intTypePromotion=3

Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của rò động-tĩnh mạch màng cứng nội sọ

Chia sẻ: ViPoseidon2711 ViPoseidon2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
1
lượt xem
0
download

Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của rò động-tĩnh mạch màng cứng nội sọ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA) luôn là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và đánh giá rò động-tĩnh mạch màng cứng nội sọ (DAVFs). Mô tả đặc điểm hình ảnh MRI của DAVFs nội sọ và vai trò của MRI trong chẩn đoán và đánh giá DAVFs nội sọ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của rò động-tĩnh mạch màng cứng nội sọ

  1. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ CỦA RÒ ĐỘNG-TĨNH MẠCH MÀNG CỨNG NỘI SỌ Bùi Thị Song Hạnh*, Đỗ Hải Thanh Anh**, Phạm Ngọc Hoa*** TÓM TẮT Mở đầu: Chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA) luôn là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và đánh giá rò động-tĩnh mạch màng cứng nội sọ (DAVFs). Tuy nhiên hiện nay MRI đã được nhiều nghiên cứu cho thấy là một phương tiện chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn có giá trị trong gợi ý chẩn đoán và đánh giá DAVFs cũng như tổn thương nhu mô não đi kèm. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm hình ảnh MRI của DAVFs nội sọ và vai trò của MRI trong chẩn đoán và đánh giá DAVFs nội sọ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả báo cáo loạt ca 59 bệnh nhân được chẩn đoán DAVFs nội sọ trên DSA và có chụp MRI trước can thiệp tại bệnh viện Đại học Y dược từ 1/2013-8/2018. Khảo sát MRI bằng máy từ trường cao 1,5 Tesla và 3 Tesla trên các chuỗi xung TOF 3D, CE-MRA và time-resolved CE-MRA, SWI, T2W, T1 3D CE. Mô tả các đặc điểm hình ảnh MRI của DAVFs trên các chuỗi xung và đánh giá vai trò của từng chuỗi xung trong chẩn đoán DAVFs, xác định vi trí và kiểu dẫn lưu tĩnh mạch. Kết quả: Giá trị chẩn đoán DAVFs của các chuỗi xung TOF 3D, CE-MRA, time-resolved CE-MRA (TWIST), SWI, T2W, T1 3D CE lần lượt là: 90%, 96%, 100%, 88% (ngoài xoang hang), 32% và 39%. Trong xác định vị trí DAVFs, TOF 3D, CE-MRA và time-resolved CE-MRA (TWIST) có độ đồng thuận rất mạnh với DSA (k lần lượt = 0,83; 0,86; 1). Trong phân loại kiểu dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não theo Cognard, MRI thường qui có độ đồng thuận mạnh trong khi chuỗi xung time-resolved CE-MRA có độ đồng thuận rất mạnh với DSA (k lần lượt = 0,71 và 0,88). Kết luận: Tuy DSA vẫn là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và đánh giá DAVFs, MRI là phương tiện chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn có giá trị cao trong chẩn đoán, xác định vị trí và kiểu dẫn lưu tĩnh mạch của DAVFs, cũng như những tổn thương nhu mô não đi kèm. Từ khóa: DAVFs, dấu hiệu hình ảnh MRI của DAVFs, time-resolved CE-MRA trong DAVFs, SWI trong phát hiện thông nối động tĩnh mạch… ABSTRACT MAGNETIC RESONNANCE FINDINGS OF INTRACRANIAL DURAL ARTERIOVENOUS FISTULAS Bui Thi Song Hanh, Do Hai Thanh Anh, Pham Ngoc Hoa * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 1- 2019: 22-28 Background: Digital subtraction angiography (DSA) is always considered as the gold standard in diagnosis and evaluation Intracranial Dural