intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Tài chính quốc tế: Phần 1 - PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:155

18
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình "Tài chính quốc tế" được biên soạn nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh nói chung, sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng nói riêng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Giáo trình được kết cấu thành 9 chương và chia làm 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: tài chính quốc tế; thị trường tài chính quốc tế; thị trường ngoại hối; thanh toán quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tài chính quốc tế: Phần 1 - PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên)

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên) Giáo trình G072.0026 NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Bộ MÔN NGẰN HÀNG - CHỨNG KHOÁN PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên) Giáo trình NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ - 2010
  3. LỜI NÓI ĐẦU Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tài chính quốc tế cũng giữ vai trỏ ngày càng quan trọng hơn trong sự phát triến của moi quốc gia nói riêng và cộng đồng kinh tế thế giới nói chung. Vì vậy, nhận thức đầy đủ các quan hệ tài chính quốc tế và sự vận hành của chúng trong mối quan hệ với tổng thể các quan hệ kinh tế tài chỉnh khác là yêu cầu cần thiết đổi với một cán bộ quản lí kinh tế. Xuất phát từ nhận thức nêu trên, Bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại tổ chức biên soạn Giáo trĩnh Tài chính Quốc tế nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế và Quàn trị kinh doanh nói chung, sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng nói riêng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Nội dung giáo trình được kết cấu thành 9 chương: Chương 1: Tổng quan về tài chính quổc tế Chương 2: Thị trường tài chỉnh quốc tế Chương 3: Thị trường ngoại hối Chương 4: Thanh toán quốc tế Chương 5: Đầu tư quốc tế Chương 6: Tín dụng quốc tế Chương 7: Viện trợ phát triển chính thức Chương 8: Thuế quan và liên minh thuế quan Chương 9: Cán cân thanh toán quốc tế Tham gia biên soạn giáo trình gồm: - PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Liên, Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Thương mại chủ biên, biên soạn chương 1, chương 5 và đồng biên soạn chương 2, chương 3. - TS. Nguyễn Trọng Tài, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng, đồng biên soạn chương 2. - ThS. Phùng Việt Hà, giáng viên bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 3. 3
  4. - ThS. Lê Nam Long, Phó trưởng bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 4. - ThS. Nguyễn Phú Hà, giảng viên bộ môn Ngán hàng - Chứng khoản, Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 6. - PGS.TS. Đinh Văn Sơn, Phó hiệu trưởng Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 7 và chương 8. - CN. Vũ Ngọc Diệp, giảng viên bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 9. Giáo trĩnh được biên soạn trên cơ sở tham khảo một sổ tài liệu trong nước và nước ngoài (được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo), cập nhật các văn bản pháp quy của Chỉnh phủ và các Bộ, Ngành có liên quan đến lĩnh vực tài chính quốc tế. Trong quá trĩnh biên soạn tập thể tác giả cũng nhận được những góp ý quý báu của PGS. TS. Lưu Thị Hương, Trường đại học Kinh tế Quốc dãn, PGS.TS. Nguyễn Văn Thanh, Trường đại học Thương mại. Xin chân thành cảm ơn tác giả của những tài liệu mà chúng tôi đã sử dụng, cảm ơn sự góp ý của các nhà khoa học để góp phần nâng cao chất lượng giáo trình. Chúng tôi cũng muốn được bày tỏ lòng cảm ơn của mình tới GS.TS.NGUT. Nguyễn Bách Khoa, Hiệu trưởng Trường đại học Thương mại; tập thể cán bộ chuyên viên phòng Khoa học & Đổi ngoại, Trường đại học Thương mại đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình chỉnh sửa, biên tập và xuất bản giáo trình. Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gang cập nhật những kiến thức, thông tin đế Giáo trình đảm bảo được các yêu cầu cơ bản, hiện đại và phù hợp với thực tiễn các hoạt động Tài chỉnh quốc tế của Việt Nam, nhưng do trình độ năng lực có hạn, do Tài chính quốc tế là một lĩnh vực rộng lớn, có liên quan đến hầu hết các chủ thế của nền kinh tế xã hội với các quan hệ kinh tế tài chính tiền tệ rất phong phú và phức tạp, hơn thế nữa dãy lại là Giáo trình được biên soạn lần đầu nên không thể tránh khỏi những hạn chế, sai sót nhất định. Chúng tồi rất mong nhận được ỷ kiến góp ý của đông đảo bạn đọc đế Giáo trình có thế hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau. Thay mặt tập thể tác giả CHỦ BIÊN 4
  5. Chương 1 TỔNG QUAN VÊ TÀI CHÍNH QUỐC TÊ Tài chính quốc tế là một lĩnh vực hoạt động rất phức tạp với các hình thức đa dạng, với sự tham gia của nhiều chủ thể và diễn ra trên một phạm vi không gian rộng lớn, liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau trong từng khu vực, hoặc trên toàn thế giới. Tài chính quốc tế ra đời là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các giao dịch quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao... và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tài chính quốc tế cũng ngày càng phát triển và khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nó trong đời sống kinh tế - xã hội. Nội dung chuông 1 Giáo trình sẽ giới thiệu với bạn đọc những vấn đề cơ bản nhất về tài chính quốc tế, đó là: Các quan niệm về tài chính quốc tế, những đặc điểm và vai trò của tài chính quốc tế; Các chủ thể tham gia và các giao dịch tài chính quốc tế; Một số định chế tài chính quốc tế chủ yếu như: tổ hợp Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thanh toán quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng Liên châu Mĩ... 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH QUỐC TỂ 1.1.1. Cơ sở hình thành và phát triển các quan hệ tài chính quốc tế Lịch sử phát triển của tất cả các quốc gia độc lập đã chứng tỏ rằng, tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi quốc tế là con đường và biện pháp cơ bản nhất để kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để thúc đẩy phát triển kinh té - xã hội của đất nước theo mục tiêu đã đề ra. Đặc biệt, trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế - xã hội diễn ra sâu sắc như hiện nay thì phân công lao động và hợp tác quốc tế, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại là con đường phát triển tất yếu. Điều đó có nghĩa là các quốc gia không thể tự thỏa mãn nhu cầu của mình với chính sách đóng cửa mà cần tồn tại và phát triển theo con đường mở cửa với thế 5
  6. giới bên ngoài. Đặc tính toàn cầu hóa và hợp nhất hóa của nền kinh tế thế giới được hình thành trên cơ sở những đặc trưng của nền kinh tế mỗi quốc gia hiện đang theo đuổi là nền kinh tế thị trường. Những nét đặc trưng chủ yếu của các nền kinh tế thị trường hiện đại là: sự phát triển của thương mại trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động, quá trình tiền tệ hóa hầu hết các quan hệ kinh tế và sử dụng vốn làm động lực tăng trưởng kinh tế. Sự phát triển của thương mại trên cơ sở chuyên môn hóa và phân công lao động cho phép mỗi người, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia khai thác tốt nhất lợi thế về năng lực và tài nguyên của mình, góp phần tăng năng suất lao động và mức sản lượng; đồng thời làm gia tăng nhu cầu trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia. Thông qua phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế, các quốc gia có thể kết hợp sức mạnh của quốc gia với sức mạnh của thời đại, có thể kết hợp khéo léo các yếu tố trong nước với các yếu tố quốc tế, có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và các nguồn lực nước ngoài như: nguồn vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý... Tất nhiên, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, các yếu tố về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí, chế độ chính trị xã hội, chính sách đối ngoại của Nhà nước... mà có chính sách và lộ trình mở cửa thích hợp. Thực tế phát triển kinh tế thế giới cho thấy: xu hướng tăng trưởng thương mại quốc tế phản ánh mức độ mở cửa của các nền kinh tế ngày càng cao, làm cho quan hệ trong lĩnh vực tiền tệ và chính sách vĩ mô giữa các nước càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn. Bên cạnh chu chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, mức độ mở cửa của nền kinh tế còn phụ thuộc vào mức độ mở cửa trong lĩnh vực chu chuyển vốn quốc tế. Một quốc gia mở cửa thị trường tài chính sẽ đem lại cho người cư trú những lợi ích nhất định từ việc thu hút, huy động nguồn vốn rẻ hơn hoặc không thể huy động từ thị trường tài chính nội địa; đồng thời cho phép các nhà đầu tư tài chính tìm kiếm được những cơ hội sinh lời cao hơn và giảm được rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, khi một nền kinh tế đã liên kết với thị trường tài chính thế giới thì nền kinh tế đó cũng luôn phải đứng trước thách thức về những biến động của thị trường quốc tế. Trong một thế giới mà ở đó các thị trường liên kết với nhau sẽ làm cho các mức tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỉ giá, tỉ lệ lạm phát... giữa các quốc gia luôn chịu ảnh hưởng lẫn nhau. 6
  7. Có thể nói rằng: các quan hệ tài chính quốc tế như thanh toán và tín dụng quốc tế, chính sách thuế quan, đầu tư và viện trợ quốc tế... nảy sinh như là hệ quả tất yếu của các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và chịu sự chi phối của các quan hệ này. Các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển làm xuất hiện các trung tâm tài chính quốc tế lớn, các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế ra đời, đến lượt mình chúng trở thành những công cụ kinh tế quan trọng thúc đẩy nhanh chóng sự giao lưu văn hoá, khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế giữa các nước, thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển, đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới. Các quan hệ tài chính quốc tế chịu ảnh hưởng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và do các quy luật của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường chi phối, trong đó yếu tố chính trị giữ vai trò quan trọng. Đặc biệt, với những quan hệ kinh tế ở tầm cỡ quốc gia như viện trợ ở cấp chính phủ, vay nợ quốc gia, đầu tư nước ngoài vào hạ tầng cơ sở... chịu sự chi phối và tác động sâu sắc của yếu tố chính trị. Bên cạnh đó yếu tố chính trị còn tác động gián tiếp đến các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Nhà nước như chính sách ngoại thương, thuế quan, đầu tư... Cần phải thừa nhận ràng: không chỉ yếu tố chính trị, các quan hệ kinh tế quốc tế cũng chi phối mạnh mẽ các quan hệ tài chính quốc tế của một nước. Như đã trình bày ở trên các quan hệ tài chính quốc tế là hệ quả trực tiếp của các quan hệ kinh tế quốc tế, đồng thời là một bộ phận hợp thành của quan hệ kinh tế quốc tế của quốc gia đó. Các quan hệ văn hoá giữa các nước cũng tác động đến việc hình thành các quan hệ tài chính. Thực tế đã cho thấy giao lưu văn hoá giữa các nước có thể làm tiền đề cho sự phát triển các quan hệ chính trị và kinh tế giữa các nước và từ đó gián tiếp hoặc trực tiếp làm nảy sinh các quan hệ tài chính quốc tế. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, các quan hệ tài chính quốc tế đã ra đời và phát triển từ những hình thức giản đơn đến phức tạp gắn liền với những điều kiện phát triển khách quan của mỗi nước và đời sống quốc tế. Những hình thức sơ khai của quan hệ tài chính quốc tế như việc bắt cống nạp vàng bạc, đá quý, đất đai... giữa nước này với nước khác đã xuất hiện từ thời kỳ tồn tại hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ. Sự phát triển của thương mại quốc tế đã xuất hiện các quan hệ tài chính khác như: vay nợ, trả nợ giữa các nước, quan hệ thanh toán tiền mua, bán hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia, quan hệ mua bán chịu hàng hoá. Cùng với sự phát triển của 7
  8. nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường, các hình thức mới của quan hệ tài chính quốc tế (TCQT) cũng xuất hiện và phát triển ở mức cao hơn. Xuất khẩu tư bản, đầu tư quốc tế, viện trợ, ủng hộ, biếu tặng... giữa các nước với nhau và giữa các tổ chức tài chính quốc tế với các quốc gia độc lập ngày càng phát triển. Từ sự phân tích ở trên có thể thấy rằng: sự ra đời và phát triển của các quan hệ tài chính quốc tế bắt nguồn từ các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa... giữa các nước và giữa các nước với các tổ chức kinh tế tài chính tiền tệ quốc tế. Các yếu tố đó hợp thành cơ sở khách quan cho sự ra đời và phát triển các quan hệ tài chính quốc tế, trong đó yếu tố kinh tế giữ vai trò quyết định, yếu tố chính trị giữ vai trò quan trọng và đôi khi làm nền tảng cho các quan hệ tài chính quốc tế nói riêng và các quan hệ kinh tế nói chung. Các quan hệ tài chính quốc tế là sự phản ánh các quan hệ hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao... nhưng trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh tế quốc tế. Việc mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế như thế nào và dựa trên những nguyên tắc gì tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và chế độ chính trị của Chính phủ mỗi nước, nhưng yêu cầu cơ bản đặt ra là: vừa phải tuân thủ nguyên tắc phù họp với các thông lệ quốc tế, vừa phải giữ vững, củng cố chế độ chính trị và những giá trị truyền thống của mỗi quốc gia. Hiện nay, với chính sách mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, các quan hệ tài chính quốc tế của Việt Nam cũng ngày càng phát triển phong phú hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn. Tuy nhiên, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào, các quan hệ tài chính quốc tế của Việt Nam đều phải tuân thủ các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền lãnh thổ của nhau, đôi bên cùng có lợi và phục vụ cho chính sách phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia theo từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của đất nước. Trong nền kinh tế hiện đại, những sự kiện của thế giới bên ngoài luôn có ảnh hưởng sâu sắc và tác động trực tiếp đến kết quả thực hiện các chính sách kinh tế - tiền tệ quốc gia. Vì vậy, nghiên cứu tài chính quốc tế là hết sức cần thiết và là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế mở. Điều này giúp các chủ thể của nền kinh tế nhận biết được những sự kiện quốc tế có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng các quyết sách để tận dụng, khai thác những cơ hội; phòng ngừa và né tránh những diễn biến hoặc tình thế bất lợi có thể gây nên những tổn thất. 8
  9. 1.1.2. Khái niệm tài chính quốc tế 1.1.2.1. Các quan niệm về tài chính quốc tế Theo các cách tiếp cận khác nhau, có thể có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về tài chính quốc tế. Đứng trên phạm vi toàn cầu để nhìn nhận thì hoạt động tài chính bao gồm tài chính quốc gia và tài chính quốc tế. Hoạt động tài chính = Tài chính quốc gia + Tài chính quốc tế Vì tài chính quốc gia đã bao gồm các hoạt động tài chính đối nội và đối ngoại của quốc gia đó (Tài chính quốc gia = Tài chính đối nội + Tài chính đối ngoại), nên TCQT chỉ bao gồm các hoạt động quốc tế thuần túy (hoạt động tài chính của các công ty đa quốc gia và các tổ chức tài chính quốc tế). Quan niệm này thường được sử dụng ở các nước phát triển, mức độ mở cửa hội nhập quốc tế cao. Đứng trên phạm vi quốc gia để nhìn nhận về TCQT thì hoạt động tài chính bao gồm hoạt động tài chính đối nội (nội địa quốc gia) và hoạt động tài chính quốc tế. Hoạt động tài chính = Tài chính nội địa quốc gia + TCQT Trong đó: TCQT = Tài chính đối ngoại của quốc gia + TCQT thuần túy Quan niệm này thường được sử dụng ở các quốc gia đang phát triển, mức độ hội nhập quốc tế còn hạn chế. Trong chương trình học phần Tài chính quốc tế, quan niệm về tài chính quốc tế được đề cập theo cách tiếp cận thứ hai. Với cách tiếp cận này TCQT là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động tài chính trên bình diện quốc tế. Chủ thể thực hiện các hoạt động TCQT có thể là Chính phủ, các tổ chức kinh tế xã hội, công dân của một quốc gia, hoặc cũng có thể là các tổ chức kinh tế, tài chính, tiền tệ quốc tế. TCQT thể hiện sự hoạt động của các thị trường tài chính quốc tế và chúng họp thành một lĩnh vực riêng, lĩnh vực TCQT. Tài chính quốc tế là một lĩnh vực hoạt động rất phức tạp, với các hình thức, các chủ thể rất đa dạng và diễn ra trên một phạm vi không gian rộng lớn, liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau trong từng khu vực hoặc trên toàn thế giới. Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế, đó chính là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia, còn trên bề mặt đời sống xã hội của mỗi 9
  10. quốc gia, các quan hệ TCQT dều biểu hiện thành các hoạt động thu chi bằng tiền, các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia. Đến lượt nó, hoạt động thu chi bàng tiền, hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể lại chính là hệ quả tất yếu của các quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực khác nhau về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị... giữa các chủ thể đó với các chủ thể khác bên ngoài quốc gia. 1.1.2.2. Khái niệm Tài chỉnh quốc tế Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế. Đó là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các luồng tài chính giữa các chủ the (Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội, các cá nhân...) của quốc gia này với các chủ thể của quốc gia khác, hoặc với các tổ chức kinh tế, tài chính, tiền tệ quốc tế thông qua quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu và mục đích khác nhau của các chủ thể đó. Nói cách khác, tài chính quốc tế thể hiện sự di chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia hoặc giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế và gắn liền với các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... của các quốc gia. Như vậy, phạm vi nghiên cứu của tài chính quốc tế là rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như: thanh toán, tín dụng, đầu tư, tài trợ, viện trợ... trên bình diện quốc tế. 1.1.3. Đặc điểm của tài chính quốc tế Tài chính quốc tế là một bộ phận trong tổng thể các quan hệ tài chính, vì vậy nó cũng mang những đặc điểm chung của tài chính, đó là: - Tài chính bao gồm các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính, của cải xã hội dưới hình thức giá trị. - Các quan hệ phân phối của tài chính luôn gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế. - Các quan hệ tài chính diễn ra cả trong quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, với tư cách là một bộ phận của hệ thống các quan hệ tài chính, tài chính quốc tế cũng có những đặc điểm riêng, khác biệt so với tài chính nội địa, đó là: có phạm vi rộng, chịu rủi ro 10
  11. về hối đoái và chính trị, hoạt động trong điều kiện không hoàn hảo của thị trường nhưng môi trường hoạt động mở ra nhiều cơ hội hơn... - TCQT có phạm vi rộng, vượt khỏi khuôn khổ một quốc gia, chịu tác động của các chính sách, luật lệ, môi trường quốc gia và quốc tế Khác với tài chính nội địa, sự vận động của các nguồn tài chính chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia, TCQT bao gồm các quan hệ tài chính vượt khỏi khuôn khổ một quốc gia. Vì vậy, các quan hệ tài chính quốc tế không những chịu sự chi phối bởi chính sách của quốc gia trong đó chúng đang hoạt động, đặc biệt là các chính sách quan hệ quốc tế mà còn bị chi phối trực tiếp bởi các chính sách, luật lệ, môi trường của các quốc gia khác và các quy định mang tính quốc tế. Do vậy, để tổ chức hợp lí và nâng cao hiệu quả hoạt động TCQT, các chủ thể thực hiện các giao dịch tài chính quốc tế không những phải nắm vững các chính sách của quốc gia mình trong quan hệ quốc tế mà còn phải thông hiểu chính sách của quốc gia khác và các tổ chức quốc tế mà mình có quan hệ. Cũng chính vì lẽ đó rủi ro trong hoạt động tài chính cũng đa dạng và phức tạp hơn. Xuất phát từ môi trường chính trị và pháp luật đa dạng, hoạt động tài chính quốc tế có thể phải đối mặt với những thay đổi ngoài dự kiến như các quy định về thuế quan, về hạn ngạch, về chế độ quản lí ngoại hối, về chính sách trưng thu hay tịch biên tài sản trong nước do người nước ngoài nắm giữ. Thậm chí các chủ thể thực hiện các giao dịch TCQT còn có thể phải đối mặt với những biến động về chính trị xã hội của các quốc gia như thay đổi thể chế, chiến tranh, xung đột sắc tộc... dẫn đến những thiệt hại đáng kể khó có thể chống đỡ. - Các giao dịch tài chính quốc tế được thực hiện thông.qua nhiều loại tiền khác nhau, chịu tác động bởi sự thay đối của tỉ giá hối đoái Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình với sức mua khác nhau. Vì vậy, để tiến hành thanh toán các giao dịch quốc tế, phải xác định được tỉ giá giữa các đồng tiền. Trong điều kiện phát triển kinh tế ngày nay, do tác động của nhiều yếu tố, sức mua của mỗi đồng tiền cũng như tì giá giữa chúng không cố định mà luôn thay đổi. Sự biến động đột ngột của tỉ giá có ảnh hưởng lớn đến các khoản thu chi tiền tệ, đến lợi ích của các chủ thể tham gia các giao dịch quốc tế, đặc biệt là các giao dịch ngoại thương và đầu tư quốc tế. Do đó, các vấn đề về cơ chế xác lập tỉ giá giữa các đồng tiền, những nhân tố ảnh hưởng đến tỉ giá và sự tác động ngược trở lại của tỉ giá đến cán cân xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, dịch vụ, cán cân vốn... cần phải đặc biệt quan tâm chú ý, làm cơ sở cho việc 11
  12. hoạch định các chính sách tài chính có liên quan và ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro do sự biến động tỉ giá gây nên. - Tài chính quổc tế hoạt động trong một môi trường không hoàn hảo Mặc dù nền kinh tế quốc tế ngày nay đã mang tính thống nhất rõ nét hơn nhiều so với cách đây chừng 15 hoặc 20 năm, song vẫn có những hàng rào đa dạng được dựng lên để ngăn chặn các dòng lưu chuyển tự do của nhân lực, hàng hóa, dịch vụ và vốn giữa các quốc gia. Những rào chắn này có thể là những luật lệ hạn chế, hay chính sách phân biệt đối xử... Do vậy mà thị trường thế giới vẫn chưa được thông thoáng hoàn hảo. Sự thiếu hoàn hảo này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự ra đời và mở rộng mạng lưới hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia, sự thay đổi về chính sách huy động và sử dụng các nguồn vốn trong phát triển kinh doanh, về các biện pháp chuyển giá trong kinh doanh quốc tế. Sự hiểu biết đầy đủ và chính xác về môi trường không hoàn hảo là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và nâng cao hiệu quả các hoạt động TCQT. - Khung cảnh môi trường rộng lớn mở ra cơ hội và xu hướng phát triển mới Tính chất “quốc tế” là nét đặc trưng và là xu hướng tất yếu đã và đang diễn ra của nền kinh tế quốc tế hiện đại có tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực tài chính quốc tế. Đó là sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các công ty đa quốc gia, của các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế, của thị trường vốn quốc tế... Xu hướng này đã làm xuất hiện nhiều công cụ và hình thức tài chính mới, góp phần đẩy mạnh sự vận hành của các quan hệ tài chính quốc tế, từ đó mở ra nhiều cơ hội thuận lợi, tạo điều kiện cho lĩnh vực tài chính quốc tế phát triển cả về bề sâu và bề rộng. Để khai thác được các cơ hội theo xu thế phát triển của nền kinh tế, các chủ thể tham gia các giao dịch tài chính quốc tế phải quan tâm và am hiểu nhiều hơn về những vấn đề mà tài chính nội địa ít phải quan tâm như: những cơ chế tín dụng và đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế, các biện pháp quản lí và sử dụng, các công cụ ngăn ngừa phòng chống rủi ro hối đoái, rủi ro quốc gia... 1.1.4. Vai trò của TCQT Quan hệ tài chính quốc tế của một quốc gia là bộ phận quan trọng trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia đó. Các quan hệ này được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ để tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ 12
  13. nhất định ở các chủ thể kinh tế - xã hội, đồng thời chúng phản ánh một cách tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính bên ngoài quốc gia nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế - xã hội. Chính sự vận động đó đã đem lại những lợi ích to lớn cho mỗi chủ thể, từng quốc gia và cả cộng đồng. Có thể khái quát vai trò của tài chính quốc tế đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên một số khía cạnh cơ bản sau: • Khai thác các nguồn lực ngoài nước để phát triển kinh tế - xã hội Trong điều kiện nền kinh tế mang tính quốc tế hóa cao, không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được mọi vấn đề nếu không mở rộng giao lưu với các nước khác. Điều đó lại càng cần thiết và quan trọng hơn đối với các quốc gia nghèo, chậm phát triển với cơ sở vật chất kĩ thuật, khoa học công nghệ còn thấp kém, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân còn hạn hẹp. Như đã nêu trên, hoạt động TCQT thể hiện thông qua sự di chuyển các nguồn lực tài chính từ quốc gia này sang quốc gia khác. Điều đó cũng có nghĩa là, thông qua các giao dịch tài chính quốc tế, các nguồn tài chính được phân phối lại trên phạm vi rộng lớn hơn - phạm vi thế giới. Sự phân phối lại đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới sự phát triển của từng quốc gia cũng như của cả cộng đồng. Do vậy, vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia và cả cộng đồng là tổ chức các hoạt động tài chính quốc tế sao cho các nguồn tài chính được vận động đúng hướng và có lợi nhất. Đối với mỗi quốc gia, điều đó phải được cân nhắc trên cả khía cạnh sử dụng các nguồn lực trong nước tham gia vào các hoạt động quốc tế, trên cả khía cạnh khai thác sử dụng nguồn lực ngoài nước vào phát triển kinh tế quốc gia. Đối với các quốc gia nghèo và chậm phát triển, vấn đề tranh thủ các nguồn lực nước ngoài thường rất được coi trọng. Bằng việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế như: vay nợ, viện trợ, đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế... các quốc gia có thể khai thác tốt hơn các nguồn lực từ các quốc gia khác và các tổ chức tài chính quốc tế. Cũng thông qua quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực tài chính này, các quốc gia còn có thể tranh thủ được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, giải quyết được các vấn đề về thị trường và lao động... Thực tế phát triển kinh tế của nhiều quốc gia cho thấy, mặc dù nguồn lực trong nước luôn là yếu tố giữ vị trí quyết định, nhưng không thể phủ 13
  14. nhận vai trò quan trọng của các nguồn lực ngoài nước trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng “đi tắt, đón đầu” của các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. • Thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Mờ cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, mở rộng giao lưu kinh tế, khoa học kĩ thuật với nước ngoài, gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế, hòa nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới là xu hướng hợp với thời đại, là phưong sách khôn ngoan để có thể khéo léo kết hợp các yếu tố trong nước với các yếu tố nước ngoài, vừa phát huy những lợi thế của các nguồn lực trong nước, vừa khai thác có hiệu quả các nguồn lực nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của mồi quốc gia. Với việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế như: vay nợ, viện trợ, đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế; mở rộng các dịch vụ thanh toán, hối đoái, bảo hiểm, thương mại quốc tế... TCQT góp phần thúc đẩy và mở rộng các hoạt động kinh tế quốc tế, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. • Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính Nhờ có sự mở rộng và phát triển của TCQT, các chủ thể của nền kinh tế - dù với vai trò vị trí là nhà đầu tư hay người cần vốn thì họ vẫn sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn so với trường hợp quốc gia đó phát triển nền kinh tế theo cơ chế đóng cửa với thế giới bên ngoài (chỉ có tài chính nội địa). Trong bối cảnh như vậy, quyết định cuối cùng cho sự lựa chọn là đầu tư vào đâu, vào thị trường nào, đầu tư theo hình thức nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; huy động vốn từ thị trường nào, theo hình thức nào... để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn cũng như các điều kiện sử dụng vốn là thuận tiện hơn cả. Như vậy, nhờ sự phát triển của TCQT, các nguồn tài chính có khả năng lưu chuyển dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi hơn giữa các quốc gia, tạo điều kiện cho mỗi chủ thể của các quốc gia có cơ hội giải quyết các quan hệ về cung cầu vốn tiền tệ và nâng cao hiệu quả các nguồn lực tài chính được đưa vào sử dụng. 14
  15. 1.2. CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀ CÁC GIAO DỊCH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 1.2.1. Các chủ thể tham gia hoạt động TCQT Tham gia hoạt động TCQT có nhiều chù thể khác nhau: Chính phủ, các tổ chức kinh tế tài chính tín dụng quốc tế, các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức chính trị - xã hội... Sau đây là một số chủ thể chính: • Nhà nước Trong đời sống kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia được coi là một đơn vị kinh tế - độc lập, tự chủ trong nền kinh tế thế giới. Vì vậy, chủ thể lớn nhất tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính bên ngoài quốc gia trước hết là Nhà nước của quốc gia đó. Nhà nước tiến hành phân phối các nguồn tài chính bên ngoài để tạo lập quỹ tiền tệ cho mình và sử dụng nó để thực hiện các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đối nội và đối ngoại của quốc gia. Nhà nước tham gia hoạt động TCQT với các nội dung chủ yếu là: - Viện trợ quốc tế khóng hoàn lại Trong hoạt động này Nhà nước có thể là người nhận viện trợ từ các chính phủ của các quốc gia khác, từ các tổ chức quốc tế, hoặc có thể là người cấp viện trợ cho các nhà nước khác. Các khoản viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện trong các điều kiện đất nước gặp phải khó khăn đột xuất như: thiên tai, địch họa và cho các mục tiêu khác, trong đó chủ yếu là các mục tiêu xã hội (giáo dục, y tế, phòng chống dịch bệnh, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phòng chống các tệ nạn xã hội...). Viện trợ không hoàn lại thường chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng tài trợ quốc tế cho Chính phủ. - Tín dụng nhà nước quốc tế Trong quan hệ tín dụng quốc tế, nhà nước có thể là người đi vay hoặc người cho vay. Nhà nước mà trực tiếp là các cơ quan chức năng của Nhà nước như Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính tham gia các cuộc đàm phán để vay hoặc cho vay dưới nhiều hình thức (tín dụng thương mại, tín dụng ưu đãi, phát hành trái phiếu quốc tế...). Vay thương mại quốc tế của Chính phủ là các khoản vay nước ngoài của Chính phủ theo các điều kiện của thị trường, không có ưu đãi gì. Người 15
