intTypePromotion=1
ADSENSE

Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường: Nghiên cứu các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học trong các hộ gia đình ở Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:53

24
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo khoa học và công nghệ cấp trường với mục tiêu là xác định các yếu tố quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết nội dung của báo cáo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường: Nghiên cứu các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học trong các hộ gia đình ở Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ GIÁO DỤC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM Chủ nhiệm đề tài: TS.Trần Việt Thảo Hà Nội, 3/2017
  2. MỤC LỤC MỤC LỤC.................................................................................................................... 2 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................................... 4 DANH MỤC BẢNG, HÌNH ....................................................................................... 5 PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài ......................................................................... 1 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan ....................................................... 2 2.1. Ngoài nước ............................................................................................................. 2 2.2. Trong nước ............................................................................................................. 5 3. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài .................................................................... 8 4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu............................................................. 8 5. Phương pháp nghiên cứu: ...................................................................................... 8 6. Kết cấu báo cáo nghiên cứu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu gồm 3 chương: ......................................................................................................................... 8 CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ GIÁO DỤC .......... 9 1.1. Một số khái niệm ................................................................................................... 9 1.1.1. Khái niệm giáo dục và đầu tư ............................................................................. 9 1.1.2. Khái niệm đầu tư giáo dục ................................................................................ 10 1.1.3. Khái niệm chi tiêu giáo dục .............................................................................. 11 1.1.4. Các yếu tố tác động tới đầu tư giáo dục............................................................ 11 1.2. Lý thuyết về đầu tư giáo dục................................................................................ 12 1.2.1. Lý thuyết vốn nhân lực ..................................................................................... 12 1.2.2. Lý thuyết đầu tư vốn nhân lực .......................................................................... 14 1.3. Kinh nghiệm về đầu tư giáo dục ở một số quốc gia ................................................. 15 1.3.1. Kinh nghiệm về đầu tư giáo dục đại học ở Hàn Quốc ...................................... 15 1.3.2. Kinh nghiệm về đầu tư giáo dục đại học ở Nhật Bản ....................................... 16 1.3.3. Kinh nghiệm về định hướng giáo dục ở Hoa Kỳ .............................................. 17 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ GIÁO DỤC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM ....................................................... 19 2.1. Tình hình phát triển giáo dục ở Việt Nam ........................................................... 19
  3. 2.1.1. Tình hình phát triển giáo dục nói chung ở Việt Nam ....................................... 19 2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục đại học nói riêng ................................................ 20 2.2. Tình hình đầu tư giáo dục đại học trong các hộ gia đình ở Việt Nam ................. 22 2.2.1. Lượng hóa đầu tư giáo dục đại học trong các hộ gia đình theo số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS .................................................................................... 22 2.2.2. Xác định các yếu tố tác động tới đầu tư giáo dục trong các hộ gia đình ở Việt Nam ............................................................................................................................. 24 2.3. Phân tích các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học trong các hộ gia đình ở Việt Nam ............................................................................... 31 2.3.1. Mối quan hệ về các yếu tố kinh tế với quyết định đầu tư giáo dục đại học. 32 2.3.2. Các đặc điểm của hộ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư giáo dục của hộ gia đình. ............................................................................................................................ 35 CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................... 43 3.1. Một số kết luận rút ra từ phân tích ở chương 2 .................................................... 43 3.2. Khuyến nghị chính sách ...................................................................................... 43 3.2.1. Hoàn thiện đổi mới chính sách đầu tư giáo dục đại học. .................................. 43 3.2.2. Xây dựng hệ thống thông tin giữa nhà trường, doanh nghiệp, người học về nhu cầu đào tạo của thị trường .................................................................................... 45 3.2.3. Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề đầu tư giáo dục đại học hiệu quả, hợp lý................................................................................................................... 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 47
  4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT THCN : Trung học chuyên nghiệp THCS : Trung học sơ sở THPT : Trung học phổ thông USD : Đô la Mỹ
  5. DANH MỤC BẢNG, HÌNH Bảng 2.1: Số lượng các cơ sở cung ứng giáo dục và đào tạo trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam giai đoạn 2007-2015 ............................................................... 20 Bảng 2.2: Thay đổi về tỷ lệ giảng viên/sinh viên giữa đơn vị công lập và ngoài công lập ở hệ cao đẳng và đại học 2007-2015 ............................................................ 21 Bảng 2. 3. Tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi các cấp, 2009 ................................................ 22 Bảng 2.4: Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình 2010 và 2014 ........................................ 23 Bảng 2.5: Thu nhập bình quân theo giờ theo trình độ giáo dục (Nghìn đồng/người/giờ) theo giá so sánh ................................................................................ 26 Bảng 2.6: Thu nhập bình quân của người lao động theo trình độ và ngành năm 2010 (nghìn đồng/người/giờ) theo giá so sánh ........................................................... 27 Bảng 2.7: Khác biệt lợi tức giáo dục theo trình độ giáo dục, 2002- 2010 (Biến phụ thuộc là biến logarithm của thu nhập) ........................................................................ 28 Bảng 2.8: Cơ cấu việc làm theo trình độ giáo dục, 2002-2010 (%) ........................... 30 Bảng 2.9: Mức lợi tức giáo dục theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (%) ................... 31 Bảng 2.10: Một số đặc điểm của mẫu điều tra............................................................ 32 Bảng 2.11: Mức chi và Tỷ lệ chi giáo dục theo khu vực cư trú ................................. 33 Bảng 2.12: Cơ cấu hộ theo tỷ lệ chi giáo dục và mức chi giáo dục bình quân ........... 34 Bảng 2.13: Mức chi giáo dục bình quân theo số con đang đi học .............................. 35 Bảng 2.14: Mức chi giáo dục bình quân theo cấp học của con .................................. 36 Bảng 2.15: Mức chi giáo dục bình quân theo tình trạng việc làm và nghề nghiệp của bố/mẹ .................................................................................................................... 38 Bảng 2.16: Mức chi giáo dục bình quân theo trình độ giáo dục của bố/mẹ ............... 38 Hình 2.1: Mức chi giáo dục bình quân theo tình trạng làm việc của bố mẹ theo khu vực cư trú (Triệu đồng/con/tháng) .............................................................................. 37 Hình 2.2: Cơ cấu hộ theo các bậc học dự kiến cho con theo học (%) ........................ 39
  6. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài Để phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước cho giáo dục, một nguồn lực hết sức quan trọng là sự đầu tư của hộ gia đình cho con cái, đặc biệt ở bậc đại học. Trong những năm gần đây, tỷ trọng đầu tư cho giáo dục từ hộ gia đình liên tục tăng và chiếm khoảng ½ tổng chi cho giáo dục (Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2011 của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc). Nghiên cứu của UNPA 2012 cho thấy, chi tiêu cho giáo dục và y tế chiếm từ 30-50% thu nhập của hộ gia đình Việt Nam. Đặc biệt, trong tương quan so sánh với các nước đang phát triển như Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, và các nước OECD thì tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục từ dân và các nguồn khác ngoài nhà nước của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các nước nói trên (tỷ lệ lần lượt là 40%; 26%, 7%, 26%; 41% và 20%)1. Xét trên góc độ hộ gia đình và cá nhân, giáo dục được xem là sự đầu tư cho tương lai. Đặc biệt tại Việt Nam, cha mẹ thường có xu hướng huy động mọi nguồn lực để đầu tư cho việc học của con cái nhằm đảm bảo tương lai tốt đẹp cho con, đặc biệt là ở bậc đại học. Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam tiến hành đánh giá xem quyết định đầu tư của cha mẹ dành cho giáo dục của con dựa trên những cơ sở nào, các nhân tố nào tác động tới quyết định đầu tư giáo dục cho con cái của cha mẹ. Việc đầu tư đó có dựa trên bằng chứng về lợi ích của giáo dục, yêu cầu của thị trường lao động, khả năng của con…? Có khác biệt gì trong quyết định đầu tư này ở các bậc cha mẹ với trình độ giáo dục, nghề nghiệp, thu nhập… khác nhau. Những câu hỏi này là thực sự quan trọng khi đánh giá việc đầu tư có mang lại hiệu quả hay không? Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục hiện nay ở Việt Nam, tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” đang diễn ra khi hàng năm tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học thất nghiệp cao hoặc làm việc không đúng ngành nghề, cũng như 1 Vũ Quang Việt, 2006 1
  7. sự phát triển không có kiểm soát của hệ thống các trường cao đẳng và đại học, thì các quyết định đầu tư giáo dục đại học là rất quan trọng cả ở việc phát triển của mỗi cá nhân cũng như là phát triển thị trường giáo dục hướng tới sự phát triển nhân lực cho đất nước. Do vậy, đề tài khoa học “Nghiên cứu các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học trong các hộ gia đình ở Việt Nam” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội cũng như đầu tư của cá nhân cho việc học tập hiện nay ở Việt Nam. Đối với các trường đại học và viện nghiên cứu, đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích, bổ sung thêm vào giáo trình giảng dạy các môn kinh tế học vi mô liên quan tới các hành vi của cá nhân, kinh tế công liên quan tới các quyết định đầu tư phát triển chính sách. 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2.1. Ngoài nước Trong cuốn sách đạt giải Nobel của nhà kinh tế Gary S. Becker “Human capital: Theorical and empirical analysis, with special reference to education” (Chicago, IL, University of Chicago Press, 1994) , người đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu vốn nhân lực hiện đại từ những năm 60 của thế kỷ XX đã khẳng định giáo dục là một trong những hoạt động làm tăng năng suất của mỗi cá nhân đòi hỏi những chi phí trực tiếp cho giáo dục (học phí, sách vở, và nhà cửa) và những thu nhập bị bỏ qua trong quá trình học tập. Theo Gary S.Becker, cha mẹ sẽ đầu tư giáo dục cho con cái khi họ sẵn sàng bỏ qua tiêu dùng của bản thân và dành phần tài chính đó cho việc học của con cái và về bản chất đầu tư này sẽ được tính toán về mặt kinh tế cho bản thân cá nhân đứa trẻ đó và lợi ích xã hội cho đứa trẻ. Ở từng gia đình, có rất nhiều các yếu tố tác động tới mức đầu tư giáo dục, bao gồm địa vị kinh tế xã hội của gia đình (ví dụ như thu nhập của hộ và trình độ giáo dục của cha mẹ), khả năng của đứa trẻ trong theo đuổi việc học và lợi ích kinh tế và xã hội đạt được. Nghiên cứu này của Gary S.Becker đã đạt nền móng cho những nghiên cứu về 2
  8. mối quan hệ giữa đầu tư giáo dục với thu nhập và các yếu tố khác của các nhà nghiên cứu sau này cũng như việc tính toán lợi tức giáo dục của Jacob Mincer. Trong cuốn “Schooling, Experience, and Earnings” của Jacob A.Mincer xuất bản năm 1974, giới thiệu về phân phối và cấu trúc thu nhập của người lao động từ việc đầu tư vốn nhân lực. Khái niệm cơ bản được giới thiệu ở đây là hàm thu nhập với 02 phân phối cơ bản là thu nhập và đầu tư vốn nhân lực. Cuốn sách gồm phần: Phần 1 là những phân tích lý thuyết về mối quan hệ giữa đầu tư vốn nhân lực và thu nhập. Phần này gồm 02 chương: Chương 1 phân tích mối quan hệ giữa đầu tư vốn nhân lực và thu nhập ở cấp độ cá nhân từ đó hình thành hàm thu nhập cá nhân. Chương 2 mở rộng phân tích chéo giữa các cá nhân về mức phân phối thu nhập giữa các cá nhân có sự khác biệt trong đầu tư vốn nhân lực với kinh nghiệm việc làm của họ sau khi tốt nghiệp. Phần 2 của cuốn sách là những phân tích thực chứng về thu nhập của các cá nhân theo dân tộc, khu vực sinh sống và những người không theo đuổi việc học theo tổng mẫu của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1960 ở Mỹ. Phần này gồm 05 chương trong đó chương 3 áp dụng mô hình số năm đi học “schooling model” để giới hạn việc đầu tư vốn nhân lực và có thể lượng hóa được mức đầu tư vốn nhân lực. Jacob A.Mincer đã đặt nền móng cho việc lượng hóa mức đầu tư vốn nhân lực thông qua việc lượng hóa số năm đi học nhằm tính toán mức đầu tư và lợi tức giáo dục từ việc đầu tư vốn nhân lực mang lại Trong cuốn sách “Modern Labor Economics: Theory and Public policy” của Ronald G.Ehrenberg và Robert S.Smith (2003) dựa trên lý thuyết về đầu tư vốn nhân lực giải thích các yếu tố tác động tới đầu tư giáo dục là yếu tố làm tăng vốn nhân lực. Quyết định đầu tư cho giáo dục và đào tạo của người lao động hiện tại được thực hiện do thu nhập kỳ vọng trong tương lai mang lại. Cuốn sách cũng phân tích cầu về giáo dục đại học ở Mỹ từ thập niên 70 đến thập niên 90. Số liệu cho thấy, mức lương trung bình của công nhân làm việc toàn thời gian tăng cùng với trình độ giáo dục của họ. Tuổi và thu nhập của người lao động có xu hướng khác biệt, theo đó, thu nhập theo trình 3
  9. độ giáo dục của người lao động khác nhau, cụ thể là càng về sau càng tăng so với lúc đầu quyết định đầu tư học đại học. Nghiên cứu của Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ (U.S Bureau of Labor Statistic) về “Invesment in higher education by race and ethnicity” tháng 3/2014 sử dụng số liệu vi mô điều tra chi tiêu tiêu dùng ở Hoa Kỳ tính toán các khoản chi tiêu cho giáo dục theo chủng tộc và sắc tộc. Kết quả cho thấy sự khác biệt trong đầu tư phát sinh theo 02 yếu tố (1) là sự khác biệt trong việc học đại học và (2) các giả thuyết về cho tiêu giáo dục. Khi các gia đình quyết định đầu tư cho con cái theo học đại học, hầu như không có sự khác biệt về mức chi tiêu giữa các nhóm chủng tộc và sắc tộc. Như vậy, việc đầu tư giáo dục cho con cái có sự giốn nhau ở tất cả các chủng tộc, từ người phương Tây đến người phương Đông, chỉ có phương thức và cách thức đầu tư là có sự khác biệt. Nghiên cứu “Assests, parental expectation and invovlment, and children’s educational performance” của Min Zhan, 2006 sử dụng số liệu Điều tra quốc gia về những người trẻ (NLSY79) cho thấy sau khi kiểm soát các biến thu nhập của gia đình và các điểm khác của bố mẹ thì quan điểm phát triển, kỳ vọng của cha mẹ, địa vị gia đình là các nhân tố quyết định đầu tư cho giáo dục của cha mẹ với con cái. Nghiên cứu “Parental educational expectation by race/ethnicity and socioeconomic status” của Youngmi Kim, Michael Sherraden và Margaret Clancy (2012) kiểm định kỳ vọng giáo dục ở những bà mẹ mới sinh con sử dụng mẫu đại diện quốc gia. Sử dụng hồi quy logistic cho toàn bộ mẫu và cho từng nhóm chủng tộ để điều tra kỳ vọng giáo dục của cha mẹ theo chủng tộc và theo người Mỹ gốc La tinh (Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha). Kết quả cho thấy, những người Mỹ da trắng không phải gốc La tinh kỳ vọng nhiều vào giáo dục bậc cao với con cái mình so với những gia đình Mỹ gốc Phi, Mỹ gốc Ấn và người Mỹ gốc Latinh. Tuy nhiên, khi kiểm soát các yếu tố về địa lý và kinh tế, xã hội thì sự khác biệt về chủng tộc này không còn nữa. Về yếu tố kinh tế, tài 4
  10. sản và mức bao phủ bảo hiểm y tế có ý nghĩa tích cực với kỳ vọng giáo dục của cha mẹ. 2.2. Trong nước Hiện các nghiên cứu trong nước về các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục bậc đại học cho con cái ở Việt Nam không nhiều, chủ yếu mới được nhìn nhận dưới góc độ tâm lý học và giáo dục học cũng như mới chỉ tập trung ở mức giáo dục chung hoặc giáo dục phổ thông. Một số các nghiên cứu mới chỉ dừng ở từng địa phương, vùng miền, chưa có tính tổng thể. Về phạm vi nghiên cứu: Đa số các nghiên cứu đã có chủ yếu sử dụng số liệu sơ cấp và thứ cấp từ các cuộc điều tra sẵn có của Tổng cục Thống kê, do vậy phạm vi nghiên cứu được lựa chọn chủ yếu theo khu vực phân tổ của Tổng cục Thống kê (Hà, Tùng, 2014; Long, 2014; Dũng, Thông, 2014). Bên cạnh đó, đã có một số nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa tại một số địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc một số địa phương cụ thể để tiến hành phân tích (Trà, 2007; Actionaid, 2010; Hoa và cộng sự, 2014; Hùng, 2014). Tuy nhiên, các nghiên cứu được tiến hành khảo sát với quy mô mẫu nhỏ, lựa chọn địa điểm đặc thù do vậy không đảm bảo được tính suy rộng của nghiên cứu. Về phương pháp nghiên cứu: Phương pháp hồi cứu tư liệu, nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng, thống kê mô tả là những phương pháp nghiên cứu phổ biến được các tác giả sử dụng trong các phân tích của mình. Việc sử dụng một số mô hình định lượng phân tích còn khá ít, tuy nhiên trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã dần tiếp cận với hướng phân tích sử dụng các mô hình định lượng như là công cụ để kiểm định cho các kết quả nghiên cứu. Mô hình Tobit - phương pháp hồi quy kiểm duyệt được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân (Dũng, Thông, 2014). Về nội dung nghiên cứu: Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các nội dung sau: 5
  11. (1) Thực trạng đầu tư giáo dục của bố mẹ cho con cái trong các hộ gia đình ở Việt Nam Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2010 cho thấy mỗi hộ gia đình bình quân hàng năm dành khoảng 6% trong tổng chi tiêu đời sống của hộ gia đình cho giáo dục và đào tạo (Hoa và cộng sự, 2014). Nghiên cứu về chi phí không chính thức của hộ gia đình trong giáo dục tại Việt Nam (Cơ quan Phát triển Bỉ, IRC, 2011) chỉ ra nếu một hộ có hai học sinh theo học cấp cơ sở, thì tổng chi phí dành cho giáo dục trung bình chiếm 30% tổng thu nhập của hộ. Ngoài ra, Đặng Hải Anh (2007) cũng tìm thấy sự ảnh hưởng lớn của chi phí học thêm đến tổng chi tiêu trong gia đình và ngày càng tăng cao ở các cấp cao hơn. Sự biến đổi trong nhận thức của người dân không chỉ ở chỗ đầu tư nhiều hơn về chi phí cho học tập của con cái mà bên cạnh đó họ đã bỏ ra nhiều thời gian cũng như công sức hơn để chăm lo, đôn đốc, kiểm soát, định hướng việc học của con cái (Trà, 2007). Nhiều bậc cha mẹ luôn muốn dành nhiều thời gian cho việc học tập của con cái, tuy nhiên, do điều kiện gia đình, khác biệt về trình độ của bố mẹ, văn hóa, vùng miền cho nên sự đầu tư về mặt tinh thần cho giáo dục của con cái của các hộ gia đình cũng có sự khác biệt (mức độ đầu tư ở thành thị cao hơn vùng nông thôn, những gia đình có điều kiện tốt hơn, cha mẹ có trình độ học vấn cao có mức đầu tư cũng cao hơn). (2) Các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục cho con cái: Đặc tính, điều kiện kinh tế gia đình; các yếu tố vật chất (mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy…); các yếu tố phi vật chất (đội ngũ cán bộ, giáo viên, chương trình giảng dạy, chi phí đóng góp…) Các nghiên cứu trước đây (Thông, 2008; Tansel, 2005) cho thấy nếu cha mẹ có trình độ học vấn càng cao thì mức độ ảnh hưởng đến việc học của con cái họ sẽ nhiều hơn. Khi trình độ học vấn của cha mẹ cao hơn, trẻ em có xác suất đi học cao hơn (Sơn và cộng sự, 2001; Phương, 2004; Trà, 2008; ). Trình độ học vấn của bố mẹ là yếu tố tác động mạnh nhất đến tình trạng giáo dục của 6
  12. con cái trong các gia đình nông thôn (Học vấn của bố mẹ có thể tác động đến tình trạng giáo dục của con cái thông qua các yếu tố trung gian như sự quan tâm đến việc học của con, cho con học thêm, thái độ và hành vi hướng nghiệp cho con, cho con tham gia công việc sản xuất hay mức chi tiêu cho giáo dục). Hộ gia đình có trình độ học vấn càng cao thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều (Dũng, Thông, 2014; Phương, 2004; Trà, 2008). Tuổi chủ hộ càng cao thì mức chi tiêu cho giáo dục càng nhiều trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tuy nhiên, mức chi tiêu này chỉ tăng đến mức cực đại, sau đó sẽ giảm xuống. Điều này có thể được giải thích vì khi chủ hộ còn trẻ, họ sẽ nhận thức được tầm quan trọng của việc học, do đó, sẽ đầu tư cho con cái nhiều hơn (Dũng, Thông, 2014). Khi thu nhập của hộ gia đình tăng lên thì mức chi cho giáo dục cũng tăng thêm, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi (Dũng, Thông, 2014). Yếu tố này được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây (Anh, 2007; Tasel, 2005). Một số nghiên cứu sử dụng số liệu từ những cuộc điều tra quy mô lớn cho thấy, trẻ em trong những gia đình có mức sống cao hơn có tỉ lệ nhập học cũng cao hơn. Các nghiên cứu đều có một điểm chung khi đề cập chi phí gián tiếp và chi phí cơ hội là hai yếu tố cản trở việc tiếp tục đi học của học sinh trong những gia đình có mức sống thấp hơn (Long, 2014). Chi phí trực tiếp mà phụ huynh phải trả cho giáo dục vượt quá khả năng tài chính của những gia đình nghèo và gây cản trở cho việc đi học (Hoa, 2014). Sự khác biệt về vùng miền cũng được thể hiện trong quyết định đầu tư giáo dục của cha mẹ cho con cái được phản ánh trong một số nghiên cứu. Tỉ lệ nhập học thấp hơn ở nhóm dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa, nông thôn là do các chi phí cơ hội và chi phí tiền mặt cao hơn và thiếu nhận thức phù hợp về giáo dục (ADB, 2002). Rào cản về khoảng cách không hề giảm đi như mong muốn mà thậm chí còn tăng lên (Actionaid, 2010). Tỉ lệ đi học trung học cơ sở và các cấp học cao hơn là thấp hơn tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và giảm dần theo các vùng từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng lên 7
  13. miền núi là do thói quen, truyền thống, tâm lý và tập quán (Chuyên và cộng sự, 1999; Đạt, 2011). Về hạn chế nghiên cứu: Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu chung về đầu tư của hộ gia đình, chưa có phân tách cụ thể ở các cấp học. 3. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học cho con cái trong các hộ gia đình ở Việt Nam 4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố quyết định đầu tư giáo dục trong các hộ gia đình ở Việt Nam. - Mục tiêu: Xác định các yếu tố quyết định đầu tư giáo dục trình độ đại học - Phạm vi nghiên cứu: Hộ gia đình Việt Nam trong bộ số liệu điều tra VHLSS từ 2002 tới 2014 và Bộ điều tra số liệu đầu tư giáo dục cho con cái của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2016. 5. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp kế thừa: Thu thập tài liệu, tổng quan nghiên cứu về đầu tư giáo dục của cha mẹ cho con cái. - Phương pháp định lượng: đo lường các yếu tố tác động tới quyết định đầu tư giáo dục cho con cái trong các hộ gia đình Việt Nam thông qua bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS và bộ số liệu điều tra hộ gia đình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2016. 6. Kết cấu báo cáo nghiên cứu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết về đầu tư giáo dục Chương 2: Thực trạng đầu tư giáo dục trình độ đại học trong các hộ gia đình ở Việt Nam Chương 3: Kết luận và kiến nghị 8
  14. CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ GIÁO DỤC 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Khái niệm giáo dục và đầu tư Khái niệm giáo dục: Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập, mà theo đó, những kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể đến cách thức người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động, đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục còn có thể được coi là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm tác động tới đối tượng được giáo dục theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Từ giáo dục thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. - Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội, bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến con người. - Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình tác động đến thế hệ trẻ một cách toàn diện về mọi mặt (tư tưởng, đạo đức, hành vi,...). Giáo dục gia đình là sự giáo dục được thực hiện trong phạm vi gia đình, do các thế hệ trước thực hiện, nhằm tác động tới thế hệ sau với mục đích hình thành và củng cố trong thế hệ sau những phẩm chất, năng lực phù hợp với quan điểm của thế hệ trước cũng như phù hợp với hệ chuẩn mực của xã hội. Đây là một hoạt động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có sự chuẩn bị...) của những người giáo dục (thế hệ trước), tác động một cách thường xuyên, liên tục tới đối tượng được giáo dục (hế hệ sau), nhằm đạt tới mục đích mà người giáo dục đã định. 9
  15. Như vậy, có thể hiểu: Giáo dục gia đình là những hoạt động tự giác (có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, có sự chuẩn bị...) của thế hệ trước, tác động đến thế hệ sau, nhằm hình thành ở thế hệ sau những phẩm chất, những giá trị và kỹ năng… theo mong muốn của thế hệ trước và theo yêu cầu của xã hội. Khái niệm đầu tư: Đầu tư, theo nghĩa rộng được hiểu là “sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để có được các kết quả đó”. Các nguồn lực được huy động vào đầu tư có thể là tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, vốn, công nghệ. Các kết quả thu được ở đây có thể là lợi ích kinh tế xã hội (thể hiện ở lợi ích mà toàn xã hội đạt được từ việc đầu tư như tăng trưởng kinh tế nhờ tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và sự phát triển của từng cá nhân trong xã hội, nâng cao trình độ dân trí,...) hay lợi ích tài chính (thể hiện ở lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ việc đầu tư). 1.1.2. Khái niệm đầu tư giáo dục Trên thế giới, từ những năm 30 của thế kỷ XX, các học giả bắt đầu đưa khái niệm đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và gọi là đầu tư giáo dục2. Đầu tư cho giáo dục được hiểu từ phía Nhà nước, tư nhân, hộ gia đình và cá nhân người học. Nhà nước đầu tư cho giáo dục sẽ mang lại nguồn nhân lực cho xã hội; Hộ gia đình đầu tư cho giáo dục kỳ vọng cho cá nhân sẽ thu thập được kỹ năng, trình độ để nâng cao vốn nhân lực của bản thân. Nguồn vốn nhân lực này được đo lường bằng mức lợi tức giáo dục mang lại (ROR). Theo cách tính toán của Ngân hàng Thế giới thì đầu tư cho giáo dục tiểu học tỷ lệ thu hồi vốn là 24% so với vốn đầu tư, cho trung học là 17%, và cao đẳng đại học là 14%, trong khi đó đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồi chỉ đạt 13% tổng vốn đầu tư; 2 Trần Quốc Toản, 2013 10
  16. 1.1.3. Khái niệm chi tiêu giáo dục Chi phí trực tiếp: Chi phí trực tiếp cho giáo dục bao gồm học phí và các khoản lệ phí khác, chi mua sắm sách giáo khoa, vở và đồ dùng học tập, chi cho đi lại và lưu trú (nếu học ở xa nhà), chi mua đồng phục và đóng góp các quỹ khác ở nhà trường,... Chi phí gián tiếp hay còn gọi là chi phí cơ hội của giáo dục: được xác định trên cơ sở đặt giả thiết: Điều gì sẽ xảy ra nếu việc đầu tư cho giáo dục ĐƯỢC/hay KHÔNG ĐƯỢC tiến hành. Nếu không đi học, người học và gia đình có thể dành thời gian và chi phí của mình cho việc đi chơi, đi làm, hoặc đầu tư cho các hoạt động khác. Giá trị của cơ hội lớn nhất mất đi khi quyết định đầu tư cho hoạt động giáo dục sẽ cho phép ta tính toán chi phí gián tiếp (chi phí cơ hội) của giáo dục. 1.1.4. Các yếu tố tác động tới đầu tư giáo dục Ở trong bất cứ một hoàn cảnh nào, hoạt động đầu tư bao giờ cũng được kỳ vọng sẽ đem lại lợi nhuận. Do vậy, gia đình và cá nhân đầu tư vào giáo dục cũng kỳ vọng tăng năng lực cá nhân nhằm tăng cơ hội phát triển và tồn tại trong xã hội. Vì đầu tư giáo dục ở góc độ cá nhân sẽ làm tăng vốn nhân lực cho bản thân cá nhân đó, đồng thời cũng làm tăng vốn nhân lực cho toàn xã hội. Đầu tư giáo dục của hộ gia đình chỉ có hiệu quả nếu thu nhập kỳ vọng đạt được sau khi học và đi làm bù đắp được khoản chi phí cho học tập trước đó (bao gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp). Đầu tư giáo dục của hộ gia đình xuất phát từ môi trường giáo dục gia đình. Về tổng thể, chức năng giáo dục của gia đình được hình thành một cách có ý thức, có nghĩa là ông bà, cha mẹ và những người lớn trong gia đình đã từng bước hình thành một môi trường giáo dục gia đình. Môi trường giáo dục gia đình được hình thành rất khác nhau, phụ thuộc vào truyền thống gia đình, điều kiện kinh tế, bề dày văn hóa, đạo đức, trình độ tri thức của các thành viên trong gia đình nhất là cha mẹ, và định hướng phát triển của mỗi gia đình. Vì 11
  17. vậy, các quyết định ảnh hưởng tới đầu tư giáo dục của hộ gia đình phụ thuộc rất nhiều vào môi trường giáo dục của gia đình đó. 1.2. Lý thuyết về đầu tư giáo dục 1.2.1. Lý thuyết vốn nhân lực Có nhiều khái niệm về vốn con người hay còn gọi là vốn nhân lực (human capital). Theo K.Marx, sức lao động với với toàn bộ năng lực, thể lực, trí lực ở một khía cạnh nào đó được coi là vốn con người; Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vốn nhân lực là kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính tiềm tàng trong mỗi cá nhân; theo Becker (1964) vốn nhân lực là sự kết hợp không thể tách rời kiến thức, kỹ năng, sức khỏe của một cá thể, là một của cải tư, mang đến lợi tức cho người có vốn đó; theo Mc.Connell, Brue và Macpherson, vốn con người là sự tích lũy trước đó vào giáo dục, đào tạo, sức khỏe và những nhân tố khác để làm tăng năng suất lao động; theo giáo trình Kinh tế nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân, vốn nhân lực là tập hợp các kiến thức, khả năng, kỹ năng mà con người tích lũy được (Thành, 2014)3. Khoa học về vốn nhân lực được đặt ra từ thế kỷ XVIII khi Adam Smith viết tác phẩm “Sự thịnh vượng của các quốc gia” (The wealth of nations – 1776). A.Smith tin rằng “mỗi con người đều chính thức bị thúc động bởi tư lợi mà điển hình là lòng ham muốn của cải. Các động lực ích kỷ là căn cốt của các hành động của con người. Sự ích kỷ của cá nhân đã đem đến lợi ích xã hội, nếu mỗi con người cố gắng làm lợi cho chính mình một cách đều đặn, không ngừng thì sẽ dẫn đến sự thịnh vượng của quốc gia”. Lý thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh. Nội dung chính của lý thuyết cho rằng các cá nhân đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhằm tích lũy những khả năng và kiến thức (một phần vốn nhân lực), những cái có thể mang 3 Thái Phúc Thành (2014). Vai trò của vốn con người trong giảm nghèo bền vững. Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội. 12
  18. lại lợi ích lâu dài sau đó. Sự đầu tư này mang lại lợi ích kinh tế quốc dân và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế4. Lý thuyết vốn nhân lực nhấn mạnh đến khái niệm các cá nhân là những người đầu tư. Lý thuyết này cho rằng các cá nhân sẽ đầu tư vào giáo dục để kiếm được lợi ích cao hơn vào những năm sau khi học. Sự đầu tư này bao gồm các chi phí học tập và việc mất thu nhập trong ngắn hạn do dành thời gian cho việc đi học, tuy nhiên, nhà đầu tư hy vọng sẽ kiếm được thu nhập cao hơn trong tương lai. Vốn nhân lực có các đặc điểm như sau: (1) Thứ nhất, vốn con người không thể chuyển nhượng, mua bán, hoặc thế chấp. (2) Thứ hai, mỗi cá nhân đầu tư cho việc học hành mong muốn đạt được nhiều lợi ích hơn khi tham gia vào thị trường lao động. Tuy nhiên, lợi ích đạt được trong tương lai phụ thuộc nhiều vào nữ lực của các cá nhân trên thị trường lao động. Những nỗ lực này không được đảm bảo nên đầu tư vốn con người mang tính rủi ro cao. Thêm nữa, tính rủi ro của đầutư cho giáo dục còn xuất phát từ tính không thể điều chỉnh được của việc đầu tư cho giáo dục, do đầu tư cho giáo dục có đỗ trễ rất lớn. Ví dụ, một người đầu tư cho việc đi học đại học mất 4 năm, nhưng khi ra trường thấy thu nhập của mình thấp thì hầu như không thể đi học lại để trở thành một bác sỹ. (3) Thứ ba, vốn nhân lực không làm cho người sở hữu nó trở thành nhà tư bản. Ngoại trừ việc người lao động tự làm việc (self-employed) thì người sở hữu vốn nhân lực sẽ trở thành người làm công ăn lương. Vốn nhân lực được tích lũy qua 3 giai đoạn chính trong đời người, đó là: (1) giai đoạn ban sơ (do bẩm sinh hoặc tiếp nhận, chủ yếu là ở nhà), (2) giai đoạn giáo dục chính quy; và (3) giai đoạn đào tạo trong công việc (on-the-job- training). Việc nghiên cứu và đo lường kết quả trên thị trường lao động từ vốn 4Trần Lê Hữu Nghĩa (2010). Đôi điểu về lý thuyết vốn nhân lực trong mối quan hệ với giáo dục và vốn xã hội. Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội. 13
  19. nhân lực được tích lũy trong giai đoạn giáo dục chính quy được nghiên cứu nhiều nhất do các yếu tố vốn con người lúc này dễ đo đạt nhất. 1.2.2. Lý thuyết đầu tư vốn nhân lực Vốn nhân lực được hình thành thông qua việc đầu tư cho người lao động, bao gồm các khoản đầu tư cho giáo dục, đầu tư đào tạo nghề, chăm sóc sức khỏe và các khoản phúc lợi xã hội khác. Đầu tư vốn nhân lực là hoạt động ảnh hưởng tới thu nhập thực tương lai thông qua các nguồn lực. Với các phương thức đầu tư khác nhau thì có sự khác nhau về ảnh hưởng tương đối tới thu nhập và tiêu dùng, về nguồn lực đầu tư, về quy mô hoàn trả và trong liên hệ giữa việc đầu tư và mức độ hoàn trả. Tuy nhiên, tất cả nhưng phương thức đầu tư nhằm cải thiện khả năng vật chất và trí tuệ của con người đều làm tăng thu nhập thực tế trong tương lai5. Lý thuyết đầu tư vốn nhân lực của Gary Becker (1964) chỉ ra các phương thức đầu tư vào vốn nhân lực bao gồm đi học, đào tạo trong công việc, chăm sóc y tế, và các phúc lợi xã hội khác. Giống như các hình thức đầu tư khác, đầu tư vốn nhân lực cũng bao gồm các chi phí phát sinh trong ngắn hạn và kỳ vọng lợi nhuận/lợi tức tích lũy trong tương lai. Các chi phí đầu tư vốn nhân lực có thể chia thành 3 loại: (1) Chi phí trực tiếp, bao gồm học phí, các khoản chi tiêu cho sách vở và các khoản chi khác; (2) chí phí gián tiếp: tăng lên vì trong thời gian đầu tư thường không thể làm việc, ít nhất là không làm việc hoàn toàn; (3) những tổn thất về tinh thần xuất hiện vì việc học thường là khó và không hấp dẫn. Trong trường hợp đầu tư cho giáo dục và đào tạo, lợi tức kỳ vọng là mức thu nhập cao hơn trong tương lại, làm tăng thỏa dụng nghề nghiệp trong suốt thời gian lao động, và làm gia tăng những hoạt động phi thị trường và lợi ích6. Đầu tư vốn nhân lực qua giáo dục và đào tạo được đo lường bằng theo 3 thước đo: bẩm sinh, giáo dục chính quy (thể hiện qua trình độ học vấn) và giáo dục trong công viẹc (thể hiện qua kỹ năng nghề nghiệp của người lao động tích lũy trong quá trình lao động). Cũng giống như việc tính toán thực hiện các dự 5 Gary S.Becker(1962). Investment in human capital: A theoretical analysis. The journal of political economy .Vol 70, Issue 5, Part 2: Investment in Human beings (Oct.1962), 9-49 6 Ronald G. Ehrenberg and Robert S. Smith (2003).“Modern Labor Economics: Theory and Public Policy”. Eight edition. International edition. Pearson Education, Inc. (p. 265) 14
  20. án đầu tư, trong trường hợp đầu tư cho giáo dục, các cá nhân cân nhắc dựa trên các tính toán chi phí và lợi ích của việc đi học. Nếu lợi ích của việc đi học lớn hơn chi phí thì đầu tư cho việc đi học là có hiệu quả. Việc phân tích chi phí – lợi ích của việc đầu tư cho giáo dục sẽ giúp đo lường các những hiệu ứng của sự tăng lên trong lượng đầu tư vốn con người. 1.3. Kinh nghiệm về đầu tư giáo dục ở một số quốc gia 1.3.1. Kinh nghiệm về đầu tư giáo dục đại học ở Hàn Quốc Ở Hàn Quốc, vai trò của bố mẹ trong việc định hướng giáo dục cho con cái ngày càng thể hiện rõ thông qua sự tham gia của các bậc phụ huynh vào giáo dục. Theo truyền thống, cha mẹ ở Hàn Quốc có vai trò quyết định trong định hướng giáo dục cho con cái, thể hiện qua các khoản đầu tư tài chính cho con cái tham gia các lớp học thêm, học phí, các hoạt động ngoại khóa, và các chi phí trường học khác. Các hộ gia đình Hàn Quốc có xu hướng chi tiêu nhiều cho giáo dục và các sản phẩm giáo dục so với thu nhập của hộ so với các nước phát triển khác. Các số liệu cho thấy, tỷ lệ này chiếm khoảng 15% GNP và khoảng 22% thu nhập của hộ. Một khảo sát năm 2006 cho thấy, trung bình một hộ gia đình Hàn Quốc đầu tư khoảng từ 300-500USD/tháng chỉ riêng cho việc học tiếng Anh của trẻ. Gần đây, các bậc cha mẹ ở Hàn Quốc tham gia vào Hội phụ huynh thường xuyên tham gia và liên hệ, làm cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh. Theo Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (MEST), từ năm 2010, một quy định mới đã tăng cường vai trò của cha mẹ vào việc tiếp cận giáo dục cũng như tham gia vào các nhà trường. Vai trò này thể hiện qua các chương trình giám sát trường học của phụ huynh Hàn Quốc. Các chương trình giám sát trường học này được thiết kế để khuyến khích các bậc phụ huynh hiểu hơn về tiến trình phát triển của trẻ ở trường, tăng cường nhận thức của cha mẹ về các nguồn lực ở trường học và tình nguyện tham gia hoặc trở thành một phần của Hội phụ huynh7. 7 Theo CIEB, 2012. 15
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2