Giá trị hiện thực truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
Các ý lớn cần có
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
2. Qua hai nhân vật Mị và A Phủ , nêu những giá trị hiện thực của tác phẩm:
+ Tác phẩm tố cáo, lên án tội ác thực dân, phong kiến.
+ Phơi bày cuộc sống thống khổ của đồng bào miền núi dưới ách thống trị thực
dân , phong kiến.
+ Phản ánh chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng quá trình giác ngộ cách
mạng từ tự phát đến tự giác của nhân dân miền núi.
Gợi ý cụ thể
1. Giới thiệu
+ Tác giả: Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 10-8-1920 làng Nghĩa
Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông ( nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận
Cầu Giấy, Nội). Năm 1943 , ông gia nhập Hội văn hóa cứu nước. Trong kháng
chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số
thành tựu quan trọng trong sáng tác, tiêu biểu là tập Truyện Tây Bắc
+ Tác phẩm:
* Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài chuyên hai đề tài:
- Đề tài vùng ngoại ô: Quê người ( tiểu thuyết, 1941), Trăng thề ( tiểu thuyết,
1941), Nhà nghèo ( tập truyện ngắn, 1944), Xóm Giếng ngày xưa ( tiểu thuyết, 1944).
các tác phẩm này, Hoài nhìn nông thôn nghiêng về phía các phong tục, nhưng
qua đó, ta vẫn thấy cuộc sống gieo neo, cực của người nông dân pha thợ thủ
công.
- Đề tài về loài vật: Nổi bật nhất Dế Mèn phiêu lưu ( truyện 1941), O
chuột ( tập truyện ngắn , 1942). Ở các tác phẩm trên, nhà văn bộc lộ khả năng quan sát
tinh tường, trí tưởng tượng mạnh mẽ, tài miêu tả ( tả cảnh, tả động vật…sinh động,
hóm hỉnh), đồng thời cũng thể hiện thái độ phê phán cuộc sống thực tại ước về
một xã hội tốt đẹp.
* Vợ chồng A Phủ một trong ba truyện ngắn được rút ra từ tập Truyện Tây
Bắc , kết quả của chuyến Hoài đi cùng bộ đội trong m tháng giải phóng Tây
Bắc ( 1952). Do có những giá trị nội dung nghệ thuật nổi bật , tác phẩm đã đạt giải
nhất của Hội Văn học Việt Nam năm 1954- 1955 ( đồng hạng với đất nước đứng lên
của Nguyên Ngọc).
2. Giá trị hiện thực
+ Thông qua câu chuyện cuộc đời cặp vchồng người Mèo này . Hoài nêu
lên vấn đề số phận nam n, thanh niên Mèo nói riêng đồng bào dân tộc nói chung
dưới sự áp bức bóc lột của bọn thực dân phong kiến và con đường đến với cách mạng
của họ . Bên cạnh đó , tác giả đặt vấn đề cần giải phóng phụ nữ những chủ trương
chính sách của Đảng trong việc giúp đỡ các dân tộc anh em. Những nội dung nói trên
đã làm nên giá trị hiện thực của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.
Qua cuộc đời đau khổ của Mị và A Phủ, Tô Hoài đã lên tiếng tố cáo những tội
ác của bọn thực dân phong kiến đối với những người dân vùng núi Tây Bắc . Nhân
dân miền núi nói riêng nhân dân Việt Nam nói chung phải chịu cảnh một cổ hai
tròng. Dưới thời thực dân Pháp.
Thống người đứng đầu bộ máy chính quyền các bản làng vùng dân tộc.
Giàu có, lại dựa vào thế lực của Tây, cha con thống lí Pá Tra tha hồ tác oai tác quái ức
hiếp dân lành. Đó hiện trạng phổ biến xảy ra nước ta trước Cách mạng. Bằng
chính sách cho vay nặng lãi , chúng bóc lột người dân đến tận xương tủy. Mị A
Phủ nạn nhân trực tiếp của chính sách ấy. Chỉ món tiền cưới cha mẹ Mị đã
phải bán mình m dâu nhưng thân phận Mị không khác nào kẻ tôi đòi, làm việc
không ng đến suốt đời. Cái địa ngục khủng khiếp ấy đã biến Mị từ một gái trẻ
trung, vui tươi, xinh đẹp, yêu đời thành con rùa lùi lũi nuôi trong cửa”, thành
con trâu con ngựa trong chuồng; chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Đối lập hoàn
toàn với cuộc sống giàu sang phú quí nhà thống lí- mà tác giả đã tố cáo được tạo nên
do việc ăn của dân nhiều, đồn tây lại cho muối về bán”- với nhiều ruộng, nhiều
bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” hình ảnh Mị ngồi quay sợi bên tảng đá trước
cửa , cạnh tàu ngựa “ và “ lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi
hay đi cõng nước dưới khe suối lên, Mị cũng cúi mặt , mặt buồn rười rượi”. Cường
quyền và thần quyền nhà thống lí Tra đã giết chết cô gái ấy cả thể xác lẫn m hồn.
Mị cùng bao cô gái đáng thương khác trong nhà thống lí – như người chị dâu chưa già
lưng đã còng quanh m phải đeo thồ nặng quá , còn Mị- phải làm việc cực