  16. cho Chính phủ vay nhàm mục tiêu kiếm lời. Các khoản vay này được thực hiện phổ biến dưới dạng vay các ngân hàng thương mại nước ngoài, vay các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế phần nhiều hơn mức vay được ưu đãi. Việc phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài đứng về một góc độ nào đó cũng tương tự như Chính phủ phát hành trái phiếu trong nước. Tuy nhiên có một số điểm khác biệt: + Người mua trái phiếu chính phủ là các tổ chức, cá nhân nước ngoài nên chính phủ phải trả lãi ra ngoài phạm vi quốc gia. Bù lại chính phủ có được khoản vay bằng ngoại tệ, điều này sẽ tốt hơn đối với các quốc gia đang khan hiếm ngoại tệ. + Quy mô khoản vay thường lớn hơn nhiều so với vay trong nước, tạo điều kiện thực hiện các dự án đầu tư đòi hỏi lượng vốn cao. Vay ưu đãi của Chính phủ là các khoản Chính phủ vay nước ngoài được hưởng các điều kiện ưu đãi như: lãi suất thấp, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ dài, ưu đãi về điều kiện vay. Tuy nhiên, ngoài những ưu đãi, người cho vay thường đặt ra các ràng buộc kèm theo: chỉ được sử dụng vốn cho các mục tiêu theo quy định của Hiệp định vay vốn, chấp nhận chỉ định thầu xây lắp, chuyên gia, chỉ định thầu thiết bị, chỉ định địa chỉ mua hàng hóa, nguyên vật liệu, thậm chí còn có thể bao gồm các điều kiện về kinh tế, chính trị quân sự khác... - Thu thuế quan đổi với hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới quốc gia... Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế và chính sách của mỗi quốc gia, các giao dịch thuế quan phải tuân thủ các tập quán, thông lệ quốc tế, các liên minh thuế quan và nhằm thực hiện các mục tiêu khác nhau như mục đích ngân khố, mục tiêu bảo hộ sản xuất kinh doanh trong nước, mục tiêu trừng phạt... Ớ Việt Nam, các giao dịch thuế quan đã hình thành ngay trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ. Tuy nhiên do hoạt động ngoại thương thời kì đó chưa phát triển, nên thuế quan mới áp dụng trong một phạm vi giới hạn và chưa có Luật điều chỉnh. Đen năm 1992, Luật Thuế quan được ban hành với tên gọi “Luật thuế xuất nhập khẩu”. Từ đó đến nay, luật thuế này đã được sửa đổi nhiều lần để phù họp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước. Luật Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam ra đời đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường quản lí nhà nước về các hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế dối ngoại, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu; góp 16
  17. phần phát triển và bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước; tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước... • Các định chế tài chính quốc tế Các định chế tài chính quốc tế là các hình thức tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế do các nước cùng quan tâm tổ chức ra trên cơ sở các Hiệp định được kí kết trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, tín dụng. Có nhiều tổ chức tài chính quốc tế. Theo phạm vi hoạt động có thể chia thành: các tổ chức tài chính quốc tế toàn cầu và tổ chức tài chính quốc tế khu vực. Một số tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế toàn cầu tiêu biểu là: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS). Những tổ chức này có đặc trưng chung là có nguồn vốn do các nước trên thế giới góp hoặc huy động vốn trên thị trường thế giới và cung ứng các dịch vụ tài chính cho các nước trên thế giới. Các tổ chức tài chính quốc tế khu vực gồm các ngân hàng và quỹ tiền tệ khu vực như: Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng đầu tư châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Quỹ tiền tệ Ả rập... Chức năng chủ yếu của các tổ chức này là phối hợp hoạt động của các nước thành viên trên lĩnh vực tài chính - tiền tệ - tín dụng. Đồng thời các tổ chức này cũng sử dụng các nguồn vốn chung của quỳ để tài trợ cho các nước thành viên và các nước đang phát triển, chủ yếu dưới hình thức cho vay. Sự ra đời và phát triển của các tổ chức tài chính quốc tế có vai trò quan trọng trong việc phối hợp chính sách tiền tệ của các nước thành viên nhàm tạo ra sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc gia và hệ thống tiền tệ quốc tế; tài trợ cho các nước thành viên đang phát triển nhất là các nước nghèo, kém phát triển; hỗ trợ các nước thành viên đang phát triển bồi dưỡng và nâng cao kiến thức, khả năng quản lí kinh tế tài chính, qua đó góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng thế giới. • Các tổ chức tài chính tín dụng quốc gia Các tổ chức tài chính tín dụng như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán... tham gia hoạt động tài chính quốc tế với các nội dung chủ yếu sau: - Tín dụng quốc tế: các ngân hàng thương mại tham gia các quan hệ này với tư cách là người cho vay hoặc đi vay, trong đó cho vay chiếm tỉ trọng chi phối. 17
  18. - Đầu tư quốc tế: các tổ chức tài chính tín dụng có thể thực hiện đầu tư quốc tế dưới hình thức liên doanh, liên kết hoặc đầu tư mua bán chứng khoán trên thị trường quốc tế. - Mua bán ngoại hối theo yêu cầu của khách hàng, hoặc mua bán cho chính mình để ổn định trạng thái ngoại hối, để phòng ngừa rủi ro hối đoái và để đầu cơ thông qua các nghiệp vụ giao ngay (spot), kì hạn (forward), tương lai (íuture), quyền chọn (option), hoán đổi (swap), acbit (acbitrage)... - Cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và thu hoặc trả phí dịch vụ như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ ủy thác, dịch vụ bảo lãnh, môi giới, tư vấn, bảo hiểm... • Các chủ thê khác Tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính bên ngoài không chỉ có Nhà nước, các định chế tài chính quốc tế, các tổ chức tài chính tín dụng mà còn phải kể đến tất cả các chủ thể khác trong xã hội như: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức xã hội... Tùy thuộc vào từng chủ thể, các quỹ tiền tệ được tạo lập và sử dụng theo mục đích tích luỹ, sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của nó. Các giao dịch tài chính quốc tế của các chủ thể này được thể hiện chủ yếu dưới các hình thức như: thanh toán quốc tế, đầu tư trực tiếp và gián tiếp quốc tế, viện trợ, kiều hối... 1.2.2. Các giao dịch TCQT Có nhiều hình thức giao dịch TCQT. Theo số lượng chủ thể tham gia giao dịch, người ta thường chia các giao dịch tài chính quốc tế thành 3 loại: giao dịch TCQT không có đối tác, giao dịch TCQT 2 đối tác và giao dịch TCQT nhiều đối tác. Giao dịch TCQT không có đối tác (còn được gọi là giao dịch nội bộ hay điều động tài chính nội bộ - Unilateral): hình thức này dược thực hiện trong một mạng lưới của mỗi công ty đa quốc gia, hoặc xuyên quốc gia. Nguồn tài chính từ công ty mẹ ở nước này, thông qua hệ thống liên ngân hàng quốc tế, được chuyển đến cho công ty con, các đại lí ở nước khác để hoạt động và ngược lại. Đặc trưng quan trọng là tuy những giao dịch trên tạo ra thay đổi ở cán cân thanh toán mỗi nước, nhưng lại không phải là những giao dịch tạo ra lợi nhuận mà chỉ làm thay đổi tài sản nợ, có hoặc vốn cổ phần giữa các công ty con và công ty mẹ trong một tập đoàn. 18
  19. Giao dịch tài chính hai đối tác (còn được gọi là giao dịch song phương - Bilaterals): bao hàm những giao dịch vay nợ, thanh toán, bảo lãnh, kí gửi, mua bán công cụ tài chính... giữa hai chủ thể trên thị trường tài chính quốc tế. Những giao dịch này, ngày nay đều thực hiện qua hệ thống liên ngân hàng quốc tế. Giao dịch tài chính nhiều đối tác: là hình thức giao dịch đa phương (Multilaterals). Nguồn tài chính từ một bên có thể chuyển cho nhiều bên, hoặc từ một đơn vị có thể chuyển qua rất nhiều dơn vị kinh doanh cấp trung gian trước khi đến đơn vị thu nhận cuối cùng. Thông qua mạng lưới thanh toán liên ngân hàng và các thị trường tài chính quốc tế, những giao dịch tài chính đa phương chiếm đa số trong các giao dịch tài chính và tạo nên các thị trường tài chính quốc tế. Ở đó lợi nhuận và rủi ro, kể cả trách nhiệm quản trị đầu tư được chia nhỏ ra cho nhiều chủ thể tham gia. Hệ quả cuối cùng là làm tăng năng suất hoạt động và hiệu quả tài chính. Theo mục tiêu và cách thức di chuyển, các giao dịch TCQT bao gồm: Thanh toán quốc tế và mua bán ngoại hối, đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế và chuyển giao quốc tế một chiều... Sau đây là một số giao dịch TCQT chủ yếu: 1.2.2.1. Thanh toán quốc tế và mua bán ngoại hối Thanh toán quốc té là một loại hình giao dịch tài chính quốc tế diễn ra khá phổ biến và thường xuyên để hoàn tất các giao dịch kinh tế quốc tế (mua bán hàng hóa, dịch vụ); hoặc thanh toán trong lĩnh vực phi mậu dịch (các quan hệ văn hóa, ngoại giao, quân sự...) giữa các quốc gia. Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ và với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay, hoạt động thanh toán quốc tế chủ yếu được thực hiện dưới hình thức thanh toán chuyển khoản thông qua các phương tiện thanh toán quốc tế như: thẻ thanh toán, hối phiếu, scc, điện chuyển tiền...; các phương thức thanh toán như: chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ... Việc thanh toán giữa các nước có thể được thực hiện theo các Hiệp định thông thường, hoặc Hiệp định thanh toán Clearing song biên, đa biên. Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của quá trình thực hiện một giao dịch kinh tế quốc tế. Vì thế, tổ chức tốt hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ góp phần quan trọng vào việc tạo dựng, duy trì, phát triển các quan hệ họp tác, các giao dịch kinh tế quốc tế mà còn góp phần đảm bảo khả năng thanh toán, giảm thiểu chi phí thanh toán, nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể tham gia. 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2