Arteriovenous Fistulas (DAVFs). However, nowadays many studies has proven that MRI is a valuable non-invasive technique in detection and evaluation of DAVFs as well as the brain lesion caused by the shunt. Purpose: Describe MRI findings of intracranial DAVFs and MRI role in detection and evaluation of intracranial DAVFs. Materials and methods: A case series of 59 patients diagnosed with intracranial DAVFs by DSA and *BM Chẩn Đoán Hình Ảnh, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh **Hội Chẩn Đoán Hình Ảnh TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Bùi Thị Song Hạnh ĐT: 0909147523 Email: drsonghanh@gmail.com 22 Chuyên Đề Ngoại Khoa
  2. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 Nghiên cứu Y học underwent MRI examinations before intervention in University Medical Center from 1/2013 to 8/2018. The patients were evaluated by 1.5 Tesla and 3 Tesla magnetic field with TOF 3D, CE-MRA, time-resolved CE- MRA, SWI, T2W and T1 3D CE. Describe MRI findings of intracranial DAVFs on each sequences and calculate the role of each sequences in detection and localization of DAVFs, as well as in identification the venous drainage patterns. Results: TOF 3D, CE-MRA, time-resolved CE-MRA (TWIST), SWI, T2W, T1 3D CE detect intracranial DAVFs by 90%, 96%, 100%, 88% (exclude the cavernous sinus), 32% and 39% consecutively. About fistula site, TOF 3D, CE-MRA and time-resolved CE-MRA (TWIST) all have excellent intermodality agreements with DSA (k = 0.83; 0.86; 1 consecutively). In identification venous drainage patterns, convetional MRI has good agreements with DSA while time-resolved CE-MRA has excellent agreements (k = 0.71 và 0.88 by consecutively). Conclusion: DSA remains as the gold standard for diagnosis and evaluation intracranial DAVFs. However MRI is a non-invasive imaging technique with high value in detection, localization and identification venous drainage patterns of intracranial DAVFs, as well as the brain damage. Key words: DAVFs, MRI findings of DAVFs, radiological patterns of intracranial DAVFs, time-resolved CE-MRA in DAVFs, SWI in high-flow detection. ĐẶTVẤNĐỀ MRI) có thể khảo sát hệ thống mạch máu não và đặc biệt là các tổn thương nhu mô não đi kèm, là Rò động-tĩnh mạch màng cứng nội sọ phương tiện chẩn đoán hình ảnh được lựa chọn. (Intracranial Dural Arteriovenous Fistulas: DAVFs) là sự thông nối bất thường giữa các Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên nhánh động mạch màng cứng với các xoang tĩnh cứu về hình ảnh MRI trong DAVFs, tuy nhiên mạch màng cứng và/hoặc các tĩnh mạch vỏ não. các nghiên cứu này chỉ khảo sát hình ảnh MRI DAVFs chiếm khoảng 10-15% các trường hợp trên một hoặc hai kỹ thuật. Tại Việt Nam cho bất thường động-tĩnh mạch não(10,14). DAVFs gây đến thời điểm này chưa có công trình nghiên ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch bị rò và từ đó gây ra cứu nào về cộng hưởng từ rò động tĩnh mạch triệu chứng của các cơ quan mà tĩnh mạch đó màng cứng nội sọ. Trên cơ sở đó chúng tôi tiến dẫn lưu. Lâm sàng DAVFs có thể thay đổi từ hành nghiên cứu “Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hoàn toàn không triệu chứng hoặc gây xuất hưởng từ của rò động tĩnh mạch màng cứng nội huyết nặng đe dọa tính mạng. Vì vậy việc chẩn sọ” với mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh đoán và đánh giá DAVFs là hết sức cần thiết. cộng hưởng từ của rò động-tĩnh mạch màng Cho đến nay chụp mạch máu số hóa xóa nền cứng nội sọ, đồng thời đánh giá vai trò của (Digital subtraction angiography: DSA) là tiêu cộng hưởng từ trong chẩn đoán rò động-tĩnh chuẩn vàng trong chẩn đoán và đánh giá mạch màng cứng nội sọ, xác định vị trí rò và DAVFs. Tuy nhiên đây là một kĩ thuật xâm lấn, kiểu dẫn lưu tĩnh mạch. có thể gây ra những biến chứng thần kinh ĐỐITƯỢNG- PHƯƠNG PHÁPNGHIÊNCỨU nghiêm trọng. Bệnh nhân còn phải phơi nhiễm Thiết kế nghiên cứu với một lượng lớn tia X. Vì vậy việc chọn lọc Mô tả báo cáo loạt ca. bệnh nhân cho thủ thuật DSA là rất quan trọng, Dối tượng nghiên cứu tránh cho bệnh nhân một cuộc chụp DSA không Những bệnh nhân được chẩn đoán DAVFs cần thiết. Hơn nữa, DSA không thể đánh giá nội sọ trên DSA và có chụp MRI trước can được thương tổn nhu mô não, một trong những thiệp tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí yếu tố quan trọng để quyết định điều trị. Cộng Minh từ 1/2013-8/2018, loại trừ những bệnh hưởng từ sọ não (Magnetic resonance imaging: Chuyên Đề Ngoại Khoa 23
  3. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 nhân có tổn thương mạch máu nội sọ khác đi trình bày dưới đây. kèm hoặc có tiền căn can thiệp mạch máu nội sọ. Phân tích hình ảnh TOF 3D trên 59 bệnh Phương tiện nghiên cứu nhân ghi nhận các dấu hiệu: đường hoặc nốt tín Khảo sát MRI bằng máy từ trường cao 1,5 hiệu cao sát thành cấu trúc tĩnh mạch và tăng tín Tesla và 3 Tesla trên các chuỗi xung TOF 3D, CE- hiệu trong cấu trúc tĩnh mạch. Mỗi dấu hiệu MRA và time-resolved CE-MRA, SWI, T2W, T1 chẩn đoán lần lượt hiện diện trong 81,36% và 3D CE. 89,83% số bệnh nhân, cả hai dấu hiệu đều trên 80%. Toàn bộ các trường hợp có đường cong Sơ đồ nghiên cứu hoặc nốt tín hiệu cao đều có tăng tín hiệu trong 1. Phòng DSA: Hồi cứu các bệnh nhân đã cấu trúc tĩnh mạch, trong khi có 5 trường hợp có được chẩn đoán DAVFs từ 1/1/2013-31/07/2018 tăng tín hiệu trong cấu trúc tĩnh mạch mà không tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. thấy các đường cong hoặc nốt tín hiệu cao. Vì 2. Phòng hồ sơ: Thu thập thông tin từ hồ sơ vậy tỉ lệ chẩn đoán DAVFs của chuỗi xung TOF bệnh án. Chọn những bệnh nhân có chụp MRI 3D trong nghiên cứu là 89,83%, cũng chính là tỉ trước can thiệp và thỏa tiêu chí chọn mẫu. lệ chẩn đoán của dấu hiệu tăng tín hiệu trong 3. Phòng đọc phim: Thu thập dữ liệu hình cấu trúc tĩnh mạch. Có 6 bệnh nhân chuỗi xung ảnh MRI từ hệ thống PACS, đĩa CD lưu trữ. TOF 3D không thể phát hiện bất cứ DAVFs nào. 4. Phân tích số liệu: Số liệu được thu thập Trong 28 ca được chụp CE-MRA đúng thì, bằng bảng thu thập số liệu, nhập và xử lý số liệu dấu hiệu cấu trúc tĩnh mạch bắt thuốc sớm trên bằng phần mềm SPSS 20. Xác định mối liên quan thì động mạch gợi ý chẩn đoán DAVFs. bằng phép kiểm Chi bình phương. Nếu có trên Qua 44 ca được chụp với chuỗi xung SWI 20% số các giá trị vọng trị < 5 hoặc có giá trị vọng ghi nhận 2 dấu hiệu: tăng tín hiệu trong cấu trúc trị
  4. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 Nghiên cứu Y học Đối với 23 ca được chụp với chuỗi xung 54/59 trường hợp, tương ứng 91,53%, chỉ số time-resolved CE-MRA (TWIST): cấu trúc tĩnh kappa là 0,83 (0,77–0,89) cho thấy mức độ mạch bắt thuốc sớm trên thì động mạch. đồng thuận rất mạnh giữa chuỗi xung TOF 3D TWIST có độ phân giải thời gian cao và chụp và DSA trong xác định vị trí DAVFs. Tỉ lệ xác liên tục nên có thể đánh giá chiều lưu thông định đúng vị trí DAVFs của chúng tôi khá của dòng máu, giúp chẩn đoán và đánh giá tương đồng với nghiên cứu của Chen (n=7)(2) DAVFs chính xác hơn. và Azuma (n=26)(1), khác biệt với nghiên cứu BÀNLUẬN của Meckel (n=7). Nghiên cứu của Meckel có tỉ lệ chẩn đoán đúng vị trí rò thấp chỉ có 57%. Chuỗi xung TOF 3D Điều này có khả năng do Meckel chia vị trí rò Về tỉ lệ chẩn đoán DAVFs của từng dấu chi tiết hơn, như chia rõ rò ở xoang ngang, hiệu trên TOF 3D, kết quả của chúng tôi có xoang sigma, tĩnh mạch cảnh, trong khi trong chút thay đổi so với nghiên cứu của Noguchi nghiên cứu của chúng tôi những vị trí này đều (n=15)(12) và của Meckel (n=12)(8). Cả hai nghiên xét chung là rò xoang ngang – sigma. cứu này đều ghi nhận dấu hiệu đường cong Vai trò của chuỗi xung TOF 3D trong chẩn hoặc nốt tín hiệu cao sát thành một cấu trúc đoán dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não rất khác nhau tĩnh mạch xuất hiện nhiều hơn dấu hiệu tăng trong các nghiên cứu. Trong nghiên cứu của tín hiệu trong cấu trúc tĩnh mạch, trong khi chúng tôi (n = 59), chuỗi xung TOF 3D có độ nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận ngược lại. nhạy 62% và độ đặc hiệu 100%. Trong nghiên Chúng tôi nhận thấy dấu hiệu đường cong cứu của Noguchi (n = 15) có 5 bệnh nhân có dẫn hoặc nốt tín hiệu cao khó ghi nhận trong lưu vào tĩnh mạch vỏ não, TOF 3D không phát những trường hợp rò trực tiếp vào tĩnh mạch hiện được ca nào. Trong khi nghiên cứu của vỏ não hoặc rò vùng xoang hang. Trong Minako TOF 3D chẩn đoán được dẫn lưu tĩnh nghiên cứu của chúng tôi, những trường hợp mạch vỏ não ở 16/16 bệnh nhân tương đương không ghi nhận được dấu hiệu này phần lớn là 100%. Độ đặc hiệu của chuỗi xung TOF 3D cũng rò vùng xoang hang (4 trường hợp) hoặc rò giống nhau ở cả 2 nghiên cứu đều đạt 100%. trực tiếp vào tĩnh mạch vỏ não (4 trường hợp). Nghiên cứu của Noguchi không phát hiện được Nghiên cứu của Noguchi không thực hiện trên dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não khả năng do trong bệnh nhân rò xoang hang hoặc rò trực tiếp vào nghiên cứu không có rò Borden type III. Trong tĩnh mạch vỏ não, nghiên cứu của Meckel type này vì DAVFs là thông nối trực tiếp giữa cũng không thực hiện trên bệnh nhân rò xoang động mạch và tĩnh mạch vỏ não nên vận tốc hang. Có lẽ chính điều này cộng với cỡ mẫu trong các tĩnh mạch sẽ nhanh hơn, dễ hiện hình khác nhau dẫn đến sự khác biệt về tỉ lệ xuất trên TOF hơn khi trào ngược từ xoang tĩnh hiện dấu hiệu nói trên. Tỉ lệ chẩn đoán DAVFs mạch. Trong nghiên cứu của chúng tôi TOF 3D trên TOF 3D của chúng tôi tương đồng với tác ghi nhận dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não ở 5/7 bệnh giả Meckel, thấp hơn so với tác giả Noguchi và nhân Borden type III, trong khi chỉ ghi nhận ở Azuma. Nghiên cứu của Minako Azuma (n = 11/19 ca Borden type II. Nghiên cứu của Minako 26)(1) và Noguchi cho thấy tỉ lệ chẩn đoán của có tỉ lệ phát hiện cao khả năng cũng do trường chuỗi xung TOF lên đến 100%. Điều này khả quét phủ hết não, tăng khả năng chẩn đoán dẫn năng do trong hai nghiên cứu này chuỗi xung lưu tĩnh mạch vỏ não ở vùng xoang dọc trên. TOF 3D được quét từ lỗ chẩm đến hết não, trong khi nghiên cứu của chúng tôi và Meckel Chuỗi xung CE-MRA chỉ quét đến trần não thất. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 28 bệnh Trong 58 DAVFs được phát hiện, chuỗi nhân được chụp đúng thì. CE-MRA chẩn đoán xung TOF 3D xác định đúng vị trí rò trong được DAVFs ở 27/28 trường hợp, chiếm tỉ lệ 96%. Chuyên Đề Ngoại Khoa 25
  5. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 Trong những DAVFs được phát hiện, CE- có độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 91%. Kết hợp MRA chẩn đoán đúng vị trí 28/30 DAVF tương cả hai dấu hiệu, chuỗi xung SWI có độ nhạy ứng tỉ lệ 93%, giá trị kappa là 0,86 cho thấy 90% và đặc hiệu 91% trong phát hiện tình mức độ đồng thuận rất mạnh giữa CE-MRA trạng này. Tỉ lệ chẩn đoán dẫn lưu tĩnh mạch và DSA trong chẩn đoán vị trí DAVFs. Kết quả vỏ não của chúng tôi phù hợp với tác giả Jain này cao hơn so với kết quả của Cohen SD (n=25) và Nakagawa (n=17)(9), thấp hơn trong (n=26)(3) cho thấy CE-MRA first pass có độ nghiên cứu của Noguchi (n = 10)(13); tỉ lệ các nhạy là 50%. Khác biệt này khả năng do trong dấu hiệu khác biệt với cả Noguchi và nghiên cứu của Samuel có cả những ca CE- Nakagawa. Tuy nhiên kết quả của cả 4 nghiên MRA chụp muộn khi thuốc đã vào các xoang cứu đều cho thấy chuỗi xung SWI có giá trị cao tĩnh mạch. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong chẩn đoán DAVFs và tình trạng dẫn lưu nếu được chụp đúng thì, giá trị chẩn đoán và tĩnh mạch vỏ não. đánh giá DAVFs của CE-MRA rất cao. Hiện Chuỗi xung T2W và T1 3D CE chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu so sánh Trong nghiên cứu của chúng tôi, dấu hiệu CE-MRA và time-resolved CE-MRA trong flow-voids bất thường của các tĩnh mạch vỏ chẩn đoán và đánh giá DAVFs nội sọ. não trên T2W chỉ có trong trường hợp DAVFs CE-MRA phát hiện dẫn lưu tĩnh mạch vỏ có dẫn lưu vào tĩnh mạch vỏ não, điều này não ở 10/13 trường hợp với độ nhạy 77% và độ phù hợp với nghiên cứu của Meckel(8). Dấu đặc hiệu 93%, cho thấy CE-MRA có độ nhạy hiệu flow-voids trên T2W chẩn đoán được cao và đặc hiệu cao trong chẩn đoán dẫn lưu 19/26 trường hợp có dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não, vào tĩnh mạch vỏ não. Trên thế giới có rất ít có độ nhạy 73% và đặc hiệu 100%, tương đồng nghiên cứu khảo sát riêng vai trò của CE-MRA với kết quả nghiên cứu của Kitajima (n=21)(7) trong DAVFs. Phần lớn các nghiên cứu khảo và Noguchi (n=14)(12) đều trong khoảng từ 70- sát trên CE-MRA động học (time-resolved CE-MRA). 80%. Độ đặc hiệu của chuỗi xung T2W trong Chuỗi xung SWI chẩn đoán dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não cũng phù Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự hợp với 2 nghiên cứu trên đều đạt 100%. khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ phát hiện Trong nghiên cứu của chúng tôi, dấu hiệu DAVFs của chuỗi xung SWI tại xoang hang và mạch máu bất thường trên T1W 3D CE gặp ngoài xoang hang. Nếu chỉ tính trong nhóm rò trong 23/59 ca, chiếm tỉ lệ 38,98%, cho thấy dấu ngoài xoang hang, tỉ lệ chẩn đoán DAVFs của hiệu này kém nhạy trong chẩn đoán DAVFs. chuỗi xung SWI trong nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên trong chẩn đoán dẫn lưu tĩnh mạch là 88%, phù hợp với nghiên cứu của Jagadeesan vỏ não, dấu hiệu này có độ nhạy và đặc hiệu (n=29)(5) và Jain (n=26)(6). Điều này khả năng do khá cao lần lượt là 81% và 94%. Dấu hiệu này xoang hang nằm cạnh nhiều cấu trúc xương, phần lớn cũng chỉ xuất hiện trên những bệnh tăng tín hiệu trong xoang hang dễ bị che lấp bởi nhân có dẫn lưu vào tĩnh mạch vỏ não, giải ảnh giả nhạy từ. thích cho tỉ lệ chẩn đoán DAVFs thấp trong Chẩn đoán dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não trên nghiên cứu của chúng tôi. Dấu hiệu mạch máu SWI khi có tăng tín hiệu trong tĩnh mạch vỏ bất thường trên T1W 3D CE nhạy hơn nhưng não hoặc sung huyết các tĩnh mạch này. Trong kém đặc hiệu hơn so với dấu hiệu flow-voids 44 ca được chụp chuỗi xung SWI trong nghiên bất thường trên T2W trong chẩn đoán dẫn lưu cứu của chúng tôi, có 21 ca có dẫn lưu tĩnh tĩnh mạch vỏ não. Kết quả này của chúng tôi mạch vỏ não. Dấu hiệu tăng tín hiệu trong tĩnh phù hợp với nghiên cứu của Kitajima (n = 21) mạch vỏ não có độ nhạy 67% và độ đặc hiệu cho thấy chuỗi xung T1W 3D CE chẩn đoán 100%. Dấu hiệu sung huyết tĩnh mạch vỏ não được 85,7% trường hợp, nhạy hơn chuỗi xung 26 Chuyên Đề Ngoại Khoa
  6. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 Nghiên cứu Y học T2W trong chẩn đoán dẫn lưu vào tĩnh mạch đúng vị trí là 100%, giá trị kappa là 1 cho thấy vỏ não. Độ đặc hiệu của chuỗi xung T1W 3D mức độ tương hợp rất mạnh. Nói chung, nghiên CE trong nghiên cứu của chúng tôi là 94%, cứu của chúng tôi và của Meckel, Nishimura cũng khá phù hợp với nghiên cứu của Kitajima đều cho thấy chuỗi xung TR CE-MRA có độ dấu hiệu này có độ đặc hiệu 90%. chính xác rất cao trong chẩn đoán vị trí DAVFs. Chuỗi xung time-resolved CE-MRA (TWIST) Trong nghiên cứu của chúng tôi chuỗi xung Trong nghiên cứu của chúng tôi có 23 bệnh TWIST chẩn đoán được 7/7 trường hợp có dẫn nhân được chụp chuỗi xung TWIST. Dấu hiệu lưu tĩnh mạch vỏ não, độ nhạy là 100%. Chúng cấu trúc tĩnh mạch bắt thuốc sớm trong thì động tôi ghi nhận có 1 trường hợp dương tính giả, độ mạch hiện diện trong 23/23 bệnh nhân, tỉ lệ chẩn đặc hiệu là 93,75%. Kết quả này phù hợp với đoán là 100%. Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu của Noguchi (n=15), Farb (n=20) và nghiên cứu nước ngoài về chuỗi xung TR CE- Nishimura (n=18), trong đó chuỗi xung TR CE- MRA đều có tỉ lệ chẩn đoán là 100% như nghiên MRA đều có độ nhạy 100% trong chẩn đoán dẫn cứu của Meckel (n=13)(8), Farb (n=20)(4) và lưu tĩnh mạch vỏ não. Độ đặc hiệu của chúng tôi Nishimura (n=18)(11). Riêng nghiên cứu của chỉ đạt 93,75%, thấp hơn 3 nghiên cứu trên có độ Noguchi (n=15)(12) chuỗi xung TR CE-MRA có độ đặc hiệu của chuỗi xung TR CE-MRA đều đạt nhạy chỉ là 88% tức 13/15 ca, bỏ sót 2 vị trí rò lưu 100%. Tuy nhiên trong nghiên cứu của Farb lượng thấp. Điều này có thể do trong nghiên cứu cũng ghi nhận 1 trường hợp mà 1 trong 3 nhà của Noguchi độ phân giải thời gian là 4 giây cho hình ảnh học nhận định có dẫn lưu tĩnh mạch vỏ mỗi loạt hình, trong khi trong nghiên cứu của não, trong khi DSA không ghi nhận (2 người còn chúng tôi cũng như những nghiên cứu nước lại đọc đúng). Nhìn chung các nghiên cứu đều ngoài khác độ phân giải thời gian cao hơn, cho thấy TR CE-MRA có giá trị rất cao trong khoảng từ 1,5-2 giây. Ngoài ra tốc độ bơm thuốc chẩn đoán dẫn lưu tĩnh mạch vỏ não. không đủ nhanh chỉ 1,5 ml/giây trong nghiên Chuỗi xung TWIST phân type Borden cứu của Noguchi cũng có thể là một nguyên chính xác trong 22 bệnh nhân chiếm 95,65%. nhân cho sự bỏ sót hai DAVFs lưu lượng thấp Giá trị kappa = 0,91 (0,82–0,99) cho thấy độ này. Nghiên cứu của chúng tôi cũng như của đồng thuận rất mạnh giữa TWIST và DSA. Meckel, Farb và Nishimura đều có tốc độ bơm Nghiên cứu của Farb (n=20) và Nishimura thuốc từ 2 ml/giây trở lên. Trong nghiên cứu của (n=18) có tỉ lệ phân type Borden đúng bằng chúng tôi, chuỗi xung time-resolved CE-MRA chuỗi xung TR CE-MRA là 100%; chỉ số kappa (TWIST) bỏ sót 1 vị trí rò trên 1 bệnh nhân có rò trong nghiên cứu của Nishimura là 1. Tuy hơi xoang hang hai bên. thấp hơn nhưng tỉ lệ phân type Borden đúng Trong 27 DAVFs được phát hiện trên trong nghiên cứu của chúng tôi cũng rất cao > TWIST, chuỗi xung này xác định đúng vị trí rò 95%, độ tương hợp rất mạnh giữa MRI và trong 100% trường hợp. Giá trị kappa = 1 cho DSA, tương đồng với nghiên cứu của Farb và thấy mức độ đồng thuận rất mạnh giữa TWIST Nishimura. và DSA trong xác định vị trí DAVFs. Kết quả Chuỗi xung TWIST phân type Cognard này cao hơn một chút với tác giả Meckel (n = 13) chính xác trong 21 trường hợp, chiếm 91,3%. có tỉ lệ chẩn đoán đúng vị trí DAVFs là 88,9%. Giá trị kappa = 0,88 (0,8–0,96) cho thấy mức độ Tương tự chuỗi xung TOF 3D và CE-MRA, điều đồng thuận rất mạnh giữa chuỗi xung TWIST này khả năng do tác giả Meckel chia vị trí và DSA trong phân type Cognard của DAVFs. DAVFs chi tiết hơn so với các nghiên cứu khác. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với Meckel có tỉ lệ chẩn đoán chính xác type kết quả của tác giả Nishimura có tỉ lệ chẩn đoán Cognard là 85%. Điều này nhiều khả năng do Chuyên Đề Ngoại Khoa 27
  7. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019 khác biệt cỡ mẫu giữa hai nghiên cứu nhưng TWIST và DSA trong chẩn đoán type Borden nhìn chung tỉ lệ chẩn đoán đúng đều > 80%, cao hơn trong chẩn đoán type Cognard, điều cho thấy giá trị của TR CE-MRA trong phân này khả năng do TWIST còn gặp khó khăn type Cognard ở bệnh nhân DAVFs. Trong trong chẩn đoán chiều dẫn lưu xoang màng cứng. nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số kappa giữa Hình 1. Hình ảnh TWIST rò trực tiếp vào tĩnh mạch vỏ não vùng xoang dọc trên, tương ứng với hình ảnh trên DSA. “Nguồn: Bệnh nhân Nguyễn Thị Ngọc O., SNV: 18-0050629” patients with intracranial dural arteriovenous fistulas: KẾTLUẬN comparison of MR imaging and angiographic findings". DSA là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và AJNR Am J Neuroradiol, 26(6):pp. 1532-8. 8. Meckel S, Maier M, Ruiz DS, Yilmaz H, Scheffler K et al. đánh giá DAVFs. Tuy nhiên cộng hưởng từ có (2007). "MR angiography of dural arteriovenous fistulas: điểm ưu việt là tính không xâm lấn, khả năng diagnosis and follow-up after treatment using a time-resolved 3D contrast-enhanced technique". AJNR Am J Neuroradiol, chẩn đoán tổn thương nhu mô não, những hậu 28(5):pp. 877-84. quả do ứ trệ tĩnh mạch gây ra bởi DAVFs. 9. Nakagawa I, Taoka T, Wada T, Nakagawa H, Sakamoto M et 4 chuỗi xung TOF 3D, CE-MRA và TWIST, al. (2013). "The Use of Susceptibility-Weighted Imaging as an Indicator of Retrograde Leptomeningeal Venous Drainage SWI đều có giá trị cao trong chẩn đoán, xác định and Venous Congestion With Dural Arteriovenous Fistula: vị trí và phát hiện tình trạng dẫn lưu tĩnh mạch Diagnosis and Follow-up After Treatment". Neurosurgery, 72(1):pp. 47-55. vỏ não, đặc biệt là chuỗi xung TWIST. 10. Newton TH, Cronqvist S (1969). "Involvement of dural TÀILIỆUTHAMKHẢO arteries in intracranial arteriovenous malformations". Radiology, 93(5):pp. 1071-8. 1. Azuma M, Hirai T, Shigematsu Y, Kitajima M, Kai Y et al 11. Nishimura S, Hirai T, Sasao A, Kitajima M, Morioka M et al (2015). "Evaluation of Intracranial Dural Arteriovenous (2010). "Evaluation of dural arteriovenous fistulas with 4D Fistulas: Comparison of Unenhanced 3T 3D Time-of-flight contrast-enhanced MR angiography at 3T". AJNR Am J MR Angiography with Digital Subtraction Angiography". Neuroradiol, 31(1):pp. 80-5. Magn Reson Med Sci, 14(4):pp. 285-93. 12. Noguchi K, Melhem E R, Kanazawa T, Kubo M, Kuwayama 2. Chen JC, Tsuruda JS, Halbach VV (1992). "Suspected dural N et al. (2004). "Intracranial dural arteriovenous fistulas: arteriovenous fistula: results with screening MR angiography evaluation with combined 3D time-of-flight MR angiography in seven patients". Radiology, 183(1):pp. 265-71. and MR digital subtraction angiography". AJR Am J 3. Cohen SD, Goins JL, Butler SG, Morris PP, Browne JD (2009). Roentgenol, 182(1):pp. 183-90. "Dural arteriovenous fistula: diagnosis, treatment, and 13. Noguchi K, Kuwayama N, Kubo M, Kamisaki Y, Kameda K outcomes". Laryngoscope, 119(2):pp. 293-7. et al. (2010). "Intracranial Dural Arteriovenous Fistula with 4. Farb RI, Agid R, Willinsky RA, Johnstone DM, Terbrugge KG Retrograde Cortical Venous Drainage: Use of Susceptibility- (2009). "Cranial dural arteriovenous fistula: diagnosis and Weighted Imaging in Combination with Dynamic classification with time-resolved MR angiography at 3T". Susceptibility Contrast Imaging". American Journal of AJNR Am J Neuroradiol, 30(8):pp. 1546-51. Neuroradiology, 31(10):pp. 1903-1910. 5. Jagadeesan BD, Delgado Almandoz JE, Moran CJ, Benzinger 14. Osborn AG, Gary L, Karen L (2017). "CVMs with TL (2011). "Accuracy of susceptibility-weighted imaging for Arteriovenous Shunting", In: Osborn's Brain: Imaging, the detection of arteriovenous shunting in vascular Pathology, and Anatomy, pp. 165-170. malformations of the brain". Stroke, 42(1):pp. 87-92. 6. Jain NK, Kannath SK, Kapilamoorthy TR, Thomas B (2017). "The application of susceptibility-weighted MRI in pre- Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 interventional evaluation of intracranial dural arteriovenous Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 fistulas". J Neurointerv Surg, 9(5):pp. 502-507. Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019 7. Kitajima M, Hirai T, Korogi Y, Yamura M, Kawanaka K et al (2005). "Retrograde cortical and deep venous drainage in 28 Chuyên Đề Ngoại Khoa

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản