intTypePromotion=3

Đề cương bài giảng Triết học - PGS.TS. Phạm Công Nhất

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:104

0
254
lượt xem
98
download

Đề cương bài giảng Triết học - PGS.TS. Phạm Công Nhất

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề cương bài giảng Triết học của PGS.TS. Phạm Công Nhất dùng cho đối tượng học viên cao học và sinh viên không chuyên ngành Triết học nhằm mục đích trình bày các nội dung chính của môn học, đồng thời đây là tài liệu tham khảo hữu ích giúp sinh viên học và ôn tập tốt môn học này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương bài giảng Triết học - PGS.TS. Phạm Công Nhất

  1. 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ---------------------------------------- PGS,TS. Phạm Công Nhất ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG MÔN HỌC TRIẾT HỌC (Dùng cho Học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành triết học) HÀ NỘI - 2011
  2. 2 B. PHÂN BỔ THỜI GIAN Chương trình được phân bổ như sau: Thứ tự Nội dung Số tiết Chươn Khái lược về Triết học và Lịch sử Triết học 8 gI Chươn Chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật-cơ 6 g II sở lý luận của thế giới quan và phương pháp luận khoa học Chươn Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học 4 g III Mác-Lênin Chươn Lý luận hình thái kinh tế-xã hội với con đường đi lên chủ nghĩa 4 g IV xã hội của Việt Nam Chươn Quan hệ giữa giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại ngày 4 gV nay và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Chươn Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người và vấn đề 4 g VI xây dựng con người Việt Nam hiện nay
  3. 3 Chương 1: KHÁI LƯỢC TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC I. KHÁI NIỆM TRIẾT HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC 1. Khái niệm triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học Triết học là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ VII – VI tr.CN, cả ở phương Đông và phương Tây. Thuật ngữ “triết”, theo tiếng Hán nghĩa là trí, sự hiểu biết về mặt đạo lý, sự nhận thức sâu rộng...Trong tiếng Hy Lạp cổ, thuật ngữ “phylosophy” cũng có nghĩa là yêu mến sự thông thái...Nói chung triết học lúc đầu được hiểu theo nghĩa khá rộng. Về sau, do khoa học ngày càng phát triển nên cách hiểu cũng như đối tượng nghiên cứu của triết học cũng ngày càng được thu hẹp dần, chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản của tồn tại và nhận thức đối với tồn tại ấy. Theo quan điểm của triết học mác-xít, triết học là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống lý luận chung nhất về thế giới, về mối quan hệ giữa con người với thế giới cũng như vai trò và vị trí của con người trong thế giới đó. Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Ngay từ khi mới ra đời, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại. Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu. Thời kỳ trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học. Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập. Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học. Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)... V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công
  4. 4 lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác. "Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.". Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức. Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò "khoa học của các khoa học". Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm "khoa học của các khoa học", triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay. Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản... Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh. Triết học Mác-Lênin cho rằng: đối tượng nghiên cứu của triết học trong thời đại ngày nay là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nghiên cứu các quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. 2. Vấn đề cơ bản của triết học - chuẩn mực để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình a) Vấn đề cơ bản của triết học Lịch sử triết học từ trước tới nay là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, vì vậy nghiên cứu lịch sử triết học cần nắm vững vấn đ ề c ơ bản
  5. 5 của triết học – chuẩn mực để phân biệt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, cùng các hình thức lịch sử của chúng. Theo Ph. Ăngghen, vấn đề cơ bản của mọi triết học từ xưa tới nay, kể cả triết học hiện đại là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại với tư duy, hay giữa vật chất với ý thức. Vấn đề cơ bản của triết học gồm có hai mặt: Mặt thứ nhất, trả lời cho câu hỏi: vật chất hay ý thức, giới tự nhiên hay tinh thần cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Tuỳ thuộc vào lời giải đáp cho câu hỏi này, các học thuy ết triết học khác nhau chia thành hai trào lưu cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. - Chủ nghĩa duy vật đã trải qua ba hình thái lịch sử cơ bản: Chủ nghĩa duy vật thời kỳ cổ đại, Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII và Chủ nghĩa duy vật biện chứng. - Chủ nghĩa duy tâm có cả hai phái chủ yếu: duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan. Chủ nghĩa duy tâm thường gần gũi với tôn giáo và ủng hộ tôn giáo. Chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các gia cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ với các lực lượng xã hội, gia cấp phản tiến bộ, nguồn gốc nhận thức của nó là là tuyệt đối hoá về mặt tinh thần, tuyệt đối hoá mặt nhận thức, tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất. Bên cạnh quan điểm nhất nguyên còn có quan điểm nhị nguyên về thế giới. Quan điểm này thực chất là muốn dung hoà giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng cuối cùng họ cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm vì họ cho rằng ý thức hình thành và phát triển tự nó không phụ thuộc vào vật chất. Vấn đề cơ bản của triết học còn bao hàm mặt thứ hai về vấn đề khả năng nhận thức của con người đối với thế giới. Chủ nghĩa duy vật xuất phát từ chỗ cho rằng, vật chất có trước, ý thức có sau và ý thức là sự phản ánh của thế giới v ật ch ất nên th ừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới. Đa số các nhà duy tâm cũng thừa nhận thế giới là có thể nhận thức được, song do đứng trên lập trường duy tâm nên họ đã phủ nhận, xuyên tạc nguồn gốc và bản ch ất
  6. 6 của quá trình nhận thức. Bên cạnh đó, một số nhà triết học đã bác bỏ nguyên tắc khả năng nhận thức của con người. Đó là những nhà triết học theo thuyết không thể biết b) Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Các khái niệm "biện chứng" và "siêu hình" trong lịch sử triết học được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mácxít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đ ối l ập nhau của triết học. Phương pháp biện chứng phản ánh "biện chứng khách quan" trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là "phép biện chứng". Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng. a) Phương pháp siêu hình Phương pháp siêu hình là phương pháp: + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối. + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng. Phương pháp siêu hình làm cho con người "chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận đ ộng của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng". Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm. b) Phương pháp biện chứng Phương pháp biện chứng là phương pháp: + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau. + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng. Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái "hoặc là... hoặc là..." còn có cả
  7. 7 cái "vừa là... vừa là..." nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức 3. Tính quy luật hình thành và phát triển của lịch sử triết học - Sự hình thành, phát triển của triết học có tính quy luật của nó. Trong đó, các tính quy luật chung là: sự hình thành, phát triển của triết học gắn liền với điều kiện kinh tế-xã hội, với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội; với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; với sự xâm nhập, đấu tranh giữa các trường phái triết học khác nhau. - Là một hình thái ý thức xã hội, sự hình thành, phát triển của triết học gắn liền với các điều kiện kinh tế-xã hội, với cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội. Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau sẽ xây dựng nên các hệ thống triết học khác nhau. Sự phát triển và thay thế lẫn nhau giữa các hệ thông triết học trong lịch sử là sự phản ánh sự biến đổi và thay thế lẫn nhau giữa các chế độ xã hội, phản ánh cuộc đấu tranh giữa các giai cấp và các lực lượng xã hội… - Là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát, sự phát triển của triết học không tách rời các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội… - Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là xu hướng xuyên suốt trong lịch sử triết học bên cạnh các trào lưu triết học cạnh tranh quyết liệt với nhau. - Sự phát triển triết học không chỉ diễn ra quá trình thay thế lẫn nhau giữa các học thuyết triết học mà còn bao hàm sự kế thừa và thay thế lẫn nhau giữa chúng. Các học thuyết triết học sau thường kế thừa những tư tưởng hợp lý từ các học thuyết triết học giai đoạn trước đó. - Sự phát triển các trường phái, các học thuyết triết học cũng không thể không mang dấu ấn của mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển - Trong quá trình phát triển, không chỉ có các tư tưởng triết học thâm nhập lẫn nhau mà còn có sự thâm nhập lẫn nhau giữa các hình thái ý thức trong đó có hình thái ý thức triết học.. Do đó cần đứng trên quan điểm toàn diện để nghiên cứu xem xét lịch sử triết học. 4. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội a) Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Triết học có nhiều chức năng khác nhau trong đó có chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận
  8. 8 - Về chức năng thế giới quan (sẽ trình bày kỹ ở chương 2) - Về chức năng phương pháp luận. Cùng với chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năng phương pháp luận. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ: Phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất. + Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó. + Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành khoa học. + Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phươ ng pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người. Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. b) Vai trò của triết học đối với các khoa học cụ thể và tư duy lý luận Sự hình thành và phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, qua khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể. Tuy nhiên, triết học lại có vai trò to lớn đối với sự phát triển của các khoa học cụ thể, nó là thế giới quan, phương pháp luận cho khoa học cụ thể, là cơ sở lý luận cho khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như vạch ra các phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể. - Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật biện chứng đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của các khoa học; ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển. - Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn với các thành tựu của khoa học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu của khoa học mang lại; đồng thời, nó lại đóng vai trò to lớn đối với ự phát triển của khoa học hiện đại. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giới quan, phương pháp luận thật sự cho các khoa học cụ thể đánh giá các thành tựu đã đạt được cũng như xác định phương pháp trong nghiên cứu. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang đạt được những thành tựu to lớn làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, tình hình thế giới đương đại đang có sự biến chuyển theo chiều hướng đa dạng và
  9. 9 phức tạp nên việc đòi hỏi phải đứng vứng trên lập trường thế giới quan duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp khoa học càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. - Triết học không chỉ có vai trò to lớn đối với sự phát triển của các khoa học cụ thể, mà còn có vai trò to lớn trong việc rèn luyện năng lực tư duy con người. Ph.Ăngghen chỉ rõ: "một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh coa của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận"1 và để hoàn thiện năng lực tư duy lý luận, không có cách nào khác là tích cực học tập, nghiên cứu và rèn luyện tư duy triết học nhất là tư duy triết học hiện đại. Phần đọc thêm: PH.ĂNGGHEN BÀN VỀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ DUY LÝ LUẬN Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận. Ph.Ăngghen đã viết như vậy về vai trò của tư duy lý luận. Song, theo Ph.Ăngghen, ở bất cứ thời đại nào, dân tộc nào cũng như con người nào, tư duy lý luận cũng chỉ là năng lực bầm sinh, "đặc tính bẩm sinh". Muốn để cho "đặc tính bẩm sinh" ấy chuyển thành tư duy lý luận thực sự, cần phải có những điều kiện đảm bảo cho nó. Ph.Ăngghen đã chỉ ra những điều kiện cơ bản sau: Điều kiện thứ nhất: Tư duy lý luận phải được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm. Điểm xuất phát của tư duy lý luận là kinh nghiệm. Không có kinh nghiệm thì không có sự khám phá thực sự về nhưng quy luật tất yếu, nội tại của sự vật, hiện tượng. Ph.Ăngghen viết: "...Cái mà Hêgen coi là sự phát triển của hình thức tư duy của phán đoán với tính cách là phán đoán, thì ở đây, đã thành ra sự phát triển của những tri thức lý luận của chúng ta về bản chất của sự vận động nói chung, tri thức đưa trên một cơ sở kinh nghiệm. Chính cái đó chứng minh rằng những quy luật của tư duy và nh ững quy luật của tự nhiên nhất trí với nhau một cách tất nhiên”. Theo Ph.Ăngghen, sở dĩ kinh nghiệm có thể đóng được vai trò là cơ sở cho tư duy lý luận là do: Một là, kinh nghiệm được tích luỹ tự nó đã đòi hỏi phải có sự hệ thống hoá và phải tìm ra một liên hệ bên trong tất yếu của nó. Thực hiện được điều đó cũng có nghĩa là tư duy đã chuyển từ giai đoạn kinh nghiệm lên giai đoạn lý luận. “Khoa học tự nhiên kinh nghiệm đã tích lũy được một khối lượng tài liệu chính diện to lớn đ ến ngày nay tuyệt đối bức thiết phải sắp xếp những tài liệu ấy một cách có hệ thống và d ựa vào mối liên hệ từ nội tại của chúng trong linh vực nghiên cứu riêng biệt. Người ta cũng thấy không kém cần thiết phải sắp xếp những lĩnh vực khác nhau của tri thức theo một liên hệ đúng đắn giữa lĩnh vực nọ với lĩnh vực kia. Nhưng làm như thế thì khoa học tự nhiên đã chuyển sang lĩnh vực lý luận và trong lĩnh vực này nhưng phương pháp kinh nghiệm trở nên bất lực, chỉ có tư duy lý luận mới có thể giúp ích được. Hai là, bất cứ một dạng thức nào của tư duy kinh nghiệm cũng có chung một đặc tính là mang tính tiên đề, định đề. Theo Ph.Ăngghen có hai loại kinh nghiệm: "bên ngoài, vật chất và bên trong - các quy luật và hình thức của tư duy". Kinh nghiệm bên ngoài là kết quả của sự trải nghiệm cuộc sống hàng ngày, có thể là sự đúc rút từ lao đ ộng s ản xuất, từ đấu tranh xã hội và hoạt động nghiên cứu khoa học. Còn kinh nghiệm bên trong, tức là kinh nghiệm tư duy, là sự đúc kết về các quy luật và hình thức tư duy, và đây 1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội 1994, tập 20, tr. 489.
  10. 10 chính là thể hiện tính độc lập tương đối của tư duy. Tóm lại, tuân thủ nhất quán mối quan hệ chặt chẽ của tư duy khoa học với hoạt động sản xuất và khi nhấn manh tính xã hội - lịch sử của nhận thức, Ph.Ăngghen cũng đồng thời thừa nhận tính đ ộc lập tương đối trong sự phát triển của tư duy lý luận. Ở đây Ph.Ăngghen lưu ý, nhà bác học có quyền sử dụng tài liệu đã biết vào lĩnh vực khoa học mà mình nghiên cứu. Tài liệu đó đã được hợp thành một cách độc lập trong tư duy củ a các thế hệ trước và nó đã tr ải l ụa con đường phát triển riêng, độc lập trong đầu óc con người từ thế hệ nghiên cứu này sang thế hệ nghiên cứu kia. Hơn nữa, theo Ph.Ăngghen, tính độc lập đó chỉ có thể được xem như là hệ quả trực tiếp của sự phản ánh tích cực về hiện thực nhờ các chủ thể xã hội chuyên biệt. Ngoài ra, tính độc lập đó còn được xem như là tính chủ quan của quá trình nhận thức khách quan. Như vậy, xuất phát từ kinh nghiệm và trên cơ sở kinh nghiệm mà tư duy con người khái quát hoá, trung gian hoá, trừu tượng hoá và trở thành tư duy lý luận. Điều kiện thứ hai: Phải có giả thuyết và sử dụng giả thuyết trong quá trình hình thành tư duy lý luận. Ph.Ăngghen cho rằng khi phân tích vai trò của giả thuyết trong quá trình phát triển tri thức, người ta xem xét nó ở hai mặt: giả thuyết như là phương pháp và giả thuyết như là bộ phận của lý thuyết. Đương nhiên. có sự khác nhau giữa giả thuyết như là phương pháp phát triển tri thức khoa học tư duy lý luận và giả thuyết như là yếu tố cấu trúc của lý thuyết khoa học. Giả thuyết có thể xuất hiện trong lý thuy ết với tư cách là những ý kiến cơ bản và nhìn chung, chúng chưa được kiểm tra thậm chí còn mâu thuẫn với nhưng bằng cứ thực nghiệm. Tuy nhiên, chúng tạo ra những điều kiện để diễn dịch trong lĩnh vực tri thức đó và chúng chứa đựng những hệ quả tất yếu Theo Ph.Ăngghen, trong lịch sử phát triển của nhận thức, giả thuyết với tư cách là phương pháp phát triển tri thức khoa học đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên c ứu, đặc biệt là ở những thời kỳ có tính bước ngoặt do hậu quả khủng hoảng của khuôn mẫu phương pháp luận mà đã được thừa nhận về tính khoa học: Về mặt l ịch sử, việc xuất hiện phương pháp giả thuyết gắn liền với những giai đoạn sớm của sự phát triển toán học cổ đại. Các nhà toán học cổ Hy Lạp đã áp dụng rộng rãi với phương pháp chứng minh toán học, những thí nghiệm diễn dịch tưởng tượng vốn bao chứa vi ệc đ ưa ra các giả thuyết và rút ra nhưng hệ quả từ các giả thuyết đó - nhờ diễn dịch phân tích với mục đích kiểm tra tính đúng đắn của nhưng phỏng đoán đầu tiên. Họ cho rằng, ch ỉ có giả thuyết mới có thể giúp họ đạt được tính chân lý của tri thức khoa học. Pácmênít là người đi tiên phong trong số họ. Cách tiếp cận mới về nguyên tắc đối với giả thuyết do Platôn đưa ra. Ông xem các giả thuyết như là những tiền đề của phương pháp chứng minh phân tích - tổng hợp, có khả năng đảm bảo tính chân lý tuyệt đối của các kết luận, vốn do ông tạo lập. Arixtốt là người phát hiện ra vai trò gợi mở của giả thuyết. Quan điểm của ông xuất phát từ chỗ cho rằng không thể sử dụng giả thuyết như là những tiền đề của chứng minh “tam đoạn luật”. Vì dựa vào tiền đề của chứng minh tam đoạn luận, người ta chỉ có thể hiểu được những chân lý cân thiết và khái quát chung chung. Ph.Ăngghen cho rằng có lẽ chỉ trong phương pháp luận và triết học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, trong quá trình lĩnh hội những thành tựu của các công trình nghiên cứu thực nghiệm, người ta mới dần dần bắt đầu ý thức được vai trò gợi mở của phương pháp giả thuyết. Tuy nhiên, cả hai khuynh hướng duy lý và kinh nghiệm trong
  11. 11 phương pháp luận và triết học cận đại vẫn không đạt được việc lý giải tính tất yếu của giả thuyết trong nhận thức khoa học và vẫn chưa khắc phục được sự đối lập phản biện chứng giữa giả thuyết và quy luật. Vào những năm 70-80 của thế kỷ XIX, trên cơ sở sự hiểu biết mới về nguyên tắc, về quy chế nhận thức luận của các quy luật và các lý thuyết với tư cách là những khăng định chung có giới hạn, có tính chân lý tương đ ối. Ph.Ăngghen đã lý giải vai trò của giả thuyết khoa học không chỉ trong quá trình tích tụ và hệ thống hoá các tài liệu kinh nghiệm, mà cả trong những giai đoạn làm chính xác thêm, biến đổi và cụ thể hoá các quy vật là lý thuyết thực nghiêm. Xem giả thuyết như là hình thức phát triển của khoa học tự nhiên, trong chừng mực mà khoa học này tư duy. Ph.Ăngghen đưa ra luận điểm về mối quan hệ tương hỗ giữa giả thuyết với các quy luật và lý thuyết như là những hình thức của tri thức chân lý tương đối, cửa tư duy lý luận và coi giả thuyết chính là "công cụ tìm tòi của tư duy", mà nếu thiếu nó thì chúng ta không bao giờ có được quy luật. Điều kiện thứ ba: Phương pháp biện chứng duy vật như là điều kiện không thể thiếu để hình thành tư duy lý luận. Theo Ph.Ăngghen, tư duy biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy lý luận. Do đó một cách tất yếu là trong quá trình hình thành quan điểm duy vật về lịch sử, thì song song và cùng với nó là cần phải sử dụng phương pháp nào để có thể hình thành được tư duy biện chứng duy vật. Phương pháp biện chứng của Hêgen hay phương pháp siêu hình của các nhà khoa học tự nhiên thế kỷ XVII~XVIII? Một sự thật hiển nhiên là trong lịch sử triết học trước Mác, phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình không những đối lập nhau mà còn là một sự “đánh đố” trớ trêu: phương pháp biện chứng thường gắn liền với chủ nghĩa duy tâm, còn chủ nghĩa duy vật lại thường gắn liền với phương pháp siêu hình. Để xây dựng tư duy biện chứng mới về nguyên tắc (tư duy biện chứng duy vật), vấn đề có tính chất phương pháp luận tiên quyết đối với Ph.Ăngghen là lựa chọn phương pháp nào hay xây dựng phương pháp nghiên cứu mới? Phương pháp siêu hình của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đã có một giá trị đích thực nhất định, đã giữ một vai trò không nhỏ khi mà khoa học thực nghiệm mới thực sự bắt đầu phát triển. Đó là thời kỳ mà khoa học tự nhiên đi sâu vào phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt cố định để nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu đó đã đưa đến những thành tựu vĩ đại trong việc phát triển khoa học. Song, khi việc nghiên cứu tiến từ giai đoạn sưu tập sang giai đoạn chỉnh lý, sang giai đoạn nghiên cứu về các quá trình, về sự phát sinh, phát triển của sự vật, thì phương pháp đó không còn đáp ứng được yêu cầu của nhận thức khoa học hiện đ ại nữa. Chính vì thế, như Ph.Ăngghen đã nhận xét, phương pháp siêu hình đó đã bị I.Cantơ và Hêgen đập tan tành. Còn phương pháp biện chứng (điển hình là phương pháp biện chứng của Hêgen) đã đóng một vai trò cực kỳ to lớn trong sự giải thích và nhận thức thế giới khi chỉ ra sự vận động, biến đổi và phát triển của sự vật, của tự nhiên và của xã hội mà hiện thần là nhà nước Phổ với tư cách là hình thái xã hội cao nhất. Song, sự vận động, biến đổi và phát triển ấy, suy cho cùng, bắt nguồn từ sự tha hoá, sự tự vận đ ộng và phát triển của "ý niệm tuyệt đối", của "lý tính thế giới”. Do vậy, phương pháp bi ện chứng duy tâm đó đối lập hoàn toàn với quan niệm duy vật về lịch sử mà Mác đã phát hiệ ra. Theo Ph.Ăngghen, phương pháp biện chứng duy tâm đó rốt cuộc cũng không thể sử dụng được.
  12. 12 Như vậy, đối với Ph.Ăngghen, không tồn tại khả năng lựa chọn phương pháp mà chỉ còn khả năng sáng tạo ra phương pháp mới. Bởi lẽ, quan điểm duy vật về lịch sử đã đặt ra một đòi hỏi khách quan: cần có phương pháp mới về chất đ ể có thể bao ch ứa được cả hai yếu tố "hợp lý" và "căn bản" - duy vật và biện chứng. Vậy đ ể đi đ ến phương pháp mới về chất đó, cần xuất phát từ đâu? Theo Ph.Ăngghen, điểm xuất phát đầu tiên đó là đem lại câu trả lời đúng đắn, có cơ sở khoa học cho bản chất của ý thức và của trí tuệ. Vì chính ở đó biểu hiện tập trung nhất, rõ nét nhất, điền hình nhất cả hai đặc tính cơ bản của quan điểm thế giới quan (duy vật hay duy tâm) cũng như của phương pháp giải quyết (biện chứng hay siêu hình). Chính nhờ phương pháp biện chứng duy vật mà tư duy lý luận được hình thành một cách tự giác, dễ dàng và được rút ngắn hơn nhiều. "Người ta có thể đạt đến quan điểm biện chứng đó do những sự kiện thực tế đang tích luỹ lại của khoa học tự nhiên bắt buộc, nhưng người ta có thể đạt tới nó một cách dễ dàng hơn nếu đưa nhận thức về những quy luật của tư duy biện chứng vào việc tìm hiểu tính chất biện chứng của nhưng sự kiện ấy". Điều kiện thứ tư: Tư duy lý luận phải được gắn liền với sự phát triển của khoa học bởi lẽ: Thứ nhất, theo Ph.Ăngghen, việc gắn với sự phát triển của khoa học sẽ giúp cho tư duy nắm được các mối liên hệ bên trong của các sự vật hiện tượng. Khi đánh giá ý nghĩa của những thành tựu lớn nhất của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX, đặc biệt là Định luật bảo toàn và biên hoá năng lượng, Học thuyết tế bào và Học thuy ết tiến hoá c ủa Đácuyn, Ph.Ăngghen đã chỉ ra: "Nhờ ba phát hiện vĩ đại đó và nhờ những thành tựu l ớn lao khác của khoá học tự nhiên mà ngày nay chúng ta có thể chứng minh những nét l ớn của mối liên hệ giữa các quá trình của tự nhiên không những trong các lĩnh vực riêng biệt, mà cả mối liên hệ giữa các lĩnh vực riêng biệt ấy nói chung và có thể trình bày một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự nhiên, dưới một hình thức gần như có hệ thống, bằng những sự kiện do chính khoa học tự nhiên thực nghiệm cung cấp". Hơn nữa, khoa học còn giúp cho tư duy thấy được những quy luật của tự nhiên. Lẽ dĩ nhiên, Ph.Ăngghen viết, khi tôi tổng kết những thành tựu của toán học và khoa học tự nhiên như vậy thì vấn đề cũng là để thông qua những cái riêng, thấy rõ thêm cái chân lý mà nói chung tôi đã không nghi ngờ chút nào cả, cụ thê là cung những quy luật biện chứng ấy của sự vận động...những quy luật như sợi chỉ đỏ xuyên qua cả lịch sử phát triển của tư duy loài người đang dần dần đi vào ý thức của con người tư duy. Thứ hai, khoa học tự nó cũng đã có sự tổng hợp biện chứng. Thêm vào đó, các thành tựu cửa khoa học tự nhiên đã đưa lại những cơ sở khách quan, những kết luận chung cho tư duy lý luận. Ph.Ăngghen chỉ rõ: Những thành tựu khoa học tự nhiên hiện đại đã chẳng bắt buộc bất kỳ một người nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng phải thừa nhận chúng, bắt buộc với một sức mạnh khiến các nhà khoa học tự nhiên hiện đ ại dù họ muốn hay không phải tiến tới những kết luận lý luận chung, đó sao?". Thứ ba, sự phát triển của khoa học nói chung và những phát minh mới trong khoa học nói riêng sẽ dẫn đến sự mất đi một số khái niệm và đồng thời xuất hiện một số khái niệm khác. Dĩ nhiên, điều đó không thể xem như là sự đổi mới thuật ngữ giản đơn
  13. 13 của ngôn ngữ. Đó chính là quá trình làm sâu sắc thêm về tư duy nhờ đó được những hình thức diễn đạt bằng lời tương ứng. Và quá trình làm “sâu sắc" tư duy đó đ ược gắn li ền với việc mở rộng lĩnh vực áp dụng những hệ ngôn ngữ mới. Như chúng ta đã biết, trong "Chống Đuyrinh", Ph.Ăngghen cũng đã thực hiện sự phân tích đó trong sự phát triển tri thức lý luận, đồng thời đã chỉ ra sự thay đổi về nghĩa và thay đổi lĩnh vực áp đụng của các giả thuyết, các mệnh đề lý luận, quan điểm…Theo Ph.Ăngghen, trong khoa học, mỗi một quan điểm mới đều kéo theo một cuộc cách mạng trong các thuật ngữ thực tế của nó. Rõ nhất về điều đó, có thể thấy qua ví dụ về hoá học mà toàn bộ hệ thuật ngữ được thay đổi về cơ bản khoảng 20 năm một lần. Thành thử, vị tất có thể tìm thấy dù chỉ một hợp nhất hữu cơ mà không trải qua hàng loạt những tên gọi khác nhau? Tư duy lý luận phải có “bà đỡ” là thực tiễn xã hội. Từ trước tới nay, Ph.Ăngghen lý giải, khoa học tự nhiên cũng như triết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ. Hai môn này một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác, chỉ biết có tư tưởng. Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên. Như vậy, ở Ph.Ăngghen, vấn đề tính chân lý của tri thức lý luận, của tư duy lý luận gắn liền với thực tiễn, với hoạt động cải tạo cách mạng của con người. Đó không phải là vấn đề thuần tuý của các phương pháp thu nhận hay trình bày tri thức. Khi nói về những trừu tượng khoa học cần cho việc tái tạo tiến trình lịch sử hiện thực c ủa các sự kiện, Ph.Ăngghen nhấn mạnh: Nhưng trừu tượng tự chúng bị tách ra khỏi lịch sử hiện thực tuyệt nhiên không có giá trị nào cả. Chúng có thể có ích chỉ trong vi ệc hi ệu đính các tài liệu lịch sứ, để vạch ra tính logic nhất quán trong các l ớp riêng biệt của nó. Khác với triết học, những trừu tượng này hoàn toàn không thể đưa ra những đ ơn thuốc hay những sơ đó mà theo đó, có thể làm cho vừa các thời đại lịch sử. Song ngược lại, nếu không có những trừu tượng đó thì sẽ xuất hiện khó khăn khi mà người ta chuyển sang xem xét và chỉnh lý tài liệu (nó thuộc về thời đại đã qua hay thuộc về đương đại?) và khi mà người ta bắt tay vào tái tạo hiện thực đó. Tóm l ại, thực tiễn là mảnh đ ất mà từ đó, những vấn đề lý luận được rút ra, rồi chúng dần dần tạo thành hệ thống nh ững luận điểm lý luận gắn bó với nhau một cách chặt chẽ và làm nên nội dung của tư duy lý luận. Điều kiện thứ sáu: Muốn có tư duy lý luận, phải có sự nghiên cứu nghiêm túc toàn bộ lịch sử triết học. Bởi vì tư duy lý luận, ở mỗi người chúng ta, chỉ t ồn t ại d ưới dạng năng lực tiềm tàng và chính việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, khoa học toàn bộ tư tưởng triết học của nhân loại sẽ giúp cho năng lực "ấy trở thành hiện thực". Tư duy lý luận, Ph.Ăngghen viết, chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng l ực c ủa người ta mà thôi. Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, mà muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên c ứu toàn b ộ tri ết học thời trước.
  14. 14 Sở đĩ như vậy là do "tư duy lý luận của môi thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại chúng ta, là sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau. Thế cho nên cũng như bất kỳ khoa học nào khác, khoa học về tư duy là một khoa học lịch sử, là khoa học về sự phát tri ển lịch sử của tư duy con người". Hơn nữa, theo Ph.Ăngghen, lịch sử bắt đầu từ đâu tư duy bắt đầu từ đó. Do đó, việc nghiên cứu lịch sử triết học sẽ giúp cho chúng ta thấy đ ược logic của tư duy; con đường đi của tư duy, cách thức, phương thức hình thành tư duy và cuối cùng là những điều kiện hình thành tư duy. Tóm lại, những điều kiện để hình thành tư duy lý luận mà Ph.Ăngghen đã chỉ ra có một giá trị khoa học to lớn. Nó không chỉ có ý nghĩa trong thời đại của Ph.Ăngghen thời đại cần phải hiểu và nắm vững những điều kiện đó để hình thành một kiểu tư duy lý luận (tư duy biện chứng duy vật) mới về nguyên tắc so với mọi loại hình tư duy trước đó mà vẫn còn có ý nghĩa khoa học sâu sắc đối với thời đại ngày nay, đặc biệt là đối với nước ta hiện nay, khi mà chúng ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục đổi mới và hoàn thiện tư duy lý luận để có thể đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đ ại hoá đất nước. Nguồn: http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/ II. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 1. Khái lược lịch sử triết học trước Mác và hiện đại 1.1.Lịch sử triết học phương Đông trước Mác a) Triết học Ấn Độ cổ trung đại - Điều kiện ra đời và đặc điểm - Điều kiện tự nhiên: Ân Độ là là một QG lớn nằm ở phía nam bán đảo Châu á ́ với điều kiện điạ lý đa dạng và phức tạp. - Điều kiện kinh tế - xã hội: ra đời phát triển và tồn tại khá lâu mô hình kinh tế - xã hội “Công xã nông thôn” (đặc trưng cho phương thức sản xuất á châu) - Điều kiện về văn hoá: dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng tôn giáo và văn hoá tâm linh. Từ khoảng thế kỷ II tr.CN, văn hoá Ân Độ bắt đầu suy tàn ́ Sự xuất hiện các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ (thế kỷ VII - VI tr. CN), chia thành 2 phái: Phái chính thống (6 hệ thống): Sámkhuya; Mimànsa; Vedànta; Yoga; Nyanya và Vaisésika Phái không chính thống (3 hệ thống): Jaina giáo; Lokayàta; Budhha (Phật giáo).
  15. 15 * Đặc điểm: 1. Nền triết học Ân Độ cổ trung, đại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ́ các tư tưởng của tôn giáo, giữa các tư tưởng triết học và các giáo lý tôn giáo thường hoà lẫn vào nhau rất khó phân biệt; 2. Các nhà triết học Ân Độ thường kế tục mà không gạt ́ bỏ các tư tưởng cũng như các hệ thống triết học đã có trước đó; 3. Khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái triết học thường xoay quanh việc giải quyết các phạm trù “tính không”, đem đối lập “không” với “hữu”, quy cái “hữu” về cái “không”, th ể hiện một trình độ tư duy trừu tượng khá cao - Những tư tưởng cơ bản của một số trường phái * Hệ thống Samkhuya: Thời kỳ sơ kỳ, hệ thống này đứng trên lập trường duy vật, thừa nhận vật chất là nguyên nhân tạo ra thế giới. Thời kỳ hậu kỳ quan điểm triết học của trường phái này có khuynh hướng nhị nguyên * Hệ thống Mimansa: là hệ thống triết học chính thống, thời kỳ sơ kỳ có quan điểm vô thần. Thời kỳ hậu kỳ, chuyển sang lập trường duy tâm thần bí * Hệ thống Vedànta: “Vedànta” có nghĩa là kết thúc Véda. Đây là hệ thống triết học duy tâm thần bí, tuyên truyền cho sự tồn tại của Brátman, tức ý thức thuần tuý đầu tiên để tạo ra thế giới * Nyàya và Vaisésika: Đây là hai hệ thống triết học khác nhau nhưng lại có những quan điểm triết học tương đối giống nhau ở chỗ họ đều là tác giả của lý thuyết nguyên tử. Trong lý luận nhận thức, họ có đóng góp quan trọng trong việc phát triển các tư tưởng về lôgíc hình thức, với hình thức biện luận về quá trình nhận thức theo 5 bước (gọi là ngũ đoạn luận) nổi tiếng. * Phật giáo Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện từ khoảng thế kỷ VI tr. công nguyên. Phật giáo ra đời là làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi đau khổ và tìm con đường giải thoát con người thoát khỏi nỗi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội ấn Độ cổ, trung đại. Người sáng lập ra đoạ Phật là Thích ca Mầu ni có tên thật là Siddhattha (Tất Đạt Đa) là con vua Tịnh Phạn (Suddhodana). Phật Thích ca sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 và mất năm 483 tr. công nguyên. Tự nguyện tu luyện từ năm 29 tuổi, sau 6 năm mới đ ắc đạo, khi đó ngài vừa đúng 35 tuổi. Tư tưởng triết lý ban đầu của Phật ban đầu chỉ truyền miệng sau đó đ ược viết thành văn, thể hiện trong khói lượng Kinh điển rất lớn, gọi là “Tam tạng” gồm 3 bộ phận gồm: Tạng kinh - ghi lời Phật dạy, Tạng luật, gồm các giới luật của đạo Phật, Tạng luận, gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau. Tư tưởng triết học của Phật giáo có thể chia thành hai nội dung chính sau: Về vũ trụ quan, trái với Véda, kinh Upanishad, đạo Bàlamôn và các môn phái triết học đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu tự nhiên tối cao, sáng tạo và
  16. 16 chi phối vũ trụ (Brahaman), đạo Phật cho rằng vũ trụ là vô thuỷ, vô chung, vạn vật trong thế giới chỉ là dòng biến hoá vô thương, vô định không do một vị thần thánh nào sáng tạo nên cả. Vì thế, thế giới luôn là dòng biến ảo vô thường, nên không có cái gì gọi là bản ngã, không có thực thể; tất cả theo luật nhân quả cứ biến đổi không ngừng, không nghỉ theo quá trình sinh, trụ, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không và chỉ có sự biến hoá ấy là thường hữu. Tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ, theo triết học Phật giáo, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên. Cái nhân (hetu) nhờ có cái duyên (pratitya) mới sinh ra, từ đó tạo nên cái quả. Quả lại do cái duyên mà thành ra quả mới... Cứ thế nối tiếp nhau vô cùng tận, vạn vật muôn loài cứ sinh ra biến hoá mãi mãi. Con người cũng do nhân duyên kết hợp được mà tạo tìm ra bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần. Hai thành phần ấy là sự kết hợp tan của “ngũ uẩn” hay “l ục đ ại” mà thành. (Ngũ uẩn: địa, thuỷ, hoả, phong, không, thức; lục đại: sắc, thụ tưởng, hành, thức). Bản thân các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hoá theo quy luật nhân quả không ngừng, không nghỉ nên vạn vật là luôn biến đổi. Kinh “Tăng nhất A hàm” viết: “Pháp tự sinh, pháp pháp tự diệt, pháp pháp tự động, pháp pháp tự nghĩ... pháp có thể sinh ra pháp... Như thế hết thảy cái đó thuộc về không: không ta, không người, không mệnh, không sĩ, không phu, không hình, không tưởng, không nam, không nữ” Về nhân sinh quan, Phật giáo cho rằng, con người do không nhận thức được cái biến ảo, vô tường, vô định, không nhận thức được “cái tôi” chỉ tồn tại tạm thời nên sinh ra dục vọng ham muốn từ đó gây nên nghiệp báo (karma) mắc vào bể khổ trầm luân (sam - sara), chịu sự chi phối của quy luật nhân duyên quả báo mà sinh ra kiếp luân hồi. Chính vì vậy, cuộc sống của con người là bể khổ. Muốn thoát khỏi bể khổ Phật giáo cho rằng cần phải nhận thức đầy đủ về “Tứ diệu đế”, tức học thuyết về “bốn chân lý” của nhà Phật. “Tứ diệu đế” bao gồm: - Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời là bể khổ, có nhiều kiểu khổ, trong đó chủ y ếu vẫn là tám nổi khổ (bát khổ) trầm luân bất tận mà ai cuãng phải trải qua: Sinh, Lão, bệnh, tử, Thụ biệt ly, Sở cầu bất đắc, Ngũ thụ uẩn khổ. - Nhân đế: bao gồm 12 nguyên nhân (thập nhị nhân duyên) tạo ra nỗi khổ: 1.Vô minh; 2. Hành; 3. Thức; 4. Danh Sắc; 5. Lục nhập; 6. Xúc; 7. Thụ; 8. ái; 9. Thủ; 10. Hữu; 11. Sinh; 12. Lão Tử, trong đó nguyên nhân do “vô minh”là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất. - Diệt đế: Mọi nỗi khổ đều có thể bị tiêu diệt. - Đạo đế: Con đường diệt khổ đạt tới sự giải thoát, đó là con đường tu đ ạo hoàn thiện đạo đức cá nhân, bao gồm tám nguyên tắc (bát chính đạo): 1. Chính kiến (hiểu biết đúng đắn sự thật nhân sinh).
  17. 17 2. Chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn). 3. Chính ngữ (giữ lời nói phải). 4. Chính nghiệp (giữ đúng trung nghiệp). 5. Chính mệnh (giữ ngăn dục vọng). 6. Chính tinh tiến (rèn luyện không mệt mỏi). 7. Chính niệm (tin vào sự giải thoát). 8. Chính định (an đinh tự tác). Tám nguyên tắc này có thể tóm tắt vào ba điều học tập, rèn luyện là : Giới - Định - Tuệ. Thực hiện tốt những nguyên tắc này có thể thoát khỏi nỗi khổ trầm luân, đạt tới cõi Niết bàn. Quan niệm về Niết bàn (Nivara), có nhiều cách quan niệm khác nhau: Phật: Niết bàn là nơi âm u tĩnh lặng (Niết bàn tịch tĩnh) Phái Đại thừa (Thần Tú): Niết bàn là nơi có thật trọng không gian và thời gian Phái Tiểu thừa (Huệ Năng): Niết bàn tồn tại trong chính bản thân m ối người Sau khi Buddha mất, Phật giáo được chia thành hai tông phái chính là Thượng toạ bộ (chủ trương duy trì giáo lý cùng cách hành đạo thời đức Phật tại thế) và Đại chúng bộ (với tư tưởng cải cách giáo lý và hành đạo cho phù hợp với thực tế). Đến thế kỷ II tr. CN, ở ấn Độ xuất hiện hai phái Phật giáo là Nhất thiết hữu bộvà Kinh lượng bộ Khoảng đầu công nguyên, xuất hiện hai phái Đại thừa (chủ trương mang tính xã hội rộng mở là : tự giác, tự tha - tự mình giác ngộ cho mình và giúp đỡ người khác cùng giác ngộ giống mình) và Tiểu thừa (chủ trương giác ngộ có tính chất ca nhân). Về mặt triết học, phái Đại thừa còn có hai trường phái tư tưởng lớn có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức mãi về sau, đó là phái Yogacara (Du già sư) với thuyết Duy thức và phái Madkyamika (Trung luận) với thuyết Tính không nổi tiếng. Nhìn chung, trong những giai đoạn đầu, với vũ trụ quan nhân duyên, đạo Phật đã có yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát. Về lĩnh vực chính trị - xã hội, đạo Phật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nêu lên được ước vọng giải thoát con người khỏi nỗi khổ bi kịch của cuộc đời, khuyên người ta sống đạo đức, từ bi, bác ái. Đó là nh\ững ưu điểm triết lý của Phật giáo. Tuy nhiên, trong luận thuy ết về nhân sinh trên con đường giải thoát, tư tưởng Phật giáo vẫn còn hạn chế, mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm, không tưởng về vấn đề xã hội.
  18. 18 b) Triết hoc Trung Quốc cổ trung đại - Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm Thời kỳ cổ đại: từ năm 221 tr.CN trở về trước đó: là thời kỳ hình thành nền văn hoá Trung Hoa cổ đại. Thời kỳ cổ đại cũng được chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn sơ cổ (từ thế kỷ XXV - VIII tr.CN): gọi là “Tam Hoàng - Ngũ Đế - Hạ - Thương - Chu (Tây Chu)”1: thời kỳ hình thành nền văn hoá tiền cổ đại của Trung Hoa. - Giai đoạn cổ đại: gọi là Xuân Thu - Chiến Quốc (thế kỷ VIII - 221 tr.CN): thời kỳ hình thành và phát triển nền văn hoá cổ đại Trung Hoa. Thời kỳ trung đại (từ 221 tr.CN - 1911 SCN): thời kỳ củng cố và phát triển nền văn hoá Trung Hoa. Nên triết học Trung Hoa chủ yếu được hình thành và phát triển trong thời kỳ cổ ̀ đại, có 6 học phái cơ bản: Nho, Đao, Âm dương, Danh gia, Măc và Phap gia. ̣ ̣ ́ Đặc điểm: Nhấn mạnh triết học chính trị - xã hội và nhân văn, ít coi trọng triết học tự nhiên; Đề cao các giá trị thực tiễn đạo đức;Nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất; Phương thức tư duy trực giác. - Một số học thuyết tiêu biểu * Âm dương gia (Thuyết âm dương - ngũ hành) Tư tưởng triết học về âm dương - Khái niệm âm dương: “Âm”: là phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật, như: nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn v.v..; “Dương”: là phạm trù đối lập với “âm”, cũng phản ánh khái quát các tính chất phổ biến, như: cương, nghịch, sáng, khô, phía trên, bên trái, số lẻ v.v.. - Quan hệ biện chứng âm dương: Âm dương tuy đối lập, nhưng hỗ căn: Trong âm có dương, trong dương có âm và ngược lại; Dương thịnh thì âm suy, âm thịnh thì dương suy và ngược lại; Âm dương thống nhất trong đồ hình thái cực, đ ược biểu thị bằng vòng tròn âm dương. - Âm dương với Kinh Dịch: Lý luận về âm dương được phát triển tới mức trở thành một hệ thống hoàn chỉnh đã được thể hiện trong Kinh Dịch: Trong Kinh Dịch, âm dương biểu hiện thành 64 quẻ kép, 384 hào; trong đó, mỗi quẻ, mỗi hào là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội. Vì vậy, Kinh Dịch trở thành “tập đ ại thành” của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học về âm dương hết sức phong phú và sâu sắc Tư tưởng triết học về ngũ hành 1 Tam Hoang: Thiên Hoang, Đia Hoang, Nhân Hoang; Ngũ Đê: Thân Nông, Hoang Đê, Chuyên Huc, Đường Ngu, ̀ ̀ ̣ ̀ ̀ ́ ̀ ̀ ́ ́ ́ Nghiêu Thuân
  19. 19 - Khái niệm: tư tưởng triết học về ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên, với những tính chất khác nhau nhưng có sự tương tác với nhau. Đó là năm yếu tố: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Về lịch sử: xuất hiện các quan niệm về ngũ hành lần đầu tiên dưới dạng thành văn trong Kinh Thư, thiên Hồng phạm. - Quan hệ ngũ hành: Ngũ hành tương sinh: mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc..; Ngũ hành tương khắc: mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc.. Âm dương kết hợp với ngũ hành: Vào cuối đời Chiến Quốc: thuyết âm dương được kết hợp với thuyết ngũ hành thành Thuyết âm dương - ngũ hành với đại diện là Trâu Diễn. Vận dụng vào các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và con người với màu sắc duy tâm thần bí. Thuyết âm dương ngũ hành còn ảnh hưởng to l ớn đ ến ngày nay ở Trung Quốc và phương Đông trong đó có Việt Nam * Nho gia. - Người sáng lập: Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) - Những người kế thừa và phát triển: Mạnh Tử (Mạnh Kha) (327 - 289 TCN); Tuân Tử (Tuân Khanh, Tuân Huống) (313 - 238 TCN) - Kinh điển: Tứ thư, Ngũ kinh - Một số nôi dung tư tưởng triết học chủ yếu của Nho gia: Về vũ trụ và giới tự nhiên: Nho gia nói về vấn đề này không nhiều. Tuy nhiên, trong quá trình đ ề c ập đ ến vấn đề này tư tưởng của họ đôi khi rơi vào mâu thuẫn; Về đạo đức: Nho gia thường nói về các chuẩn mực đạo đức: “tam cương”, “ngũ luân”, “ngũ thường”...; Về chính trị: Nho gia đưa ra các thuyết “Nhân - Lễ ” và “Chính danh”, chủ trương quản lý xã hội b ằng “Đức trị”; Về giáo dục: Nho gia là trường phái triết học đầu tiên của Trung Quốc cổ đại nêu lên những quan điểm tiến bộ về giáo dục - Anh hưởng cua Nho giao trong lich sử: Pham vi anh hưởng: Trung Quốc, Nhât ̉ ̉ ́ ̣ ̣ ̉ ̣ Ban, Triêu tiên, Han Quôc, Việt Nam; Các mặt tích cực và tiêu cực của sự ảnh hưởng; ̉ ̀ ̀ ́ Ảnh hưởng của Nho giáo đến lịch sử văn hóa - xã hội Việt Nam. * Đạo gia (Lão gia) - Người sáng lập: Lão Tử (Lão Đam) (khoảng thế kỷ IV tr.CN), người kế tục và tiếp tục phát triển là Trang Tử (Trang Chu) (396 - 286 TCN) - Kinh điển chủ yếu: Đạo đức kinh của Lão Tử và Nam hoa kinh của Trang Tử - Những tư tưởng triết học chủ yếu: Về tự nhiên, Đạo gia đưa ra học thuyết về “Đạo”; Về nhận thức luận: đưa ra các quan niệm về mặt đối lập, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập (phép biện chứng tự phát); Về xã hội: chủ trương “xuất thế” với chủ thuyết “Vô vi” (vô vi nhi trị), sống và hoạt động thuận theo tự nhiên (đạo pháp tự nhiên).
  20. 20 * Mặc gia - Người sáng lập: Mặc Tử (Mặc Địch) (khoảng 479 - 381TCN) - Tác phẩm kinh điển: là cuốn Mặc Tử, gồm 53 chương - Những tư tưởng triết học chủ yếu: Về tự nhiên, Mặc gia có xu hướng duy vật tự phát khi bác bỏ thuyết “Thiên mệnh” của Nho gia; Về nhận thức luận, Mặc gia theo quan điểm kinh nghiệm luận; Về chính trị xã hội, Mặc gia đưa ra các thuyết “Kiêm ái”, “Phi công”, “Thượng hiền”. Nhìn chung, tư tưởng của Mặc gia đại diện cho tầng l ớp trung lưu, tiểu nông trong xã hội Trung Quốc đương thời. * Pháp gia - Người sáng lập: Hàn Phi Tử (khoảng 280 - 233 TCN) - Các nhà tư tưởng tiền bối: Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng. - Nội dung triết học cơ bản: Về mặt triết học, Pháp gia chủ yếu bàn đến các vấn đề chính trị - xã hội: Quan niệm động lực thúc đẩy sự vận động của xã hội là sự thay đổi dân số; Chủ thuyết “về tính ác”; Đưa ra thuyết “pháp trị” dựa trên 3 tư tưởng: Pháp, Thuật, Thế. * Sự phát triển của triết học Trung Hoa thời kỳ trung đại Bước sang thời kỳ trung đại (kể từ sau khi nhà Tần sụp đổ năm 207 trước công nguyên, cho đến khi kết thúc triều đại phong kiến Mãn Thanh 1911), sự phát triển nền triết học Trung Hoa mang một số đặc điểm sau: Tiếp tục kế thừa và phát triển các học thuyết triết học truyền thống Các học thuyết triết học có xu hướng dung hợp lẫn nhau để tạo ra những nội dung mới cho phù hợp với điều kiện của thời đại mới Nhiều học thuyết triết học trở thành cơ sở lý luận cho việc hình thành ý thức hệ của giai cấp phong kiến Trung Hoa c) Một số vấn đề lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam - Khái niệm và đặc điểm lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là lịch sử các tư tưởng về triết học và về các vấn đề chính trị xã hội. Nó đề cập nhiều vấn đề về thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt Nam trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Một số nét đặc thù: 1. Lịch sử phát triển các tư tưởng triết học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn hoá ấn Độ và Trung Quốc; 2. Tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc vì một cốt cách văn hoá Việt Nam cũng là nét đ ặc thù trong t ư duy tri ết học Việt Nam. 3. Phong cách tư duy gắn liền với đời sống thực tiễn đời thường. 4. Phần lớn các nhà tư tưởng đều là những nhà hoạt động chính trị - xã hội.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản