất, ổn định nhất, với khả năng đáp  ứng cao nhất..; luôn luôn coi chất lượng hoạt động kinh doanh có tầm quan trọng   bậc nhất, đảm bảo sự  thỏa mãn cao nhất cho khách hàng và sự  tồn tại phát triển   của công ty. Bên cạnh việc hoàn thiện hợp đồng đúng thời hạn, đủ số lượng và chất  lượng để  tạo uy tín đối với khách hàng, công ty cũng phải không ngừng quảng bá   hình ảnh và thương hiệu của mình để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội nhưng   cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh. Trước những cơ hội và thách thức như  vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm cách vượt qua nếu không nguy cơ  phá sản là rất  lớn. Trong cơ  chế  thị  trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan. Các  doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh, chấp   nhận cạnh tranh và cạnh tranh bằng tất cả  khả  năng của mình mới có thể  giúp  8
  9. doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Chính vì vậy. tăng khả  năng cạnh tranh là một   điều tất yếu đối với công ty trong cơ chế thị trường. 1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty. 1.3.1  Những nhân tố khách quan.  Nhân tố kinh tế Đây là những nhân tố  quan trọng nhất của môi trường hoạt động kinh doanh  của doanh nghiệp. Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao dẽ kéo theo sự tăng   thu nhập cũng như tăng khả năng thanh toán của người dân, do vậy nhu cầu hay sức   mua của người dân cũng tăng lên. Mặt khác nền kinh tế phát triển mạnh có nghĩa là  khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, như vậy tốc độ đầu tư phát triển sản xuất   kinh doanh sẽ  tăng lên. Đây chính là cơ  hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển.  Ngược lại, khi nền kinh tế  gặp khủng hoảng, tình hình lạm phát tăng cao, giá cả  mặt bằng chung tăng khiến cho chi phí đầu vào tăng thì doanh nghiệp phải có những   ứng biến thích hợp để  đối phó. Doanh nghiệp phải đưa ra những chiến lược phù  hợp để tiết kiệm, giảm chi phí, giảm lượng hàng tồn đọng, tăng khả năng huy động   vốn…những giải pháp tình thế khéo léo sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua được thời kì  khó khăn và trụ lại thị trường lâu dài. Doanh nghiệp nào có khả  năng thích ứng cao   hơn với nền kinh tế, nắm bắt được nhiều cơ  hội hơn thì doanh nghiệp đó chắc  chắn sẽ thành công. Trong quá trình hoạt động, công ty cũng phải trải qua các biến động cùng với  tình hình kinh tế  chung cả  nước. Đối với những năm tình hình kinh tế   ổn định thì  công ty vẫn có thể  tiến hành duy trì sản xuất và mở  rộng phát triển một cách bình   thường. Nhưng khi tình hình nền kinh tế trở nên bất ổn, nền kinh tế rơi vào khủng  hoảng, lạm phát gia tăng, thì công ty cần phải có những biện pháp ứng phó phù hợp.   Điển hình như  năm 2008, lạm phát khiến cho nền kinh tế  suy thoái trên diện rộng,   làm sức mua trên thị  trường giảm sút nghiêm trọng. Giá vật tư, nguyên liệu, hàng  hóa trên thị trường giảm đột biến, trong khi lượng hàng tồn kho vật tư, nguyên liệu  dự trữ cho sản xuất ở mức cao và giá hàng tồn kho chủ yếu trước khi xảy lạm phát   đã làm cho giá thành sản xuất vượt giá bán. Thêm vào đó, do ảnh hưởng trực tiếp từ  9
  10. chính sách thắt chặt tài chính của Chính Phủ, các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất  sản phẩm gas nói riêng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ  nói chung không thể  tiếp  cận nguồn vốn vay ngân hàng để  đầu tư  phát triển thị  trường, làm cho thị  trường   tiêu thụ  bình gas vốn phải chịu nhiều sự cạnh tranh không lành mạnh nay lại càng  thêm khó khăn, bế tắc. Đứng trước tình hình đó, công ty đã phải đưa ra những chiến lược tình thế. Về  thị  trường: công ty duy trì sản lượng sản xuất bình gas mới ở  mức hợp lí, sàng lọc   đối tượng khách hàng, chỉ duy trì quan hệ với những khách hàng lớn, có uy tín hoặc  chỉ  bán hàng khi khả  năng thanh toán được đảm bảo. Tăng cường sản lượng bình  gas phục hồi nhằm giảm áp lực về nguồn vốn. Tập trung phát triển thị trường bình   chữa cháy, các thiết bị  phòng cháy chữa cháy… Về  tài chính: công ty mở  rộng và  hợp tác theo chiều sâu với các tổ  chức tín dụng, tài chính, phát hành cổ  phiếu trên  kênh thị  trường chứng khoán để  khai thác, đa dạng nguồn vốn phục vụ  sản xuất   kinh doanh và phát triển đầu tư. Thắt chặt công tác tài chính, quản lý chặt chẽ  các  khoản phải thu, đảm bảo không có các khoản phải thu khó đòi, giảm thiểu lượng   hàng tồn kho; giảm thiểu nguồn vốn sản xuất kinh doanh, giảm chi phí tài chính… Nhờ  những chiến lược được ra kịp thời mà công ty đã vượt qua được tình hình khó   khăn, tuy không đạt được các chỉ  tiêu kết quả  như  kế  hoạch đề  ra đầu năm 2008   nhưng vẫn đảm bảo có doanh thu vượt qua năm trước. Cụ thể: tổng doanh thu năm  2008 đạt 235.732 triệu đồng, tăng 19.667 triệu đồng, tương đương 9% so với năm  trước (năm 2007 đạt 216.065 triệu đồng) nhưng chỉ bằng 74% so với kế hoạch năm  2008 (317 tỉ đồng). Khi tình hình kinh tế trở nên khó khăn thì những chiến lược đưa ra lúc đó là kịp   thời và phù hợp, nhưng khi nền kinh tế  đã khởi sắc và đang trên đã phát triển thì  những giải pháp tình thế  đó đã không còn phù hợp, công ty lại cần có những chiến   lược mới để  tận dụng được xu thế  phát triển chung của nền kinh tế. Điển hình là  năm 2009, nền kinh tế   đã có dấu hiệu phục hồi và vượt qua khủng hoảng, giá  nguyên vật liệu đầu vào đã giảm đáng kể  so với năm 2008 và dần đi vào ổn định.   Khi đó, nhu cầu tiêu dùng, sử dụng vỏ bình gas đột ngột tăng mạnh. Nắm bắt thời   cơ này, công ty đã có những thay đổi hợp lý về  các nguồn lực trong công ty để tranh  10
  11. thủ cơ hội thị trường. Công ty đã chủ động giảm sản lượng phục hồi bình gas, giảm   sản lượng thiết bị  phòng cháy chữa cháy và dừng hẳn việc sản xuất bình chứa bia   để  chuyển hướng, tập trung cao độ  máy móc thiết bị, nhân lực và nguồn lực tài  chính cho sản xuất bình gas. Có thời điểm công ty phải bố  trí sản xuất 3 ca/ngày,  liên tục trong 7 ngày/tuần mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nhờ tận dụng được   thời cơ này mà trong năm 2009 công ty đã đạt được sản lượng và doanh thu lớn nhất  từ trước đến nay. Sản lượng bình gas sản xuất mới năm 2009 đạt 514.168 CG12 kg  qui đổi. Sản lượng bình gas sản xuất mới năm 2009 bằng sản lượng cả  hai năm  2007 và 2008 cộng lại. Sản lượng bình gas năm 2009 đạt mức kỉ  lục từ  trước đến  nay, sản lượng bình quân theo tháng đạt mức 42.847 bình, sản lượng tháng cao nhất   đã lên tới xấp xỉ 80.000 bình. Tổng doanh thu năm 2009 đạt mức kỉ lục từ trước tới   nay là 320.417 triệu đồng, tăng 82.658 triệu đồng, bằng 135% so với năm 2008   ( năm 2008 đạt 237.732 triệu đồng). Tổng doanh thu năm 2009 vượt 35.138 triệu   đồng và bằng 115% so với kế hoạch năm 2009 đề ra ( 285.000 triệu đồng). Như  vậy, nhờ  nắm bắt được diễn biến và các thay đổi của nền kinh tế, công   ty đã có những chiến lược điều chỉnh kịp thời, đưa công ty vượt qua khó khăn và tận   dụng cơ hội phát triển, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.  Nhân tố chính trị và pháp luật Trong kinh doanh, lợi nhuận là yếu tố hàng đầu nhưng muốn có lợi nhuận một  cách an toàn, hiệu quả mà không rủi ro thì phải bảo đảm an toàn pháp lý. Chính trị  và pháp luật chính là nền tảng cho phát triển kinh tế cũng như  là cơ  sở  pháp lý để  các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Luật pháp rõ ràng,  chính trị ổn định là môi trường cạnh tranh thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các   doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả. Mặt khác, chúng có   thể đem lại những trở ngại, khó khăn thậm chí là rủi ro cho các doanh nghiệp. Ta có  thể lấy ví dụ như các chính sách về xuất nhập khẩu, chính sách thuế, các khoản thu   ngân sách…là những yếu tố tác động trực tiếp kìm hãm hay tạo điều kiện để  nâng   cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. 11
  12. Năm 2008, khi nền kinh tế diễn ra khủng hoảng, Chính Phủ đã thực hiện chính  sách thắt chắt tài chính – tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Lãi suất vốn vay cùng tỷ giá   ngoại tệ  liên tục tăng cao từ  những tháng đầu năm 2008 đến cuối năm. Do  ảnh  hưởng trực tiếp từ  chính sách tài chính mà doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn  trong việc tiếp cận nguồn vốn vay. Kéo theo đó là sự  làm tăng đột biến chí phí tài  chính của công ty trong năm. Năm 2008, chi phí hoạt động tài chính lên đến trên 16,5  tỷ chiếm 7,08% doanh thu (233 tỷ). Nhưng sang năm 2009, khi nền kinh tế  dần trở  nên sáng sủa hơn, có một số  thay đổi về pháp luật và chính sách của Nhà Nước đã giúp công ty đạt được những  thành tích tăng vọt. Năm 2009, Nhà Nước đưa ra chính sách hỗ  trợ  lãi suất để  giúp  các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn, vực dậy sản xuất sau   khủng hoảng. Cùng với đó, năm 2009 hiệp hội gas được thành lập và có những tác  động làm cho thị  trường kinh doanh LPG dần trở  nên lành mạnh. Chính Phủ  cũng  công bố  nghị  định số  107/2009/NĐ­CP về việc kinh doanh khí dầu mỏ  hóa lỏng đi  vào hiệu lực làm tăng nhu cầu vỏ  bình gas trên thị  trường. Nhận định được những  thuận lợi về môi trường pháp luật cùng với những chính sách ưu đãi của Nhà Nước,  công ty đã tranh thủ thời cơ khi cầu về mặt hàng vỏ bình gas lên cao để tạo ra mức   doanh thu kỉ lục năm 2009.  Các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành Số lượng các doanh nghiệp cạnh tranh và các đối thủ tiềm ẩn cũng là một nhân   tố tác động đến khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp. Khi xem xét nghiên cứu   thị  trường, doanh nghiệp phải đánh giá nghiên cứu kỹ  lưỡng các đối thủ  của mình   về: qui mô, khả năng tài chính, trình độ công nghệ, đặc điểm sản phẩm… để từ đó   định ra mức độ  cạnh tranh trên thị  trường và đánh giá khả  năng cạnh tranh của   doanh nghiệp mình. Bên cạnh việc sản xuất kinh doanh, công ty cũng cần phải luôn  quan tâm và theo dõi các động tĩnh của đối thủ cạnh tranh để đưa ra các phương án  thích hợp. Công ty cần biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình so với đối thủ, và  những lợi thế của đối thủ cạnh tranh mà công ty chưa có. Trên cơ sở đó, công ty cần   12
  13. xem xét và đưa ra các phương án để  phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu,  nâng cao sức cạnh tranh của  công ty trên thị trường.  1.3.2  Những nhân tố chủ quan.  Cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp. Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn quá trình sản xuất và kinh doanh diễn ra  thuận lợi, phát triển đều phải trang bị  cho mình một hệ  thống cơ  sở  hạ  tầng nhất   định. Một hệ thống cơ sở vật chất khang trang với một môi trường làm việc an toàn,  phù hợp với qui mô của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả  năng cạnh tranh   của công ty lên rất nhiều. Với một cơ sở vật chất tốt thì chất lượng dịch vụ  được  đảm bảo. Chất lượng dịch vụ hợp lý sẽ  giúp cho các nhân viên có một môi trường  làm việc  ổn định, thoái mái và phát huy được khả  năng của mỗi cá nhân, doanh  nghiệp tận dụng được tối đa công suất, qua đó hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi   phí và tăng khả năng chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Thêm vào đó,  một môi trường làm việc đảm bảo an toàn sẽ  giảm thiểu tai nạn lao động, tai nạn   nghề   nghiệp   giúp   các   công   nhân   yên  tâm   sản   xuất.   Ngược   lại,   nếu  một   doanh   nghiệp không trang bị đủ cơ sở vật chất cho quá trình sản xuất, môi trường làm việc  không đầy đủ  thì sẽ  làm cản trở, trì hoãn quá trình sản xuất, giảm sức cạnh tranh  trên thị trường. Trong những năm gần đây, cùng với sự  phát triển của sản xuất kinh doanh,   công ty đã liên tục nâng cấp và đổi mới trang thiết bị làm việc. Với tính chất công   việc là sản xuất vỏ bình gas, một mặt hàng nhạy cảm về  cháy nổ, công ty luôn có  những trang thiết bị  phòng cháy để  đảm bảo an toàn cho công nhân. Bên cạnh đó,  những người trực tiếp tham gia sản xuất sẽ   được phát miễn phí hàng năm các  phương tiện bảo hộ lao động như: quần, áo, găng tay, kính hàn, mũ bảo hộ…Công  ty cũng đổi mới một số  dây chuyền làm việc để  đảm bảo cho quá trình làm việc   được diễn ra an toàn hơn, với các tiêu chuẩn chất lượng nâng cao hơn. Ngoài ra   công ty còn nâng cấp một số máy móc thiết bị để kiểm tra độ bền và độ an toàn của   sản phẩm như: máy kiểm tra áp suất, máy kiểm tra rò rỉ, kiểm tra van…Với những   cơ sở vật chất được trang bị  đó, công ty đã và đang sản xuất ra những vỏ bình gas  13
  14. đạt tiêu chuẩn chất lượng và có uy tín trên thị  trường, có khả  năng cạnh tranh với   các doanh nghiệp khác.  Nguồn nhân lực. Trong thời đại ngày nay ­ thời đại mà khoa học đã thực sự  trở  thành lực   lượng sản xuất trực tiếp với sự phát triển mạnh mẽ  của nhiều ngành khoa học và  công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ  cao trong mỗi   sản phẩm làm ra, con người càng tỏ  rõ vai trò quyết định của mình trong quá trình  sản xuất và phát triển. Bên cạnh các yếu tố  khác trong sản xuất kinh doanh như  vốn, khoa học công nghệ, nguyên vật liệu…thì yếu tố  quan trọng và quyết định  nhất là con người. Chúng ta cần hiểu rõ rằng nguồn nhân lực phát huy được vai trò  của nó không phải ở ưu thế về số lượng mà là ở chất lượng. Khi nguồn nhân lực có   quy mô lớn nhưng chất lượng  thấp, năng suất lao động thấp thì lại trở  thành nhân   tố  hạn chế  sự   phát triển. Chính vì vậy, vấn đề  đặt ra là phải thường xuyên nâng   cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển của công ty. Do đó mà   nhiều doanh nghiệp đặt yếu tố này lên hàng đầu và luôn luôn chú trọng để đào tạo,  nâng  cao chất  lượng  nguồn nhân lực.  Trong  quá  trình  hoạt  động,  từ  việc  lên ý   tưởng, kế  hoạch trên giấy tờ  đến việc trực tiếp ra sản phẩm đều do yếu tố  con   người tác động. Các thành viên của công ty là người sẽ quyết định doanh nghiệp có  phát triển được hay không? có những chiến lược như thế nào? có đủ sức cạnh tranh  với các doanh nghiệp khác không?… Quan tâm tới việc nâng cao chất lượng nguồn  nhân lực cũng chính là đảm bảo cho việc giành thắng lợi trong công cuộc cạnh tranh   và đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài của công ty.. Nhận biết được tầm quan trọng của yếu tố này, nên trong thời gian qua công  ty luôn chú trọng tới việc nâng cao và phát triển nguồn nhân lực. Chất lượng đội   ngũ cán bộ của công ty ngày càng được nâng cao với những nhân viên mới có trình   độ  đại học và trên đại học. Công ty luôn quan tâm và mở  những lớp nâng cao tay  nghề cho công nhân, nhất là các lớp hướng dẫn sử dụng các máy móc tiên tiến trong  sản xuất để đảm bảo mức độ hỏng hóc là ít nhất. Việc đào tạo cho nhân viên những  kỹ năng hoặc kiến thức mới không chỉ giúp họ hoàn thành công việc nhanh chóng và   14
  15. hiệu quả hơn mà còn nâng cao mức độ thỏa mãn của họ trong công việc và có động  lực để tự gia tăng hiệu suất làm việc. Các nhân viên được đào tạo để  làm tốt công   việc, họ sẽ có thái độ tự  tin, làm việc một cách độc lập và chủ  động hơn. Kết hợp   với việc đào tạo, chế  độ  khen thưởng hợp lý cũng giúp công nhân thêm hứng thú   làm việc, cố gắng hoàn thiện kỹ năng sản xuất và số lao động lành nghề trong công  ty ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, công ty cũng luôn quan tâm đúng lúc đến mọi thành   viên, luôn động viên kịp thời những lúc họ  ốm đau, bệnh tật, sinh nở…Nhờ  những   sự  quan tâm tới nguồn nhân lực mà công ty tăng thêm khả  năng cạnh tranh với các   doanh nghiệp khác trên thị trường.  Khả năng tài chính của doanh nghiệp. Tình hình tài chính doanh nghiệp  ổn định là một trong những điều kiện tiên   quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng,   đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Khả năng tài chính là yếu tố quan trọng quyết định khả  năng kinh doanh cũng như là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá qui mô của doanh nghiệp.  Bất cứ  một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị  hay phân phối, quảng cáo… đều phải được tính toán dựa trên năng lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh   nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có khả năng trang bị các dịch vụ tốt, đảm bảo  chất lượng, hạ  giá thành, tổ  chức các chiến lược marketing qui mô, nâng cao sức   cạnh tranh.  Là một công ty cổ  phần, nguồn vốn của công ty Cổ  Phần Thiết Bị  Thực  Phẩm được huy động từ các cổ đông, vốn từ lợi nhuận chưa chia cổ tức và vốn vay  ngân hàng. Từ  khi công ty phát hành cổ  phiếu lần đầu thì vốn điều lệ  của công ty   chỉ là 12 tỷ đồng. Sau đó, để đáp ứng với sự phát triển về qui mô và tiềm năng của  công ty, trong các năm 2008 và 2009, công ty đã làm các thủ  tục cấp thiết để  xin  phép ủy ban Chứng Khoán Nhà Nước chấp thuận cho phát hành cổ  phiếu tăng vốn  điều lệ  từ  12 tỉ  đồng lên 48 tỉ  đồng. Tuy nhiên, trong năm 2009,    ủy ban Chứng   Khoán Nhà Nước mới chỉ  2 lần cho phép và ngay sau đó công ty đã thực hiện phát   hành cổ  phiếu tăng vốn điều lệ  lên 23.004.550.000 đồng. Lần thứ  nhất, phát hành  cổ  phiếu để  trả  cổ  tức năm 2005 và 2006 cho các cổ  đông, tăng vốn điều lệ  lên  15
  16. 17.777.860.000 đồng. Lần thứ hai, phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông, tăng vốn   điều lệ từ 17.777.860.000 lên 23.004.550.000 đồng. Dự kiến trong năm 2010 công ty   sẽ  tiếp tục làm các thủ  tục cần thiết để  tăng vốn điều lệ  lên 48 tỉ  đồng theo nghị  quyết của Đại hội cổ đông thường niên năm 2008 và 2009 thông qua.  Khả năng tổ chức quản lý. Điều này được thể  hiện thông qua cở  cấu tổ  chức, tác phong làm việc của  các thành viên, mối quan hệ  của các bộ  phận…Một bộ  máy được vận hành một  cách nhịp nhàng, thông suốt chắc chắn sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và   ngược lại. Để  có được sự  tổ  chức quản lý tốt doanh nghiệp cần phải tạo ra được  quy chế  làm việc. Các quy định về  trách nhiệm và quyền lợi cho các cá nhân, mối  quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp một cách rõ ràng và được sự  nhất trí  của các thành viên trong doanh nghiệp. Khả năng tổ chức quản lý còn phụ thuộc rất   lớn vào khả  năng của người quản lý trong doanh nghiệp. Do đó, đội ngũ quản trị  viên phải được đào tạo một cách có hệ thống, phù hợp với các đặc điểm của doanh  nghiệp. Hiện tại, công ty đang có một bộ  máy tổ  chức quản lý vẫn hoạt động nhịp   nhàng, năng động, kịp thời  ứng phó với các tình hình, diễn biến của nền kinh tế.  Đứng đầu bộ  máy quản lý này là Ban lãnh đạo, tiếp đến là bốn khối trực thuộc:  khối nghiệp vụ, khối kỹ thuật, khối sản xuất, khối trực thuộc đảm nhiệm các văn   phòng đại diện tại Bắc, Trung, Nam. Tất cả các khối, các phòng, ban, lãnh đạo đều  có một chức năng và nhiệm vụ  cụ  thể, có sự  điều hành từ  trên xuống dưới. Các   hoạt động trong công ty luôn diễn ra khá nhịp nhàng, ăn khớp, không có sự  chồng  chéo về quản lý. Khi ban lãnh đạo vạch ra các định hướng phát triển và chiến lược  ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cũng như tầm nhìn cho sự  phát triển của công ty; các   phương án sản xuất, kinh doanh…thì các phương án này sẽ  được công bố  và chỉ  đạo đến các khối trực thuộc. Các khối trực thuộc có nhiệm vụ  phổ  biến đến các  phòng ban và tiến hành thực hiện các chiến lược đề ra. Các định hướng chiến lược   và mục tiêu sản xuất kinh doanh đề  ra đều được công bố  cho các thành viên trong  công ty nắm rõ và cố gắng thực hiện. Nhờ đó, công ty luôn có sự thống nhất từ trên   16
  17. xuống dưới, cùng hướng tới mục tiêu đề  ra. Trong quá trình thực hiện các phương  án sản xuất, các phòng ban luôn có sự chỉ đạo sát sao và kịp thời của ban lãnh đạo.   Bên cạnh việc đôn đốc, nhắc nhở, công ty cũng luôn có chế độ  khen thưởng và đãi   ngộ hợp lý với các thành viên tích cực, hăng hái sản xuất. Nhờ có sự hoạt động nhịp   nhàng, ăn khớp của bộ máy tổ chức quản lý mà công ty đã nhiều lần vượt qua được   những khó khăn trong quá khứ và đang hướng tới một mục tiêu phát triển bền vững  trong tương lai.  Marketing và hệ thống phân phối sản phẩm. Là một công ty vừa hoạt động sản xuất vừa hoạt động kinh doanh, do đó  việc tạo lập hệ thống marketing và phân phối là hết sức cần thiết. Chính hệ thông  này sẽ  giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh hơn so với các đối  thủ  cạnh tranh. Điều này giúp doanh nghiệp giải phóng được lượng hàng tồn đọng   và giải quyết nhanh chu kỳ quay vòng vốn. Để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, công ty đã tạo lập hệ thống phân phối   rộng khắp thông qua các đại lý, các văn phòng đại diện trên cả 3 miền Bắc, Trung,  Nam, trong đó có một số khu vực tiêu thụ chính ở miền Bắc và miền Trung. Các văn   phòng đại diện này có nhiệm vụ hỗ trợ các phòng chức năng quan hệ, giao dịch với   một số  đối tượng khách hàng, bạn hàng, các nhà cung cấp, cũng như  các cơ  quan,  ban ngành có liên quan đến hoạt động của công ty. Hỗ trợ phòng kinh doanh, phòng   tài chính công ty thu hồi công nợ, thanh quyết toán, thanh lý một số  hợp đồng bán   sản phẩm, dịch vụ, mua vật tư, hàng hóa. Quản lý và sử  dụng hiệu quả  tài sản,   trang thiết bị  của văn phòng, lưu giữ  hồ sơ, tài liệu, chứng từ  có liên quan đến các   hoạt động của văn phòng đại diện và của công ty. Hỗ  trợ  phát triển thương hiệu   FSEC, giao dịch quan hệ  khách hàng tiêm năng để  cung cấp thông tin cho công ty.   Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu, đề nghị từ  các cá nhân, đơn vị  tại công  ty, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ  qui định tại qui chế  này và nhu cầu sản xuất  của công ty. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và lớn mạnh theo từng giai đoạn của  mình mà công ty cần mở  rộng hơn nữa các chi nhánh của mình tới các tỉnh, thành  phố trên cả nước, chú ý tới các thành phố đang có tốc độ phát triển nhanh.  17
  18. 2. Thực trạng hoạt động đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của  công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm. 2.1 Vốn và cơ cấu nguồn vốn của công ty. Công ty Công ty Cổ  Phần và Thiết Bị  Thực Phẩm là một công ty cổ  phần,   nên nguồn vốn của công ty chủ yếu là vốn góp của các cổ đông và vốn đi vay. Xác   định được tầm quan trọng của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh và cả  vốn   cho hoạt động đầu tư  phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty,  công ty luôn có kế hoạch huy động và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, hạn chế  mức tối đa sự lãng phí, thất thoát vốn.. Tổng  tài  sản của  công  ty  tính đến thời  điểm   31/12/2009  là  253.381 triệu  đồng, trong đó vốn chủ  sở  hữu của công ty là 27.258 triệu đồng, vốn đầu tư  của  chủ sở hữu là 23.004 triệu đồng, chiếm khoảng 10% trong tổng nguồn vốn của công  ty. 90% nguồn vốn còn lại là từ  nguồn vốn vay của các ngân hàng và chiếm dụng  của các đối tác. Trong các năm 2008 và 2009, công ty đã có kế hoạch tăng vốn điều  lệ  bổ  sung nguồn vốn kinh doanh, nhưng chỉ mới tăng lên được 23.004 triệu đồng.   Nguồn vốn để tăng thêm thực chất chỉ là nợ phải trả các cổ đông chuyển sang thành   vốn góp. Để thấy rõ hơn về tình hình nguồn vốn cũng như  tài sản của công ty, ta theo   dõi qua bảng sau:  Bảng 1: Cơ cấu tài sản của công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm  Đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tổng cộng tài sản/nguồn vốn 187.781 204.748 253.382 A. Tài sản ngắn hạn 129.506 148.619 201.082 I. Tiền và các khoản tương đương tiền 477 565 5.883 18
  19. II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn  hạn III. Các khoản phải thu ngắn hạn 36.875 37.348 39.631 1. Phải thu khách hàng 35.058 36.896 35.795 2. Trả trước cho người bán 1.260 258 4.524 3. Phải thu nội bộ 4. Phải thu theo tiến độ xây dựng 5. Các khoản phải thu khác 6. Dự phòng các khoản phải thu khó đòi (698) (1.165) IV. Hàng tồn kho 88.737 109.766 153.231 V. Tài sản ngắn hạn khác 3.417 939 2.337 B. Tài sản dài hạn I. các khoản phải thu dài hạn II. Tài sản cố định 50.508 45.953 43.352 1. TSCĐ hữu hình 50.802 45.953 43.352 ­ Nguyên giá 94.647 95.570 97.658 ­ Giá trị hao mòn lũy kế (44.027) (52.293) (61.391) 2. Chi phí xây dựng dở dang 181 2.675 7.175 III. Bất động sản đầu tư  IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 7.270 7.270 7.270 ­ Công ty TNHH Bạch Đằng 1.200 1.200 1.200 ­ Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Vạn Điểm 6.070 6.070 6.070 V. Tài sản dài hạn khác 203 2.907 1.677 2.2 Nội dung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. Để  nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty, công ty luôn chú trọng đầu tư  có trọng điểm các vấn đến mang tính cốt lõi nhất. Những yếu tố đó là những yếu tố  quyết định tới sự  phát triển và thành bại của một công ty. Trong những năm qua,   công ty luôn nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư  phát triển, nó  không chỉ  đem lại cho công ty năng lực sản xuất mới, làm cho doanh thu và lợi   19
  20. nhuận của công ty không ngừng tăng lên, mà còn làm tăng khả năng cạnh tranh của  công ty so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Do đó công ty đã coi việc đầu  tư phát triển doanh nghiệp là hoạt động đầu tư nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh  của công ty.  Dưới đây là một số  lĩnh vực chủ  yếu công ty chú trọng đầu tư  nhằm  nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.  2.2.1 Đầu tư tài sản cố định. Nội dung đầu tư  vào tài sản cố  định của công ty là tiếp tục công tác đầu tư  để hoàn thiện và đồng bộ hệ thống máy móc thiết bị  sản xuất các sản phẩm (thiết  bị  nghiền và trộn bột chữa cháy, thiết bị  nạp khí CO 2), tiến hành sửa chữa lớn các  máy móc thiết bị hiện tại (hệ thống máy CNC), tiến hành công tác bảo dưỡng định   kỳ  máy móc thiết bị, bổ  sung một số máy móc thiết bị  có nguy cơ  hỏng hóc (máy  phun bi, máy hàn) để đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục và đảm bảo an  toàn lao động. Chi cho hoạt động này của công ty  trong 3 năm từ  năm 2007 đến 2009 như  sau: Bảng 2: Chi tài sản cố định của công ty cổ phần thiết bị thực phẩm Đơn vị: triệu đồng So sánh 2009  Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 với 2008 Đầu tư xây dựng cơ bản 13.046 2.676 1.997 74,6% Chi phí xây dựng dở dang 181 2.675 7.175 268,2% Khấu hao tài sản cố định 7.349 9.422 9.089 96,45% Bảo dưỡng và  152 167,5 184,6 110,2% sửa chữa tài sản Nguồn: báo cáo của hội đồng quản trị  2.2.2 Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ. Đối với bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào việc đầu tư  vào  sản phẩm và việc bổ  sung hàng tồn trữ  liên quan rất nhiều tới quá trình sản xuất   20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2