intTypePromotion=3

Co giật nửa mặt kết quả điều trị bằng vi phẫu thuật giải ép vi mạch tại Bệnh viện Nhân dân Gia định

Chia sẻ: Hạnh Thơm | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
14
lượt xem
0
download

Co giật nửa mặt kết quả điều trị bằng vi phẫu thuật giải ép vi mạch tại Bệnh viện Nhân dân Gia định

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu các trường hợp co giật nửa mặt được điều trị bằng phẫu thuật giải ép vi mạch từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 9 năm 2013. Bệnh nhân được ghi nhận triệu chứng lâm sàng, khảo sát mối tương quan mạch máu và thần kinh vùng góc cầu tiểu não bằng hình ảnh MRI, đánh giá kết quả cải thiện triệu chứng theo thang điểm jankowski, các biến chứng, và theo dõi bằng tái khám hoặc qua điện thoại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Co giật nửa mặt kết quả điều trị bằng vi phẫu thuật giải ép vi mạch tại Bệnh viện Nhân dân Gia định

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> CO GIẬT NỬA MẶT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG VI PHẪU THUẬT  <br /> GIẢI ÉP VI MẠCHTẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH <br /> Trần Hoàng Ngọc Anh** <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kỹ thuật phẫu thuật và kết quả điều trị co giật nửa mặt <br /> bằng phẫu thuật giải ép vi mạch tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định. <br /> Phương  pháp: Mô tả tiền cứu các trường hợp co giật nửa mặt được điều trị bằng phẫu thuật giải ép vi <br /> mạch từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 9 năm 2013. Bệnh nhân được ghi nhận triệu chứng lâm sàng, khảo sát <br /> mối tương quan mạch máu và thần kinh vùng góc cầu tiểu não bằng hình ảnh MRI, đánh giá kết quả cải thiện <br /> triệu chứng theo thang điểm Jankovski, các biến chứng, và theo dõi bằng tái khám hoặc qua điện thoại.  <br /> Kết quả: 45 trường hợp co giật nửa mặt được phẫu thuật trong vòng 39 tháng. Ti lệ nam / nữ là 1 / 5 (8/37 <br /> ca), tuổi trung bình là 47,9 ± 8,4 ,  thời gian co giật trung bình trước phẫu thuật là 6 ± 3,7 năm, 44 trường hợp <br /> có triệu chứng điển hình (97,1%),  co giật thường bị bên trái (23 trường hợp, 51%). Jankovic trước mổ mức độ <br /> III trong 35 trường hợp (78%),  39 trường hợp ( 88%) có hình ảnh gợi ý mạch máu chèn vào phức hợp VII, VIII <br /> bên co giật. Có 19, (42%) trường hợp đã được điều trị bằng tiêm botulinumtoxin. Thời gian theo dõi trung bình <br /> là 12,8 ± 9,5 tháng. 34 (75,6 %) bệnh nhân hết co giật lúc xuất viện , sau thời gian theo dõi số trường hợp hết co <br /> giật tăng lên 42 ( 93%), 2 trường hợp tái phát sau 3 năm (4,4%). Không có trường hợp nào tử vong. Sau mổ, <br /> các bệnh nhân thường hay bị chóng mặt, liệt nhẹ mặt bên phẫu thuật và hầu hết đều hồi phục. <br /> Kết luận: Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, mặc dù số lượng bệnh nhân chưa nhiều, <br /> nhưng cũng cho thấy co giật nửa mặt là một rối loạn về chức năng với triệu chứng lâm sàng điển hình là yếu tố <br /> quyết định chẩn đoán phẫu thuật giải ép vi mạch là phương pháp điều trị hiệu quả cao và tỉ lệ biến chứng thấp. <br /> Key words: Co giật nữa mặt, phẫu thuật giải ép vi mạch, phức hợp dây VII, VIII, Hình ảnh học MR1 <br /> <br /> ABSTRACT <br /> RESULTS OF TREATMENT HEMIFACIALSPASM BY MICROVASCULAR DECOMPRESSION  <br /> AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL <br /> Tran Hoang Ngoc Anh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 203 ‐ 208 <br /> Objectives: Described the clinical features, imaging, operation techniques and evaluated the results of micro <br /> vascular decompression surgery for treating hemifacialspasm (HFS) at Nhan Dan Gia Dinh hospital. <br /> Method: We performed a prospective descriptive study of hemifacialspasm (HFS) patients were operated for <br /> microvascular decompression from April 2010 to September 2013. The patients were recorded clinical symtoms, <br /> MRI images which focus on the neurovascular relationship in the affected  cerebellopontine angle, evaluated the <br /> improvement by Jankoski scale, the complications and observed by follow‐up examination or by phone. <br /> Results: 45 hemifacial spasm patients were operated on consecutively over 39 months. The male / female <br /> ratio is 1 / 5 (8/37), the mean age was 47.9 ± 8.4, the mean times of history was 6 ± 3.7 years, 44 cases ( 97.1%) <br /> suffered typical symtoms, left side was predominant (23 cases, 51%). Jankovic scale III 35 cases (78%) On MRI <br /> images of affected CPA, 39 (88%) cases had a blood vessel compressing the VII, VIII complex. 19(42%) patients <br /> had been treated by botulinum toxin injection, most of them had been failed. The mean follow‐up period was 12.8 <br /> ± 9.5 months. 34 (75.6%) HFS cases were completely relief of symtoms at the time of discharge, up to now, this <br /> Khoa Ngoại Thần Kinh ‐ Bệnh viện Nhân Dân Gia Định,   ** BM Ngoại Thần Kinh ĐHYD <br /> Tác giả liên lạc:     Ths Trần Hoàng Ngọc Anh        ĐT: 0908152315  Email: drngocanh2002@gmail.com<br /> * <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> 203<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> number increase in 42 patients (93%)and 2 cases (4.4%) reflapse after 3 years. There’s no case of death. Many of <br /> patients sufer from postoperated dizziness and minor facial palsy, most of them were recover. <br /> Conclusion: The results of this study at Nhan Dan Gia Dinh hospital, although a small size trial, confirm <br /> that  HFS  is  a  disturbance  of  neuronal  function,  which  is  diagnosed  by  typical  symtoms.  Microvascular <br /> decompression is an effective method of treatment.  <br /> Key  words:  hemifacial  pasme,  micovascular  decompression,  facial  –vestibulocochlear  complex,  Magnectic <br /> Resonance Imaging <br /> đến  nay  đã  điều  trị  cho  nhiều  bệnh  nhân  bị  co <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ <br /> giật nửa mặt với kết quả khá khả quan. Mục tiêu <br /> Co  giật  nửa  mặt  là  một  rối  loạn  về  chức <br /> của chúng tôi trong nghiên cứu này là mô tả đặc <br /> năng  thần  kinh  đã  được  biết  đến  từ  lâu  gây <br /> điểm  triệu  chứng  lâm  sàng,  hình  ảnh  MRI,  kỹ <br /> ảnh  hưởng  rất  lớn  đến  đời  sống  sinh  hoạt  và <br /> thuật  vi  phẫu  giải  ép  vi  mạch  và  hiệu  quả  mà <br /> công việc của người bệnh. Một trường hợp co <br /> chúng tôi đạt được trong điều trị chứng co giật <br /> giật nửa mặt điển hình sẽ bị những cơn co giật <br /> nửa mặt. <br /> một bên mặt, ngắt quãng, không tự ý và không <br /> PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> gây đau(7,9,6). <br /> Chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo thiết kế <br /> Cho  đến  nay,  nguyên  nhân  gây  ra  cơn  co <br /> tiền cứu mô tả hàng loạt ca. Địa điểm thực hiện <br /> giật  mặt  được  cho  là  do  dây  thần  kinh  VII  bị <br /> là Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định. Thời gian thu <br /> chèn ép bởi một hay nhiều mạch máu tại vùng <br /> thập số liệu là từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 9 <br /> REZ (vùng gốc đi ra của dây VII) là nơi chuyển <br /> năm 2013.  <br /> tiếp  giữa  các  tế  bào  chứa  myelin  trung  ương <br /> (oligodendroglial  cell)  thành  các  tế  bào  chứa <br /> myelin ngoại biên (Schwann cell)(1,3,6). Năm 1976, <br /> Jannetta  là  người  đầu  tiên  mô  tả  chi  tiết  về  giả <br /> thuyết  tương  tác  mạch  máu  thần  kinh  này,  và <br /> ông  cũng  là  người  hoàn  thiện  kỹ  thuật  mổ  vi <br /> phẫu  giải  ép  vi  mạch  để  điều  trị  chứng  co  giật <br /> nửa mặt(7). <br /> Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên <br /> thế  giới  về  phẫu  thuật  giải  ép  vi  mạch  trong <br /> điều  trị  co  giật  nửa  mặt.  Năm  2002,  Madjid <br /> Samii(9) báo cáo 143 trường hợp vi phẫu giải ép <br /> dây VII với tỉ lê thành công lên đến 90%. Năm <br /> 2009, Võ Văn Nho(2) báo cáo 30 trường hợp co <br /> giật  nửa  mặt  và  trên  80%  trường  hợp  phẫu <br /> thuật có hiệu quả. Rất nhiều  nghiên  cứu  khác <br /> cũng cho kết quả khả quan tương tự(8). Do vậy, <br /> mặc  dù  y  học  hiện  đại  chưa  cho  ra  câu  giải <br /> thích rõ ràng về cơ chế bệnh sinh của chứng co <br /> giật  nửa  mặt,  nhưng  phẫu  thuật  giải  ép  vi <br /> mạch  vẫn  được  chấp  nhận  là  phương  pháp <br /> điều trị tốt nhất cho loại bệnh lý này. <br /> Từ tháng 4 năm 2010, Bệnh Viện Nhân Dân <br /> Gia  Định  bắt  đầu  triển  khai  kỹ  thuật  này,  cho <br /> <br /> 204<br /> <br /> Đối  tượng  nghiên  cứu  là  tất  cả  các  bệnh <br /> nhân  co  giật  nửa  mặt  đã  được  chúng  tôi  thực <br /> hiện phẫu thật giải ép vi mạch. Mỗi bệnh nhân <br /> được khám lâm sàng, đánh giá mức độ co giật <br /> bằng  thang  điểm  Jankovic,  sau  đó  được  chụp <br /> MRI  não  không  thuốc  tương  phản  tập  trung <br /> khảo  sát  mối  tương  quan  thần  kinh  và  mạch <br /> máu vùng góc cầu tiểu não. Các bệnh nhân sẽ <br /> được đánh giá lại lâm sàng lúc xuất viện và lúc <br /> tái khám tại phòng khám. <br /> <br /> Thang điểm Jankovic: <br /> 1  điểm:  Gia  tăng  nháy  mắt  và  run  mi  mắt <br /> kéo dài  1 giây, không có co gịât. <br /> 3 điểm: Co giật mi mắt gây nhắm mắt  50% <br /> thời gian thức giấc. <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013 <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  <br /> Dịch tễ học <br /> Tổng  cộng  45  bệnh  nhân  được  phẫu  thuật <br /> trong  vòng  39  tháng.  Trong  đó  có  8  bệnh  nhân <br /> nam  và  37  bệnh  nhân  nữ,  tỉ  lệ  nam/nữ  =  1/5. <br /> Tuổi trung bình là 47,9 , thấp nhất là 32 và cao <br /> nhất là 70  tuổi,  50%  số  bệnh  nhân  tập  trung  từ <br /> 42  –  56  tuổi.  Bệnh  sử  kéo  dài  trung  bình  là  6 <br /> năm, ngắn nhất là 8 tháng và lâu nhất là 20 năm. <br /> Đa  số  bệnh  nhân  bị  bênh  trái  (23  trường  hợp, <br /> chiếm 51%). <br /> Bảng 1: Dịch tễ học. <br /> Số ca<br /> Nam<br /> Nữ<br /> Tuổi (TB)<br /> Giới hạn tuổi<br /> Bệnh sử (TB) (năm)<br /> Bên (P)<br /> Bên (T)<br /> <br /> 45<br /> 8 (20%)<br /> 37(80%)<br /> 47,9 ± 8,4<br /> 32 – 70<br /> 6 ± 3,7<br /> 22 (49%)<br /> 23 ( 51%)<br /> <br /> Lâm sàng  <br /> Trong  45  bệnh  nhân  của  nghiên  cứu,  tất  cả <br /> đều  có  cơn  co  giật  mặt  điển  hình,  co  giật  một <br /> bên mặt, ngắt quãng, không tự ý và không đau. <br /> Trong đó 44 bệnh nhân (97,1%) co giật bắt đầu <br /> từ cơ vòng mi lan xuống cả mặt, một trường hợp <br /> cơn khởi đầu từ cơ vòng miệng (2,9%). Đánh giá <br /> theo  thang  điểm  thì  có  8  trường  hợp  (17,8%) <br /> Jankovic 4,35 trường hợp Jankovic 3 (77,8%) và 2 <br /> trường  hợp  Jankovic  2  (4,4%).  39  trường  hợp <br /> (86,7%) cơn co giật có xảy ra lúc ngủ. <br /> Trong nhóm bệnh nhân của chúng tôi không <br /> có trường hợp nào có chấn thương sọ não hay có <br /> liệt  bell’s  trước  đó.  Các  triệu  chứng  đi  kèm <br /> thường  gặp  là  chảy  nước  mắt  (19  trường  hợp <br /> 42,2%), ngoài ra còn có 3 bệnh nhân  kèm chóng <br /> mặt, 1 bệnh nhân bị u tai bên co giật. <br /> Có  19  trường  hợp  (42,2%)  đã  có  chích <br /> botulinum toxin trước đó, ít nhất là một lần, và <br /> nhiều  nhất  thì  bệnh  nhân  không  nhớ  hết.  Hầu <br /> hết  các  trường  hợp  này  thì  chích  botulinum <br /> toxin  hoặc  không  hiệu  quả,  hoặc  đã  hết  hiệu <br /> quả.  <br /> Tất  cả  các  bệnh  nhân  đều  được  chụp  MRI <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> não không có thuốc tương phản. Trong đó bênh <br /> nhân được khảo sát thêm vùng góc cầu tiểu não <br /> bằng  một  chuỗi  xung  T2  B‐FFE  3D  và  TOF  3D <br /> với lớp cắt mỏng khảo sát mối tương quan giữa <br /> mạch máu và phức hợp thần kinh VII bênh bệnh <br /> nhằm tìm sự hiện diện tương tác giữa mạch máu <br /> và phức hợp VII, VIII. Trong lô nghiên cứu này <br /> chúng tôi thấy có 40 trường hợp (88,9%) có hình <br /> ảnh  gợi  ý  mạch  máu  chèn  vào  phức  hợp  VII, <br /> VIII bên bị co giật. <br /> <br /> Kỹ thuật phẫu thuật <br /> Tất  cả  các  bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu  của <br /> chúng  tôi  đều  được  ứng  dụng  phác  đồ  cạo  tóc <br /> tối thiểu vùng mổ. Theo phác đồ này bệnh nhân <br /> được chuẩn bị tóc trước mổ, sau khi vào phòng <br /> mổ và kê tư thế xong , phẫu thật viên sẽ cạo một <br /> phần nhỏ tóc sau tai khoảng 3x4 cm, sau sau đó <br /> sẽ được sát trùng rộng bằng betadine. <br /> Bệnh  nhân  được  đặt  ở  tư  thế  nằm  nghiêng <br /> ôm gối. Đầu bệnh nhân song song với mặt đất, <br /> hơi  xoay  về  phía  đối  bên  khoảng  100,  cằm  gập <br /> nhẹ, cố định đầu bằng khung Surgita. <br /> Rạch  da  theo  đường  retrosigmoid,  khoan <br /> sọ lỗ đầu tiên gần góc hợp bởi xoang ngang và <br /> xoang  sigma.  Những  trường  hợp  đầu  chúng <br /> tôi  thường  khoan  sọ  nhiều  lỗ  và  gặm  sọ  rộng <br /> để  bộc  lộ  mang  cứng  hố  sau.  Sau  này,  chúng <br /> tôi  chỉ  khoan  sọ  2  lỗ  sát  bờ  sau  và  ở  vị  trí <br /> khoảng 1/3 trên xoang sigma, sau đó dùng cưa <br /> để cắt bản sọ hố sau. Mở màng cứng hình chữ <br /> Y ngược. Phá bể dịch não tủy và hút bớt dịch <br /> để tiểu não xẹp bớt.  <br /> Vén nhẹ tiểu não, bộc lộ phức hợp IX, X, XI. <br /> Tách màng nhên quanh phức hợp thần kinh này <br /> tìm đám rối mạch mạc não thất IV. Tiếp tục tách <br /> rộng  màng  nhện  xung  quanh,  vén  sâu  xuống <br /> đám  rối  mạch  mạc,  chúng  ta  sẽ  nhìn  thấy  gốc <br /> xuất phát của dây VII tại vị trí nó đi ra khỏi rãnh <br /> hành  não  –  cầu  não,  nằm  bên  dưới  so  với  dây <br /> VIII. Tìm mạch máu nào tiếp xúc với vị trí này, <br /> tách  mạch  máu  ra  khỏi  đó  và  chèn  vào  giữa <br /> mạch  máu  và  gốc  dây  VII  một  mẩu  Teflon. <br /> Trong nghiên cứu này chúng tôi tìm thấy mạch <br /> mạch  máu  chèn  vào  dây  VII  trong  tất  cả  các <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> 205<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> trường hợp. Trong 45 trường hợp thì 43 trường <br /> hợp  nguyên  nhân  chèn  ép  là  động  mạch,  có  2 <br /> trường  hợp  nguyên  nhân  phối  hợp  vừa  động <br /> mạch và tĩnh mạch. <br /> Tưới rửa phẫu trường liên tục và kiểm tra kỹ <br /> có chảy máu hay không. Đóng màng cứng thật <br /> chặt,  đặt  lại  nắp  sọ  và  bột  xương.  Khâu  cân  cơ <br /> từng lớp. Khâu da. <br /> <br /> Kết quả phẫu thuật <br /> Để đánh giá kết quả phẫu thuật, chúng tôi sẽ <br /> kiểm tra lại cơn co giật của bệnh nhân lúc xuất <br /> viện cũng như trong những lần tái khám sau đó <br /> bằng thang điểm Jankovic như trước mổ. Chúng <br /> tôi chia làm 4 nhóm kết quả như sau : <br /> ‐ Hết triệu chứng: Jankovic = 0 <br /> ‐  Giảm  triệu  chứng:  Jankovic  giảm  điểm  so <br /> với trước mổ. <br /> ‐ Không đổi:  Jankovic bằng với trước mổ. <br /> ‐ Tái phát: Nếu Jankovic lúc xuất viện giảm <br /> so với trước mổ, nhưng sau đó tăng trở lại. <br /> Trong nghiên cứu này, lúc xuất viện có 34 <br /> bệnh  nhân  (75,6%)  hết  hoàn  toàn  co  giật <br /> (Jankovic = 0), 11 trường hợp còn lại chỉ giảm <br /> triệu  chứng.  