intTypePromotion=1

Đề án ngành Kinh doanh thương mại: Thực trạng hoạt động các loại hình vận tải đa phương thức trong ngành Logistics ở Việt Nam

Chia sẻ: Hoàng Khánh Nhân | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:59

0
15
lượt xem
5
download

Đề án ngành Kinh doanh thương mại: Thực trạng hoạt động các loại hình vận tải đa phương thức trong ngành Logistics ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của đề án này trình bày những vấn đề chung về Logistics và hoạt động vận tải đa phương thức; thực trạng hoạt động vận tải đa phương thức ở trong ngành Logistics Việt Nam; giải pháp thúc đẩy phát triển loại hình vận tải đa phương thức trong ngành Logistics Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề án ngành Kinh doanh thương mại: Thực trạng hoạt động các loại hình vận tải đa phương thức trong ngành Logistics ở Việt Nam

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ Bộ môn Kinh tế và Kinh doanh thương mại   ĐỀ ÁN Ngành: Kinh Doanh Thương Mại Đề tài:  THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC LOẠI HÌNH VẬN TẢI  ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG NGÀNH LOGISTICS Ở VIỆT NAM Họ và tên sinh viên : Hoàng Khánh Nhân  Lớp chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh thương mại  60A GVHD : Ths. Trần Đức Hạnh 1
  2. Hà Nội –Tháng 3/2021
  3. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ Bộ môn Kinh tế và Kinh doanh thương mại   ĐỀ ÁN Ngành: Kinh Doanh Thương Mại Đề tài:  THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC LOẠI HÌNH VẬN TẢI  ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG NGÀNH LOGISTICS Ở VIỆT NAM Họ và tên sinh viên : Hoàng Khánh Nhân  Lớp chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh thương mại  60A GVHD : Ths. Trần Đức Hạnh 3
  4. Hà Nội –Tháng 3/2021 4
  5. MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT GVC Global Value Chain Chuỗi giá trị toàn cầu UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển FOB Free On Board Giao hàng lên tàu CIF Cost, Insurance, Freight Tiền hàng, cước phí, bảo hiểm VTĐPT Vận tải đa phương thức EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử ICD Inland Container Depot Cảng hàng hóa nội địa ASEAN The Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á HKVN Hàng không Việt Nam VASCO Vietnam Air Services Company Công ty Bay dịch vụ hàng không Việt Nam VNR Vietnam National Railway Tổng Công ty đường sắt Việt Nam UNESCAP Ủy ban KT­XH Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc KT­XH Kinh tế ­ Xã hội TNHH Trách nhiệm hữu hạn ACV Airports Corporation of Vietnam Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam GTVT Giao thông vận tải BOT Build – Operate – Transfer Hợp đồng xây dựng ­ kinh doanh ­ chuyển giao trong kinh tế 5
  6. GII Global International Infrastructure Hệ thống thông tin toàn cầu ICAO International Civil Aviation Organization Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế MTO Multimodal Transport Operator Nhà vận tải đa phương thức FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới B/L Bill of Lading Vận đơn đường biển AWB Airway Bill – Vận đơn hàng không DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ Hình vẽ/Biểu đồ Thông tin Số trang Hình 2.1 Biểu đồ thống kê số lượng đội tàu Việt  14 Nam năm 2020 Bảng 2.1 Thực trạng về phân loại và chiều dài hệ  25 thống giao thông đường bộ Việt Nam Bảng 2.2 Thực trạng về mạng lưới giao thông tuyến  27 đường sắt Việt Nam Bảng 2.3 Thực trạng về khả năng tiếp nhận tàu của  29 các cầu cảng biển tại Việt Nam Bảng 2.4 Thực trạng về GTVT thủy nội địa Việt  30 Nam Bảng 2.5 Cảng hàng không sân bay của Việt Nam 33 6
  7. LỜI MỞ ĐẦU Vận tải là một khâu vô cùng quan trọng để  đưa sản phẩm từ  nơi sản   xuất đến tay người tiêu dùng. Đặt vào bối cảnh hiện nay, khi mà hợp tác kinh  tế   phát   triển   vượt   khỏi   phạm   vi   một   quốc   gia   hay  khu   vực,   các   quan  hệ  thương mại diễn ra trên bình diện thế giới với khối lượng hàng hoá giao dịch   ngày càng lớn, vai trò thiết yếu của vận tải lại càng được bộc lộ rõ nét hơn. Nước ta có một bờ biển dài hơn 3 triệu km, lại có vị trí địa lý thuận lợi,  là giao điểm của các đầu mối giao thông lớn. Do đó, nếu phát triển được  ngành vận tải và tận dụng hết các ưu thế tự nhiên, đây sẽ là một lợi thế đáng   kể của Việt Nam. Ngày nay, cùng với sự  phát triển của khoa học kỹ  thuật, các phương  tiện vận tải cũng như các cơ  sở  hạ  tầng khác của giao thông đều được nâng  cao. Đồng thời với những tiến bộ đó là sự mở rộng của khái niệm hoạt động  vận tải và sự  xuất hiện của ngày càng nhiều các hình thức vận tải mới, tiêu  biểu trong số đó chính là Vận tải đa phương thức. Vận tải đa phương thức đang trở thành ngành dịch vụ vận tải phổ biến   trên thế  giới, tuy còn khá mới mẻ   ở  thị  trường Việt Nam. Lựa chọn đề  tài:  "Thực trạng hoạt động vận tải đa phương thức trong ngành Logistics  ở  Việt   Nam", em hi vọng bài tiểu luận này sẽ  một lần nữa khẳng định lại tầm quan   trọng của vận tải nói chung và vận tải đa phương thức nói riêng, đưa ra được  những đánh giá khái quát về  tình hình vận tải đa phương thức trong ngành   Logistics Việt Nam, đồng thời kiến nghị những giải pháp nhằm phát triển vận  tải đa phương thức Việt Nam để đưa vận tải Việt Nam bắt kịp với xu thế của   thời đại. Trong quá trình thực hiện tiểu luận, do còn hạn chế về mặt thời gian và   kiến thức thực tế, chắc chắn bản đề  án của em còn nhiều thiếu sót. Em rất  mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét của thầy/cô để  bài của  em thêm hoàn thiện. 7
  8. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LOGISTICS  VÀ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC 1.1 Tổng quan về Logistics 1.1.1 Khái niệm Logistics Bản chất Logistics là một trong những số  ít thuật ngữ  khó dịch nhất,   giống như  từ  “Marketing”, từ  Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả  những ngôn ngữ  khác. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ  này quá rộng nên không  một từ  đơn ngữ  nào có thể  truyền tải được hết ý nghĩa của nó. Thuật ngữ  Logistics là thuật ngữ chuyên ngành có gốc Hy Lạp và từ tiếng Việt có nghĩa  gần nhất là “hậu cần”. Hiểu đơn giản nhất, Logistics là một phần của chuỗi   cung   ứng   bao   gồm   tổng   thể   những   công   việc   liên   quan   đến   hàng   hóa   gồm đóng gói, vận chuyển, lưu kho, bảo quản  cho tới khi hàng được giao  đến người tiêu thụ cuối cùng. Một số định nghĩa khác về Logistics Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu  chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan từ  nơi xuất xứ  đến nơi tiêu thụ  vì mục tiêu đáp  ứng nhu cầu của khách hàng   (World Marintime Unviersity­ Đại học Hàng Hải Thế Giới, D. Lambert 1998). Theo   Điều   233,   Bộ   Luật   Thương   mại   Việt   Nam   2005:   “Dịch   vụ  Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ  chức thực hiện  một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,   làm thủ  tục hải quan, các thủ  tục giấy tờ  khác, tư  vấn khách hàng, đóng gói  bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng  hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” Ngành Logistic chính là dịch vụ vận chuyển hàng hóa tối ưu nhất từ nơi   sản xuất, cung cấp đến tay người tiêu dùng. Những đơn vị, công ty Logistics  sẽ phải lên kế hoạch cụ thể và kiểm soát các luồng chuyển dịch của hàng hóa   hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên từ  điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ  theo yêu cầu mà khách hàng đặt ra. Tóm lại Logistics là quá trình lên kế  hoạch, áp dụng và kiểm soát các   luồng chuyển dịch của hàng hóa hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu   8
  9. vật tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng (đầu ra) từ  điểm xuất phát tới điểm   tiêu thụ. 1.1.2 Vai trò của Logistics Là công cụ  liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị  toàn cầu (GVC ­  Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị  trường cho các hoạt động kinh tế. Khi thị  trường toàn cầu phát triển với các   tiến bộ  công nghệ, đặc biệt là việc mở  cửa thị  trường  ở  các nước đang và  chậm  phát triển,   Logistics   được  các  nhà  quản  lý coi  như   là   công cụ,  một   phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics   có   vai   trò   quan   trọng   trong   việc   tối   ưu   hóa   chu   trình   lưu   chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ  kiện,   … tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng. 1.1.2.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế quốc gia Phát triển dịch vụ  Logistics một cách hiệu quả  sẽ  góp phần tăng năng   lực cạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia. Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ  như hiện nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở  nên  gay gắt, khốc liệt hơn. Điều này đã làm cho dịch vụ  Logistics trở  thành một   trong các lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Những nước kết nối tốt với mạng   lưới dịch vụ  Logistics toàn cầu thì có thể  tiếp cận được nhiều thị  trường và  người tiêu dùng từ các nước trên thế giới. Phát triển dịch vụ Logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh  tế. Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả  của  quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công   nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như  Mỹ  và Nhật, Logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát  triển thì tỷ  lệ  này có thể  cao hơn 30%. Sự  phát triển dịch vụ  Logistics có ý   nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được  đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả  năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. 9
  10. 1.1.2.2 Vai trò của Logistics đối với doanh nghiệp Nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất,   tăng cường sức cạnh tranh Theo thống kê của một số  tổ  chức nghiên cứu về  Logistics cũng như  Viện nghiên cứu Logistics của Mỹ  cho biết, chi phí cho hoạt động Logistics   chiếm tới khoảng 10­13% GDP  ở các nước phát triển, con số này ở  các nước   đang phát triển thì cao hơn khoảng 15­20%. Theo thống kê của một nghiên   cứu, hoạt động Logistics trên thị  trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ  bình quân là 33%/1 năm và  ở  Brazil là 20%/1 năm. Điều này cho thấy chi phí   cho Logistics là  rất lớn. Vì vậy với việc hình thành và  phát triển dịch vụ  Logistics là rất lớn, sẽ  giúp các doanh nghiệp cũng như  toàn bộ  nền kinh tế  quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi Logistics, làm cho quá trình sản xuất  kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả  hơn. Giảm chi phí trong sản xuất,  quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được  nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thực   tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí Logistics đã giảm xuống rất  nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới. Tiết kiệm và giảm chi phí trong các hoạt động lưu thông, phân phối Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng  với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ  yếu là phí vận tải  chiếm một tỷ  lệ  không nhỏ  và là bộ  phận cấu thành giá cả  hàng hóa trên thị  trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố  quan   trọng của lưu thông. C. Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình  thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải  có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá   trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số  liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình  10­15% giá FOB, hay 8­9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong  hệ thống Logistics cho nên dịch vụ Logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại  sẽ  tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu   thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải, giao nhận 10
  11. Dịch vụ Logistics là loại hình dịch vụ  có quy mô mở  rộng và phức tạp  hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người   kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch  vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu  thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể  do nhiều quốc gia cung  ứng và  ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc   gia, nhiều thị  trường khác nhau, vì vậy dịch vụ  mà khách hàng yêu cầu từ  người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận   tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ  nhằm đáp ứng yêu   cầu thực tế  của khách hàng. Họ  trở  thành người cung cấp dịch vụ  Logistics  (Logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ  Logistics đã góp phần làm gia  tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử  dụng dịch vụ  Logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể  rút ngắn  thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ  5­6 tháng xuống còn 2 tháng. Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao  gấp 3­4 lần sản xuất và gấp từ 1­2 lần các dịch vụ ngoại thương khác. Phát triển góp phần mở rộng thị trường buôn bán quốc tế Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh  doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản   xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và  mở  rộng thị  trường cho sản phẩm của mình phải cần sự  hỗ  trợ  của dịch vụ  Logistics. Dịch vụ Logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển   dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu   về  thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ  Logistics phát triển có tác dụng rất  lớn  trong  việc  khai  thác   và  mở  rộng  thị  trường kinh  doanh cho các  doanh   nghiệp. Giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ  trong kinh doanh   quốc tế Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế  thường phải tiêu tốn  các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy   tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế  giới hàng năm đã vượt  quá 420 tỷ  USD. Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ,  chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn  11
  12. 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế,  ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn  bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng  giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Ngoài   ra,   cùng   với   việc   phát   triển   Logistics   điện   tử   (Electronic   Logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và Logistics, chi phí   cho giấy tờ, chứng từ  trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối   đa, chất lượng dịch vụ Logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa   cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu  và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất   và lưu thông. 1.2 Vận tải đa phương thức 1.2.1 Khái niệm vận tải đa phương thức 1.2.1.1 Khái niệm Đầu tiên, để hiểu được Vận tải đa phương thức được hiểu như thế nào   thì cần phải biết một số thuật ngữ đơn giản liên quan đến vận tải. Chẳng hạn  như: ­ Phương thức vận tải: là cách thức vận tải được sử dụng để di chuyển  hàng hóa, ví dụ  như  đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không,   đường ống. ­ Phương tiện vận tải: loại phương tiện sử dụng để vận tải, ví dụ: tàu  thủy, ô tô, máy bay. ­ Loại phương tiện vận tải: loại phương tiện được sử  dụng trong quá   trình vận tải. Như  vậy, căn cứ  vào những khái niệm cơ  bản trên, có thể  hình dung  Vận tải đa phương thức quốc tế  (Multimodal transport) còn được gọi tên là   vận tải liên hợp (Combined transport) là phương thức vận tải hàng hóa sử  dụng kết hợp từ  hai phương thức vận tải khác nhau trở  lên, dựa trên cơ  sở  một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở  một nước đến tới một  điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng. 1.2.1.2 Đặc điểm của Vận tải đa phương thức ­ Việc vận tải phải có ít nhất 2 phương thức vận chuyển kết hợp với   nhau như là: Tàu thủy – máy bay, Tàu hỏa – xe tải bộ... 12
  13. ­ Sự vận chuyển của các đơn vị xếp dỡ tiêu chuẩn trong một chuỗi  vận  chuyển door­to­door liên tục. Bao bì hàng hóa không được mở  khi thay đổi   phương tiện vận tải mặc dù sử  dụng môt số  phương thức vận tải khác nhau  trong quá trình vận chuyển. ­ Người kinh doanh vận tải đa phương thức là người phải chịu trách  nhiệm đối với hàng hóa trong một quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để  chuyên chở  cho tới khi giao xong hàng cho người nhận kể cả việc chậm giao  hàng ở nơi đến ­ Một người tổ chức vận tải, một giá, một chứng từ vận tải (đơn giản  hóa) ­ Vận tải hàng hóa từ điểm xuất phát ở 1 nước đến điểm giao hàng ở 1  nước khác thì gọi là VTĐPT quốc tế, hàng hóa thường được vận chuyển bằng   những dụng cụ vận tải như Container, trailer… ­ Đảm bảo vận chuyển hàng hóa liên tục ở  các tuyến tốt nhất, với chi   phí hiệu quả, đáp  ứng nhu cầu của chủ hàng, trên cơ  sở  đơn giản hóa chứng  từ, tăng cường sử dụng EDI (electronic data interchange) 1.2.1.3 Thể chế và pháp luật Việt Nam liên quan đến vận tải đa phương thức Hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có một bộ luật nào chính thức điều chỉnh  hoạt động vận tải đa phương thức mà chỉ  có các văn bản dưới luật là Nghị  định   125/2003   NĐ­CP   về   vận   tải   đa   phương   thức,   thông   tư   10/2004/TT­ BGTVT hướng dẫn thi hànhnghị  định trên, thông tư 125/2004/TT­BTC hướng   dẫn về thủ tục hải quan đối với hàng hoá vận tải đa phương thức quốc tế và  một điều khoản về hợp đồng vận tải đa phương thức nằm trong điều 119­Bộ  luật hàng hải Việt Nam. Cụ thể: Bộ luật hàng hải Việt Nam Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động: đường bộ, đường  sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không thuộc ngành Giao thông vận tải  đều được điều chỉnh bởi bộ  luật hoặc các luật chuyên ngành: Bộ  luật Hàng   hải Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội  địa, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng.  Trong các luật chuyên ngành nói trên, duy nhất chỉ có Bộ luật Hàng hải  Việt Nam có một điều (Điều 119 ­ Hợp đồng vận tải đa phương thức) có quy   định những nội dung liên quan  đến vận tải  đa phương thức quốc tế. Tuy   13
  14. nhiên, nội dung chủ yếu của điều luật này chỉ  quy định về mối quan hệ, giới  hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức với người gửi   hàng. Còn lại các luật chuyên ngành khác không có nội dung nào quy định về  hoạt động vận tải đa phương thức, mà chỉ quy định các vấn đề liên quan đến:  an toàn, kết cấu hạ  tầng đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường   bộ...; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường  thủy nội địa...; quy hoạch, xây dựng bảo vệ  kết cấu hạ  tầng, an toàn giao  thông đường sắt, đường sắt đô thị...; quản lý nhà nước về  hàng không dân  dụng, cảng hàng không dân dụng, bảo đảm an toàn hàng không... Như  vậy,  giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các luật chuyên ngành chưa có “tiếng nói   chung” về hoạt động vận tải đa phương thức. 14
  15. Các văn bản dưới luật về vận tải đa phương thức Về  cơ  bản, nội dung của Nghị  định số  125/2003/NĐ­CP đã thể  hiện  ‘tính mở” và hướng tới hội nhập: không phân biệt các thành phần kinh tế trong  nước, mở cửa cho tổ chức và cá nhân nước ngoài vào tham gia kinh doanh vận  tải đa phương thức, hàng hóa vận tải đa phương thức được miễn kiểm tra hải  quan... Về  điều kiện tài chính, quy định chung đối với nhà cung cấp dịch vụ  nước ngoài và ngoài nước là phải có có bảo hiểm trách nhiệm nghề  nghiệp  vận tải đa phương thức hoặc có bảo lãnh của ngân hàng cho người kinh doanh  vận tải đa phương thức đối với tổn thất về mất mát, hư  hỏng hàng hoá, giao   hàng chậm và những rủi ro khác; có tài sản tối thiểu tương đương 80.000 SDR   hoặc bảo lãnh tương đương. Thông   tư   10/2004/TT­BGTVT   quy   định,   doanh   nghiệp   có   100%   vốn  nước   ngoài   và   công  ty   liên   doanhđược   phép   cung   cấp   dịch   vụ   vận   tải   đa  phương thức. Như  vậy, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cho phép cung  cấp dịch vụ vận tải đa phương thức do chi nhánh và văn phòng đại diện thực   hiện. Đáng lưu ý là quy định trong Thông tư 10 có thể gây xung đột pháp lý với   các   văn   bản   quy   phạm   pháp   luật   ban   hành   trước   đây,   bởi   theo   đó,   doanh  nghiệp 100% vốn nước ngoài có thể  cung cấp cả  chu trình trọn gói gồm vận   tải nội địa, vận tải đường bộ, giao nhận, dịch vụ cảng mà các loại dịch vụ đó  theo quy định hiện hành là chỉ  do các công ty trong nước hoặc các công ty có  vốn đầu tư nước ngoài cung cấp với vốn góp tối đa của bên nước ngoài không   quá 49%. Ngoài     các     nghị   định   và   thông   tư   trên,   còn     có     Thông     tư   số  08/2004/TTLT­BTM­BTC­BGTVT,     ngày     17/12/2004    của   03  Bộ:   Thương  mại, Tài   chính,   Giao thông   vận tải về  việc hướng dẫn thực hiện dịch vụ  trung chuyển hàng Container tại các cảng biển Việt Nam.Thông tư  này được  xem là phù hợp với nhu cầu tất yếu, khách quan của thị trường và đáp ứng với   nguyện vọng của các doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh loại hình dịch   vụ này, bởi lẽ: thông tư áp dụng đối với các doanh nghiệp cảng biển và các tổ  chức, cá nhân có   liên quan, không giới hạn đối tượng áp dụng, mà chỉ  quy  định các điều kiện về  cảng  biển,  hàng  hóa,  xử  lý  hàng  hóa  và  thanh  toán   dịch   vụ    trung   chuyển   hàng Container. Nếu doanh nghiệp nào, tổ  chức cá  nhân nào thấy đủ  điều kiện là có quyền đăng ký kinh doanh dịch vụ  trung   15
  16. chuyển hàng Container tại cảng biển mà không cần phải xin phép. Đó là “tính  mở” của Thông tư 08 đối với loại hình dịch vụ này, mà trước đây bất cứ một   doanh nghiệp nào muốn kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng Container đều   phải xin giấy phép. 1.2.2 Các loại hình Vận tải đa phương thức phổ biến hiện nay 1.2.2.1 Mô hình Vận tải đường biển – Vận tải hàng không Với việc vận tải hàng hóa bằng mô hình vận tải biển kết hợp với mô  hình vận tải hàng không sẽ phá huy được tối đa ưu điểm về tính nhanh chóng   và tối  ưu, giúp hàng hóa được gửi đi một cách nhanh chóng. Hiểu đơn giản:   khi hàng hóa được vận chuyển bằng  đường biển tới cảng và sau  đó phải  chuyển sâu và đất liền một cách nhanh chóng để  đảm bảo tính thời vụ  cũng   như chất lượng hàng hóa, thì lúc này máy bay sẽ là phương tiện được ưu tiên   kết hợp nhờ sự nhanh chóng tuyệt đối. Mô hình vận tải này phát huy thế  mạnh trong kết hợp về tính kinh kế  với tốc độ. Hàng hóa không những đảm bảo được vận chuyển với số  lượng   lớn theo đường biển mà còn đảm bảo tốc độ  vận chuyển nhanh chóng bằng   đường hàng không. Phù hợp hàng hóa giá trị cao như đồ điện tử và những hàng  hóa có tính thời vụ  cao như  quần áo, đồ  chơi, giầy dép… và hiện nay được  nhều công ty vận tải và khách hàng ưu tiên khai thác và sử dụng. 1.2.2.2 Mô hình Vận tải đường sắt – Vận tải bộ Sự kết hợp của hai mô hình này trong vận tải hàng hóa nhằm phát huy   ưu điểm giữa tính an toàn và tốc độ cùng với tính cơ động và linh hoạt mà hai   loại phương tiện này sở  hữu. Theo đó, hàng hóa sẽ  được đóng gói trong các   trailer được kéo đến nhà ga bằng các xe kéo gọi là tractor. Tại ga, các trailer   được kéo lên các toa xe và chở đến ga đích. Tại điểm đến, tractor sẽ thực hiện   kéo các trailer xuống và chở đến địa điểm giao hàng cho người nhận. Có thể hình dung như sau, vận tải bộ, cụ thể là ô tô sẽ  đóng vai trò là  phương tiện trung chuyển hàng hóa khi hàng hóa được vận chuyển đường sắt  chuyên chở từ điểm đầu đến điểm cuối. Tuy nhiên có một điểm hạn chế của  mô hình này chính là chỉ  có thể  chấp nhận với những hợp đồng vận chuyển   khi điểm giao nhận có đường sắt đi qua. 16
  17. 1.2.2.3 Mô hình Vận tải bộ ­ Vận tải hàng không Đây được xem là mô hình vận tải kết hợp đươc tính linh hoạt cơ động   và tốc độ. Vận tải bộ, cụ thể ở đây chính là sử dụng ô tô vào mô hình vận tải   hàng hóa nhằm đáp  ứng như  cầu gom hàng, phân phối hàng hóa  ở  giai đoạn   đầu và cuối của nguyên quá trình vận chuyển. Hàng hóa sẽ  được tập trung hàng về  đầu mối là sân bay phục vụ  cho  các tuyến bay đường dài, nhằm đáp ứng thời gian tập kết để vận chuyển hàng  một cách nhanh chóng. Tiếp đó, vận tải hàng không sẽ đóng vai trò tiên quyết  về tốc độ, giúp rút ngắn thời gian chuyển phát nhanh trong suốt quá trình. 1.2.2.4 Mô hình Vận tải đường sắt – Đường bộ ­ Vận tải nội thủy – Vận tải  đường biển Mô hình vận tải này kết hợp hầu hết các phương tiện vận tải hiện có   trong một quy trình, và mô hình này phù hợp để  chuyên chở  hàng hóa xuất  nhập khẩu. Ban đầu hàng hóa sẽ được chuyển nhanh bằng đường sắt, đường   bộ hoặc đường nội thủy đến cảng biển, sau đó sẽ thực hiện xuất khẩu bằng   vận tải đường biển. Khi hàng hóa đã đến nơi những nước nhập khẩu thì sẽ  được tiếp tục vận chuyển ngược lại bằng bằng đường bộ, đường sắt hoặc   vận tải nội thủy để tiến sau vào lãnh thổ và chuyển đến người nhận. Thông   thường   mô   hình   này   sẽ   thích   hợp   với   hình   thức  vận   chuyển  Container đường sắt trên các tuyến vận chuyển mà không yêu cầu cao về thời   gian vận chuyển. 1.2.2.5 Mô hình Cầu lục địa Mô hình vận chuyển này nghe có vẻ  hơi trừu tượng, nhưng thực chất   nó có sự xuất hiện của hình thức vận chuyển đường biển và vận tải trên đất  liền. Theo đó, vận tải biển sẽ đóng vai trò là chặng đầu hoặc cuối trong quá  trình vận chuyển, khi hàng hóa đã được tiếp cận với đất liền thì sẽ được tiếp  tục vận tải thông qua một số loại hình khác như: vận tải đường sắt, vận tải ô  tô… Với mô hình cầu lục địa này, vận tải đường biển chiếm vai trò rất quan   trọng, quy mô vận tải đường biển này rất lớn với việc di chuyển từ châu lục  này sang châu lục khác. Do đó, thời gian vận chuyển cũng khá lâu, phù hợp với  quy mô hàng hóa lớn và không yêu cầu gấp rút về mặt thời gian. 17
  18. 1.2.3 Vai trò của Vận tải đa phương thức trong Logistics Vận tải đa phương thức ngày nay đang chiếm một xu thế tất yếu và là   cầu nối hỗ trợ hoạt động thương mại vươn xa, do đó VTĐPT đóng góp vai trò   rất lớn và cực kỳ quan trọng trong Logistics. Cụ thể: ­ Tăng khả  năng cạnh tranh về  giá thành và chất lương, giúp giảm chi  phí Logistics và just­in­time, nhờ đó mà giảm chi phí hàng hóa và sản xuất. ­ Mở rộng mạng lưới vận tải và đạt được hiệu quả  kinh tế cao do khi   sử  dụng các phương thức vận tải có khả  năng chuyên chở  khối lượng hàng  hóa lớn. ­ Giúp giảm thiểu những chứng từ không cần thiết nhờ  tạo ra sự  hợp   tác giữa chính phủ  và doanh nghiệp, nhờ  đó mà các thủ  tục trong hoạt động   vận tải trở  nên đơn giản hơn và các doanh nghiệp cũng ít gặp rào cản trong   hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. ­ Thông qua mạng lưới vận tải kết nối nhanh chóng và dễ  dàng, các   doanh nghiệp sản xuất và thương mại tiếp cận nhanh hơn với thị trường, đặc  biệt là thị  trường quốc tế. Từ  đó thúc đẩy nền kinh tế  trong nước vươn xa,   khuyến khích thương mại quốc tế phát triển và tăng trưởng kinh tế. 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển các loại hình Vận tải đa  phương thức Vận tải đa phương thức ngày càng phát triển và phổ biến hơn xuất phát   từ một số nguyên nhân sau: Các yếu tố điều kiện khai thác Có thể  nói điều kiện khai thác bao gồm điều kiện cơ  sở  hạ  tầng giao  thông cho tất cả  các phương thức vận tải có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian  các phương tiện vận hành trên tuyến vận tải, nó cũng ảnh hưởng đến tính an  toàn của các lô hàng trong quá trình vận chuyển. Điều kiện khai thác không   thuận lợi sẽ dẫn đến sự chờ đợi làm tăng thời gian vận chuyển (thời gian giao   hàng), làm tăng chi phí phát sinh. Các yếu tố về khách hàng của doanh nghiệp vận tải Trong nhiều trường hợp, mặc dù đã có sự  thống nhất về  yêu cầu vận   chuyển (loại hàng, khối lượng, yếu cầu bảo quản, thời gian thu nhận hoặc   giao trả…), tuy nhiên do những lý do khác nhau, khách hàng có thể  thay đổi   một số  điều khoản của hợp đồng, do đó làm cho nhà vận tải phải thay đổi  18
  19. theo (ngoài kế hoạch ban đầu). Điều này không những làm tăng thêm thời gian   giao hàng mà còn làm tăng thêm chi phí, gây khó khăn cho nhà vận tải tổ chức   hoạt động vận tải. Tính chất lô hàng Liên quan đến lô hàng bao gồm chủng loại, khối lượng, tính chất, yêu   cầu bảo quản trong vận chuyển và xếp dỡ. Các lô hàng khác nhau sẽ  có lựa  chọn phương thức vận tải, địa điểm thu gom hoặc giao trả  khác nhau, lựa   chọn thiết bị xếp dỡ khác nhau. Nếu sự lựa chọn thiếu khoa học và thực tiễn  có thể  làm tăng thời gian giao hàng và chất lượng lô hàng không được đảm  bảo. Ngoài ra, tính chất lô hàng còn liên quan đến công tác quản lý nhà nước  về  hàng hóa xuất, nhập khẩu. Tại các điểm thu gom hoặc giao trả  (hoặc tại  các đầu mối ga cảng), hàng hóa phải thực hiện các kiểm tra kiểm soát về tính   hợp pháp hợp lệ của xuất, nhập khẩu, kiểm tra dịch tễ, môi trường, kiểm tra   văn hóa… Các hoạt động kiểm tra càng nhiều càng làm tăng thời gian giao giao   hàng và có thể làm tổn hải đến phẩm chất của hàng hóa. Sự hợp tác phối hợp của các tổ chức liên quan Trong hoạt động vận tải của dây chuyền logistics liên quan đến nhiều  tổ  chức vận tải khác nhau (vận tải bằng các phương thức khác nhau), liên  quan đến các cơ  quan quản lý nhà nước, liên quan đến các tổ  chức xếp dỡ lô  hàng. Sự  hợp tác không chặt chẽ  giữa cá bên sẽ  gây ra hiện tượng chờ  đợi,  làm tăng thời gian giao hàng, tăng thêm chi phí phát sinh và  ảnh hưởng đến   phẩm chất của lô hàng. Nguồn lực cơ sở vật chất của doanh nghiệp Cơ  sở  vật chất của các doanh nghiệp vận tải chủ  yếu là đội phương  tiện vận tải (xe ô tô, máy bay, tàu thủy, toa xe, đầu kéo…). Các phương tiện  này tham gia dịch chuyển các lô hàng giữa các điểm thu gom và giao trả  khác  nhau. Các doanh nghiệp vận tải có đội phương tiện đủ về qui mô, phù hợp với   chủng loại hàng sẽ là nhân tố quan trọng để đảm bảo lô hàng được giao đúng   hạn thời gian qui định. Trong trường hợp các nhà vận tải không đủ, thậm chí  không có phương tiện chuyên chở các lô hàng, khi đó họ không thể  chủ động  để tổ chức vận tải, có thể phải kéo dài thời gian giao hàng vào mùa cao điểm,  đồng thời tăng thêm chi phí khai thác làm tăng giá cước vận chuyển. 19
  20. Tại các cảng đường thủy, cảng hàng không, các ga đường sắt hoặc các   cảng nội địa (ICD), nếu được trang bị các thiết bị  xếp dỡ hiện đại mang tính   chuyên dụng cao sẽ góp phần làm tăng năng suất xếp dỡ, giảm thời gian xếp   dỡ các lô hàng. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2