intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá hiệu quả điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn bằng thông khí áp lực dương liên tục tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

52
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả của thông khí áp lực dương liên tục không xâm lấn trong điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn. Nghiên cứu tiến hành từ tháng 02/2008 đến tháng 7/2010, đã có 31 bệnh nhân bị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn mức độ nặng dùng khí áp lực dương liên tục.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá hiệu quả điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn bằng thông khí áp lực dương liên tục tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NGƯNG THỞ KHI NGỦ<br /> DO TẮC NGHẼN BẰNG THÔNG KHÍ ÁP LỰC DƯƠNG LIÊN TỤC<br /> TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY<br /> Đặng Vũ Thông*, Lâm Quốc Dũng*, Lê Trần Minh Thư*, Nguyễn Thị Hồng Anh*, Vũ Hoài Nam*,<br /> Đậu Nguyễn Anh Thư*, Đặng Thị Mai Khuê*, Đoàn Ngọc Duy*, Đặng Thị Bích Ngân*,<br /> Nguyễn Thị Ngọc Bích*, Nguyễn Xuân Bích Huyên*,Trần Văn Ngọc*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của thông khí áp lực dương (TKALD) liên tục không xâm lấn trong điều trị<br /> ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (NTKNDTN).<br /> Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng loạt ca.<br /> Kết quả: Từ tháng 02/2008 đến tháng 7/2010, đã có 31 bệnh nhân bị NTKNDTN mức độ nặng dùng<br /> TKALD liên tục đến nay (lâu nhất là 2 năm, ngắn nhất là 3 tháng). Chỉ số ngưng thở giảm thở (CSNTGT) cải<br /> thiện ngay sau khi điều trị bằng TKALD. Nếu bệnh nhân thở máy được với áp lực hiệu quả, CSNTGT đạt được<br /> tương đương mức bình thường. Điểm rối loạn giấc ngủ và điểm buồn ngủ Epworth cải thiện sau 1 tháng và tiếp<br /> tục cải thiện thêm sau 3 tháng.<br /> Kết luận: Thông khí áp lực dương liên tục là biện pháp điều trị hiệu quả, an toàn cho bệnh nhân<br /> NTKNDTN mức độ nặng.<br /> Từ khóa: Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, thông khí áp lực dương liên tục.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> EVALUATING THE EFFICACY OF CONTINUOUS POSITIVE AIRWAY PRESSURE TREATMENT IN<br /> OBSTRUCTIVE SLEEP APNEA SYNDROME AT CHO RAY HOSPITAL<br /> Dang Vu Thong, Lam Quoc Dung, Le Tran Minh Thu, Nguyen Thi Hong Anh, Vu Hoai Nam,<br /> Dau Nguyen Anh Thu, Dang Thi Mai Khue, Đoan Ngoc Duy, Dang Thi Bich Ngan,<br /> Nguyen Thi Ngoc Bich, Nguyen Xuan Bich Huyen, Tran Van Ngoc<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 4 - 2011: 97 - 102<br /> Objective: Evaluating the efficacy of continuous positive airway pressure (CPAP) in the treatment of<br /> obstructive sleep apnea syndrome (OSAS).<br /> Method: Clinical intervention, case series.<br /> Results: From 02/2008 to 7/2010, there were 31 patients with severe OSAS who used CPAP (longest<br /> duration of treatment: 2 years, shortest: 3 months). The apnea hypopnea index (AHI) decreased right after CPAP<br /> treatment and was equal to normal level when patient used CPAP treatment with the effect pressure.<br /> The sleep disturbance scale and Epworth sleepiness scale decreased after 1 month and more after 3 months of<br /> treatment.<br /> Conclusion: CPAP is an effective and safe treatment for patients with severe OSAS.<br /> Key words: continuous positive airway pressure, obstructive sleep apnea syndrome.<br /> * Khoa Hô hấp, BVCR<br /> Tác giả liên lạc: BSCK2 Đặng Vũ Thông<br /> <br /> ĐT: 0903856383<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011<br /> <br /> Email: dvuthong@gmail.com<br /> <br /> 97<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011<br /> <br /> MỞ ĐẦU<br /> Hội chứng ngưng thở khi ngủ là ngưng hô<br /> hấp lặp đi lặp lại trong khi ngủ, từ đó gây giảm<br /> oxy trong máu và gây ra nhiều hậu quả xấu cho<br /> người bệnh(9,3).<br /> Có 3 dạng ngưng thở khi ngủ: do tắc nghẽn<br /> (thường gặp nhất), do trung ương, và hỗn hợp.<br /> Có nhiều biện pháp điều trị ngưng thở khi<br /> ngủ, trong đó ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn<br /> mức độ nặng có đáp ứng rất tốt với điều trị bằng<br /> thông khí áp lực dương và khả năng thích ứng<br /> lâu dài của bệnh nhân cao.<br /> Thông khí áp lực dương (TKALD) liên tục<br /> qua mặt nạ là phương pháp điều trị không xâm<br /> lấn (không xâm lấn do không phải đặt nội khí<br /> quản) thông dụng và hiệu quả nhất trong điều<br /> trị NTKNDTN. TKALD đòi hỏi bệnh nhân phải<br /> đeo mặt nạ nối với một ống máy thở và gắn vào<br /> máy thở. Máy thở sẽ bơm ra một luồng áp lực<br /> dương vào đường hô hấp trên. Áp lực dương<br /> này đủ lớn để giữ cho đường hô hấp trên mở ra,<br /> ngăn ngừa hiện tượng ngưng và giảm thở, ngáy,<br /> giảm độ bão hòa oxy trong máu và vi thức giấc.<br /> Nói cách khác, máy thở giúp đường thở mở ra<br /> để bệnh nhân có thể thở bình thường.<br /> NTKNDTN:<br /> <br /> thiện chất lượng giấc ngủ, bình thường hoá nhịp<br /> thở khi ngủ, dẫn đến giải quyết các tình trạng<br /> ngưng thở, giảm bão hoà oxy và tình trạng buồn<br /> ngủ ban ngày. Điều trị có thể giúp ngăn ngừa các<br /> biến chứng tim mạch của ngưng thở khi ngủ nhờ<br /> vào việc giúp ổn định huyết áp, nhịp tim, giảm tỷ<br /> lệ bệnh tật, tăng cường chất lượng cuộc sống.<br /> Đến nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu<br /> nào về vấn đề này. Vì vậy chúng tôi thực hiện<br /> nghiên cứu này để có đánh giá ban đầu về hiệu<br /> quả của thông khí áp lực dương trong điều trị<br /> ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở bệnh nhân<br /> Việt nam, tìm hiểu những khó khăn khi thực<br /> hiện thông khí áp lực dương và biện pháp khắc<br /> phục những khó khăn này để giúp bệnh nhân<br /> dung nạp và đạt được hiệu quả điều trị cao nhất.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> Tất cả các bệnh nhân bị hội chứng NTKN do<br /> tắc nghẽn mức độ nặng đồng ý điều trị bằng<br /> thông khí áp lực dương đến khám tại khoa Hô<br /> hấp bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian nghiên<br /> cứu (02/2008 – 7/2010).<br /> <br /> Tiêu chuẩn chọn bệnh<br /> Bệnh nhân được chẩn đoán NTKNDTN mức<br /> độ nặng (CSNTGT>30).<br /> Đồng ý điều trị bằng thông khí áp lực dương.<br /> <br /> Không có thông<br /> khí do đường thở<br /> bị xẹp<br /> <br /> Tiêu chuẩn loại trừ<br /> Có những bất thường gây tắc nghẽn đường hô<br /> hấp trên có chỉ định nhưng chưa được phẫu thuật.<br /> Không đồng ý điều trị bằng thông khí áp lực<br /> dương.<br /> <br /> TKALD:<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> <br /> Áp lực dương làm<br /> mở rộng đường<br /> thở giúp không khí<br /> đi vào phổi<br /> <br /> Hình 1.1: Hiệu quả của TKALD đối với NTKNDTN<br /> Hiệu quả tích cực của TKALD trong điều trị<br /> NTKNDTN có thể chứng minh được bằng sự cải<br /> <br /> 98<br /> <br /> Nghiên cứu can thiệp, mô tả loạt ca.<br /> <br /> Phương pháp tiến hành<br /> Bệnh nhân trả lời bảng câu hỏi tầm soát để<br /> đánh giá khả năng bị NTKN.<br /> Nếu nghi ngờ có khả năng bị NTKN, bệnh<br /> nhân được đo đa ký hô hấp (bằng phần mềm<br /> Cidelec) hoặc đa ký giấc ngủ (bằng phần mềm<br /> Medatec) và làm bệnh án ghi nhận tiền căn bệnh<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011<br /> lý và những dữ liệu để đánh giá nghiên cứu<br /> theo mẫu chung (xem bệnh án minh họa ở phần<br /> phụ lục), bao gồm các câu hỏi đánh giá chất<br /> lượng giấc ngủ, chất lượng cuộc sống ban ngày<br /> dựa theo chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh<br /> và bảng điểm buồn ngủ Epworth.<br /> Nếu bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng<br /> NTKN do tắc nghẽn mức độ nặng (chỉ số ngưng<br /> thở giảm thở > 30), có than phiền là buồn ngủ ban<br /> ngày hoặc có ít nhất 1 trong các triệu chứng: ngủ<br /> ngáy, ngộp thở hoặc ngưng thở ban đêm, nhức<br /> đầu buổi sáng, giảm tỉnh thức, bất lực, tiểu đêm,<br /> tăng huyết áp và khám tai mũi họng không có bất<br /> thường có thể điều trị bằng phẫu thuật, hoặc đã<br /> được phẫu thuật những bất thường ở vùng tai<br /> mũi họng sẽ được đo một đêm nữa để:<br /> Thử thông khí áp lực dương không xâm<br /> nhập qua mặt nạ mũi hoặc mũi-miệng (chế độ<br /> áp lực dương đường thở tự động điều chỉnh) để<br /> đánh giá sơ bộ khả năng dung nạp.<br /> Xác định mức áp lực dương cần thiết bằng<br /> phương pháp xác định áp lực bằng áp lực<br /> dương đường thở tự động điều chỉnh.<br /> Đánh giá sơ bộ hiệu quả của TKALD qua chỉ<br /> số ngưng thở giảm thở (khách quan) và chất<br /> lượng giấc ngủ với TKALD (chủ quan của bệnh<br /> nhân). Sau đêm đo này, bệnh nhân sẽ quyết định<br /> có điều trị bằng phương pháp này hay không.<br /> Những bệnh nhân đồnh ý điều trị bằng<br /> TKALD sẽ được hướng dẫn cách sử dụng chiếc<br /> máy thở của mình, một số khó khăn thường gặp<br /> khi thở máy và cách khắc phục.<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Những bệnh nhân điều trị bằng thông khí<br /> áp lực dương sẽ được theo dõi, đánh giá lại sau<br /> 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng và ghi nhận các dữ liệu<br /> như trước khi điều trị, khả năng dung nạp thông<br /> khí áp lực dương và những tác dụng phụ nếu<br /> có. Ngoài ra, bệnh nhân có thể tái khám bất cứ<br /> lúc nào khi có bất thường hay những khó khăn<br /> gì để có những biện pháp khắc phục hoặc điều<br /> chỉnh kịp thời giúp bệnh nhân tuân thủ và đạt<br /> hiệu quả điều trị tốt nhất.<br /> Nghiên cứu so sánh chỉ số ngưng thở giảm<br /> thở, mức độ buồn ngủ ban ngày, và chất lượng<br /> giấc ngủ trước và sau điều trị bằng thông khí áp<br /> lực dương để đánh giá hiệu quả điều trị.<br /> Đánh giá mức độ buồn ngủ ban ngày được<br /> thực hiện theo thang điểm buồn ngủ Epworth,<br /> và đánh giá chất lượng giấc ngủ dựa vào thang<br /> điểm những rối loạn trong giấc ngủ theo chỉ số<br /> chất lượng giấc ngủ Pittsburgh.<br /> <br /> Xử lý thống kê<br /> Kết quả được mã hóa và xử lý bằng phần<br /> mềm SPSS 11.5.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, BÀN LUẬN<br /> Từ tháng 02/2008 đến tháng 7/2010, đã có 31<br /> bệnh nhân dùng TKALD liên tục đến nay, lâu<br /> nhất là 2 năm, ngắn nhất là 3 tháng.<br /> Có 29 bệnh nhân nam (93,5%) và 2 nữ (6,5%)<br /> thở máy với áp lực hiệu quả = 13±3 cm nước,<br /> thời gian thở máy = 5,3±1,3 giờ/ đêm, tối thiểu =<br /> 2,5, tối đa = 7,5, trung vị = 5,5, số bệnh nhân thở<br /> máy trung bình ≥4 giờ/ đêm = 27.<br /> <br /> Chỉ số ngưng thở giảm thở<br /> Bảng 1: CSNTGT trước và sau điều trị của các bệnh nhân thở máy với áp lực hiệu quả.<br /> Thời điểm<br /> trước điều trị<br /> <br /> CSNTGT<br /> 60,0±23,4<br /> <br /> Ghi chú<br /> <br /> sau thở máy đêm đầu tiên<br /> <br /> có cải thiện so với trước điều trị (p
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2