Sau  thời  gian  theo  dõi  thì  chúng <br /> tôi  nhận  thấy  có  thêm  10  trường  hợp  nữa  hết <br /> hoàn  toàn  co  giật,  tuy  nhiên  lại  có  hai  trường <br /> hợp tái phát (Jankovic 1) sau khi đã hết 3 năm. <br /> Như vậy cho tới hiện nay trong 45 bệnh nhân <br /> thì có 42 bệnh nhân hết hoàn toàn co giật nửa  <br /> mặt (tỉ lệ thành công là 93%), và 1 trường hợp <br /> còn co giật nửa mặt nhẹ (mức Jankovic 2). Tuy <br /> nhiên  trường  hợp  này  đều  có  giàm  so  với <br /> trước mổ (Jankovic 3). <br /> Bảng 2: Kết quả phẫu thuật. <br /> Hết<br /> Giảm<br /> Không đổi<br /> Tái phát<br /> <br /> Xuất viện<br /> 34(75,6%)<br /> 11(24,4%)<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Hiện tại<br /> 42(93%)<br /> 1(2,3%)<br /> 0<br /> 2(4,5%)<br /> <br /> Biến chứng phẫu thuật <br /> Trong lô nghiên cứu của chúng tôi không có <br /> trường  hợp  nào  tử  vong.  Tất  cả  các  bệnh  nhân <br /> xuất viện với GOS = 5. Không có trường hợp nào <br /> <br /> 206<br /> <br /> bị viêm màng não .  <br /> Có  5  trường  hợp  lúc  xuất  viện  có  dấu  hiệu <br /> liệt  mặt  (11,3%),  nặng  nhất  là  liệt  mặt  độ  4  (2 <br /> bệnh nhân, 4,5%). Tuy nhiên tất cả những bệnh <br /> nhân này đều hồi phục hoàn toàn hay một phần <br /> sau đó. Hiện tại còn 3 (6,9%)bệnh nhân còn liệt <br /> mặt nặng nhất là độ 3 (1 bệnh nhân , 2,3%).  <br /> Sau mổ không có trường hợp nào bị dò dịch <br /> não tủy. Tuy nhiên có một bệnh nhân sau xuất <br /> viện 1 tuần quay lại vì dò dịch nạo tủy qua vết <br /> mổ. Bệnh nhân này được dẫn lưu thắt lưng, vết <br /> mổ lành tốt. <br /> Một bệnh nhân khác sau mổ có liệt nhẹ dây <br /> IX,  X.  Nhưng  bệnh  nhân  này  cũng  hồi  phục <br /> hoàn toàn khi xuất viện. <br /> Một bệnh nhân hậu phẫu ngày thứ hai giảm <br /> tri  giác,    tiến  hành  chụp  CTscan  phát  hiện  có <br /> xuất huyết não vùng mổ và dãn nạo thất, Chúng <br /> tôi quyết định mở lại vết mổ lấy máu tụ và dẫn <br /> lưu não thất ra ngoài. Sau hai tuần điều trị bệnh <br /> nhân ổn định tỉnh táo xuất viện không di chứng.  <br /> Ngoài  ra,  sau  mổ  bệnh  nhân  thường  có <br /> những  khó  chịu  khác  như  chóng  mặt,  đau  vết <br /> mổ.  Các  triệu  chứng  này  cũng  hết  hoàn  toàn <br /> trước khi xuất viện. <br /> Bảng 3. Biến chứng sau mổ <br /> Liệt mặt<br /> Dò DNT<br /> Liệt IX, X<br /> Chóng mặt<br /> Phù não+ dãn não thất<br /> <br /> Xuất viện<br /> 5 (11,3%)<br /> 1(2,3%)<br /> 1 (2,3%)<br /> 9 (20%)<br /> 1(2,3%)<br /> <br /> Hiện tại<br /> 3 (6,9%)<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> BÀN LUẬN <br /> Phẫu thuật giải ép vi mạch từ khi được hoàn <br /> thiện  bởi  Jannetta,  cho  đến  nay  nó  được  chấp <br /> nhận như một phương pháp điều trị tối ưu các <br /> rối loạn gây ra do hội chứng chèn ép mạch máu <br /> thần kinh. Một trong số đó là chứng co giật nửa <br /> mặt(5,6). Trong phạm vi hạn hẹp của nghiên cứu <br /> của  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  muốn  nêu  lên <br /> một số vấn đề về lâm sàng, hình ảnh học cũng <br /> như  điều  trị  chứng  rối  loạn  này  bằng  phương <br /> pháp phẫu thuật giải ép vi mạch. <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013 <br /> Gần như toàn bộ dân số nghiên cứu đều có <br /> triệu chứng lâm sàng điển hình, nó cho thấy lâm <br /> sàng chính là yếu tố quyết định trong chẩn đoán <br /> co giật nửa mặt. Và vì đây là một rối loạn về mặt <br /> chức  năng,  không  phải  là  một  bệnh  lý  ác  tính <br /> nên thông thường bệnh nhân có thời gian bênh <br /> sử  khá  lâu  (trung  bình  6  năm).  Đây  là  một <br /> chứng  bệnh  thường  gặp  hơn  ở  nữ  giới  và  bên <br /> trái  nhiều  hơn  bên  phải.  Bệnh  thường  ảnh <br /> hưởng đến tuổi trung niên. <br /> Về hình ảnh học, MRI não, trong loại bệnh lý <br /> này, chủ yếu để loại trừ các thương tổn thực thể <br /> nếu có ở vùng hố sau có thể gây ra triệu chứng <br /> tương tự như u não, AVM, xơ cứng rải rác….(11,10) <br /> Tuy nhiên với kỹ thuật hiện đại, sự cải thiện về <br /> dộ  phân  gải  của  hình  ảnh,  chúng  ta  có  thể  tìm <br /> thấy  những  hình  ảnh  gợi  ý  sự  tương  tác  mạch <br /> máu thần kinh trước phẫu thuật. <br /> Điều  trị  co  giật  nửa  mặt  hiện  nay  có  2 <br /> phương pháp. Ngoài việc phẫu thuật giải ép vi <br /> mạch,  người  ta  còn  có  thể  làm  mất  cơn  co  giật <br /> nửa mặt bằng cách tiêm trực tiếp botulium toxin <br /> vào  các  nhóm  cơ  đó(2,14).  Tuy  nhiên  đây  chỉ  là <br /> cách điều trị triệu chứng nên mặc dù tỉ lệ thành <br /> công ban đầu tương đối cao, nhưng sau đó hiệu <br /> quả sẽ giảm dần và thời gian phải tiêm nhắc lại <br /> sẽ  ngắn  dần.  Do  đó,  cho  đến  nay,  đối  với  các <br /> bệnh nhân không có nguy cơ phẫu thuật cao thì <br /> giải ép vi mạch vẫn là biện pháp tối ưu. <br /> Trên  thế  giới  cũng  như  Việt  Nam  có  nhiều <br /> nghiên cứu cho ra kết quả rất khả quan về hiệu <br /> quả  của  phẫu  thuật.  Và  nghiên  cứu  của  chúng <br /> tôi  cũng  không  ngoại  lệ  với  tỉ  lệ  thành  công  là <br /> 93%. Đa phần các trường hợp cơn co giật sẽ hết <br /> ngay  sau  mổ.  Vài  trường  hợp  cơn  co  giật  giảm <br /> dần  rồi  hết  hẳn.  Đặc  biệt  trong  các  bệnh  nhân <br /> của chúng tôi  có một trường hợp bệnh nhân sau <br /> mổ hết giật, tuy nhiên từ ngày hậu phẫu thứ 2, <br /> cơn co giật xuất hiện trở lại, tăng dần trong ngày <br /> hậu phẫu thứ 3,4 nhưng sau đó giảm dần và hết <br /> giật vào ngày thứ 10 sau mổ. <br /> Trong  giai  đoạn  đầu  triển  khai  phẫu  thuật, <br /> chúng  tôi  thường  cố  gắng  tách  tất  cả  những <br /> mạch máu nào có tiếp xúc với dây VII dù điểm <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> tiếp  đó  ở  bất  kỳ  vị  trí  nào  trên  dây  thần  kinh. <br /> Một vài trường hợp có từ 2 đến 3 mạch máu ở <br /> các  vị  trí  khác  nhau  trên  dây  thần  kinh  mặt  và <br /> ngoài ra điều này làm chúng tôi có xu hướng tìm <br /> cách kiểm soát toàn bộ dây thần kinh này đoạn <br /> trong hộp sọ. Hệ quả là một số trường hợp sau <br /> mổ  bị  liệt  VII.  Sau  này  việc  tìm  và  tách  mạch <br /> máu ra khỏi dây VII chỉ tập trung vào vùng gốc <br /> đi  ra  nơi  dây  thần  kinh  vùa  ra  khỏi  thân  này. <br /> Điều  này  đã  giúp  giảm  thời  gian  kéo  vén  tiểu <br /> não, giảm thao tác trên các dây thần kinh. Do đó <br /> chúng  tôi  đã  tránh  được  biến  chứng  liệt  mặt <br /> nhưng kết quả vẫn tốt. <br /> <br /> KẾT LUẬN <br /> Ngày nay với sự tiến bộ của gây mê, sự hoàn <br /> thiện dần về kỹ thuật cùng với sự hỗ trợ đắc lực <br /> của các trang thiết bị tiên tiến, phẫu thuật giải ép <br /> vi  mạch  ngày  càng  an  toàn  toàn  và  hiệu  quả. <br /> Điều  đó  càng  khẳng  định  đây  là  phương  pháp <br /> điều trị ưu tiên lựa chọn cho các trường hợp co <br /> giật nửa mặt. <br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO  <br /> 1.<br /> <br /> Aoki  N,  Nagao  T  (1986):  Resolution  of  hemifacial  spasm  after <br /> posterior  fossa  exploration  without  vascular  decompression. <br /> Neurosurgery 18:478–479. <br /> 2. Apuzzo MLJ, Brain surgery(1994): Complication avoidance and <br /> managerment – p2121. <br /> 3. Dandy WE (1945): Surgery of the brain, in Lewis D (ed): Practice <br /> of Surgery. Vol 12, pp 177‐200. <br /> 4. Ferguson  GG,  Brett  DC,  Peerless  SJ,  et  ah  (1981).  Trigeminal <br /> neuralgia:  a  comparison  of  the  results  of  percutaneous <br /> rhizotomy and microvascular decompression. Can J Neurol Sci <br /> 8:207‐214. <br /> 5. Fromm GH (1991): Pathophysiology of trigeminal neuralgia, in <br /> Fromm  GH,  Sessle  BJ  (eds):  Trigeminal  Neuralgia.  Boston, <br /> Butterworth Heneman, pp 179–192. <br /> 6. Greenberg  MS  (2010).  Hemifacial  spasm,  handbook  of <br /> neurosurgery – Seven edition p.542‐544. <br /> 7. Jannetta PJ (1980): Neurovascular compression in cranial nerve <br /> and systemic disease. Ann Surg 192: 518‐525. <br /> 8. Lê Trọng Nghĩa (2011). Đánh giá kết quả phẫu thuật giải ép vi <br /> mạch điều trị co giật nửa mặt và đau dây V tại Bệnh Viện Nhân <br /> Dân Gia Định. Y học thực hành, số 779 +780 tr. 280‐288.  <br /> 9. Madjid  S  (2002):  Microvascular  Decompression  to  Treat <br /> Hemifacial Spasm: Long‐term Results for a Consecutive Series <br /> of 143 Patients. Neurosurgery, Vol. 50, No. 4. <br /> 10. Maroon  JC  (1978):  Hemifacial  spasm.  A  vascular  cause.  Arch <br /> Neurol 35: 481‐483. <br /> 11. McLaughlin  MR  (1998)  .Microvascular  decompression  of <br /> cranial  nerves:  lessons  learned  after  4400  operations. <br /> Neurosurgery focus. <br /> 12. Rhoton  (2007).  Cerebellopontone  angle  and  retrosigmoid <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> 207<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản