intTypePromotion=1

Giời thiệu một số phương pháp nghiên cứu y học: Phần 2

Chia sẻ: Codon_09 Codon_09 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:61

0
66
lượt xem
16
download

Giời thiệu một số phương pháp nghiên cứu y học: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp phần 1 cuốn tài liệu Phương pháp nghiên cứu y học mời các bạn cùng tìm hiểu phần 2 là những nội dung chính xoay quanh vấn đề những nguyên tắc chung khi viết một tóm tắt; chọn tài liệu tham khảo; việc chuẩn bị bản thảo và việc sửa lỗi;...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giời thiệu một số phương pháp nghiên cứu y học: Phần 2

  1. "Đã được chấp nhận rằng..." "Có sự nhất trí để nghĩ rằng..." 7) Sử dụng các cách diễn đạt có tính cảm xúc: Kết quả "làm thất vọng", "gây tò mò", "ngạc nhiên"... "Thật thú vị nhận thấy rằng..." "Phải nói...thật quan trọng" Sự cẩn thận Chương Bàn luận vượt quá 1/2 độ dài của toàn bài báo là quá dài và có lẽ đã được viết không tốt. TÀI LIệU THAM KHảO 1. International Committee of Medical Journal Editors. Uniform requirements for manuscrips submitted to biomedical journals. N Engl J Med 1997;336:309-15 (traduction fran†aise, voir p.149). 2. Muray GD.The task of statistical referee. Br J Surg 1988;75:664-7. 3. Farfor JA. Enseigner la rédaction médicale.Chapitre III. Le style. Cah Med 1977;1- 2:1053-9. 4. Farfor JA.Cours élémentaire de rédaction médicale. Chapitre XI. La discussion. Cah Med 1977;3:79-81. 5. Revillard JP.Pour un enseignement de l'expression médicale et scientifique. La rédaction d'un article. Lyon Medical 197 Chương 11 TÓM TắT Phần tóm tắt phải trình bày ở dạng thu gọn để cho độc giả thấy nội dung chính của những thông tin trong bài báo. Phần tóm tắt là phần được đọc nhiều nhất của bài báo, nhất là từ khi tóm tắt có thể được dễ dàng tìm thấy do đưa vào hệ thống tin học. Người đọc sau khi đọc tên bài báo, tên tác giả sẽ đọc tóm tắt trước khi quyết định có đọc toàn bài báo không (1). Đọc một bài tóm tắt viết tốt là đủ để thu được hiểu biết về những kết quả chủ yếu của bài báo. Phải biết rằng "mỗi phút hay mỗi giờ qua đi để viết tóm tắt sẽ làm tác giả hài lòng vì nó sẽ làm bài báo của mình được đọc nhiều hơn" (2). Bản tóm tắt có thể được in lại ở nhiều tài liệu cùng với tên bài mà không phải toàn bài. Vì lẽ đó, phần tóm tắt tự bản thân nó phải hiểu được nghĩa là đứng độc lập với bài báo. NHữNG NGUYÊN TắC CHUNG KHI VIếT MộT TÓM TắT Tóm tắt một báo cáo kết quả nghiên cứu phải có tính thông tin. Việc xây dựng tóm tắt phải tuân theo cấu trúc IMRAD (3). Nó đáp ứng bốn yêu cầu cơ bản của bài báo: tại sao công trình được thực hiện, công trình đã được thực hiện như thế nào? đã tìm thấy cái gì? đã rút ra được kết luận hay khái quát gì? Lời đáp cho mỗi yêu cầu này phải gói gọn trong một hay hai câu. Câu đầu tiên của phần tóm tắt trình bày ý tưởng chủ yếu của phần Đặt vấn đề. Câu này không được nhắc lại tên bài báo. Câu thứ hai trình bày ngắn gọn phương pháp nghiên cứu. Kết quả cụ thể với các số liệu cũng như kết quả của các phép tính thống kê được trình bày trong vài câu cùng câu kết chứa kết luận của bài báo. Một cách hợp lý là chỉ nên sử dụng thì quá khứ cho ba đoạn đầu của tóm tắt. Chỉ dùng thì hiện tại cho kết luận hay giả thiết. Bản tóm tắt này khác hoàn toàn với dạng tóm tắt chỉ dẫn của các tạp chí thông thường, nó chỉ đưa cho độc giả nội
  2. dung sơ lược của bài báo và sơ đồ theo dõi. Kiểu tóm tắt chỉ dẫn không thể thay cho việc đọc bài báo ngược với dạng tóm tắt thông tin. Phần tóm tắt không được chứa các thông tin đòi hỏi tài liệu tham khảo, các bảng biểu, chú thích hay thậm chí cả chữ viết tắt khi chúng chỉ được giải thích trong bài báo. Một phương pháp để thực hiện tốt phần tóm tắt thông tin của một bài báo đăng kết quả nghiên cứu là ngay khi soạn thảo dàn bài viết tên các chương: Đặt vấn đề, Tư liệu và phương pháp nghiên cứu, Kết quả, Bàn luận. Mỗi tên chương kèm theo một hay hai câu, đối với chương Kết quả có thể nhiều hơn một chút. Khi đã soạn xong tóm tắt, các tên chương được xoá đi khi viết chính thức. Càng ngày càng nhiều tạp chí yêu cầu tác giả giữ lại tên các chương này, chúng được đặt tên là "Background, Methods, Results, Conclusions". Một số tạp chí thậm chí còn đòi hỏi các tóm tắt có cấu trúc chặt chẽ hơn. Độ DÀI CủA PHầN TÓM TắT Đôi khi trong phần hướng dẫn cho tác giả của tạp chí chỉ rõ độ dài của tóm tắt. Trong hệ thống Vancouvers, yêu cầu tối đa là 150 từ tương đương 15 dòng đánh máy. Với những tóm tắt được gọi là "cấu trúc", hệ thống Vancouves yêu cầu 250 từ. Nhiều tạp chí chấp nhận 250 đến 300 từ, vào khoảng 1 trang đánh máy cách dòng. Các tạp chí Pháp yêu cầu cung cấp một bản tóm tắt tiếng Pháp để in trực tiếp trong tạp chí và một tóm tắt dài hơn để dịch sang tiếng Anh. Phải tôn trọng văn phong tóm tắt của tạp chí. NHữNG SAI LầM ở PHầN TÓM TắT Lỗi nặng nhất là làm tóm tắt chỉ dẫn. Một lỗi khác là đưa ra các kết quả không có trong bài báo. Nó xảy ra khi tác giả viết tóm tắt mà không tham khảo bài báo. Ví dụ như: khi tóm tắt viết hàng vài tháng sau khi viết bài báo. Việc trình bày kết quả phải giống hoàn toàn kết quả trong bài, kể cả trong cách thể hiện: chẳng hạn, thật không hợp lý khi trình bày kết quả trong phần tóm tắt ở dạng phần trăm trong khi trong bài ở dạng số tuyệt đối và ngược lại. Không nên sử dụng chữ viết tắt trong phần tóm tắt, trừ khi chữ viết tắt đó được sử dụng ít nhất từ ba đến bốn lần. Phải giải thích chữ viết tắt ở lần sử dụng đầu tiên trong tóm tắt ngay cả khi ý nghĩa của nó có vẻ đương nhiên và đã được giải thích trong phần nội dung bài. Một tóm tắt có tính chỉ dẫn một phần trong một báo cáo kết quả nghiên cứu là một lỗi hay gặp làm cho người đọc không thu nhận được ý chính của nội dung bài báo. Những câu kiểu như "Các tác giả phân tích các kết quả của.., Nhân hai trường hợp, Một tạp chí trong y văn đã trình bày..., Một sơ đồ điều trị đã được đề nghị, các tác giả đề nghị một chiến lược mới trong chẩn đoán của..." không chứa bất cứ thông tin nào và thể bị động dùng là vô ích. Một sai lầm khác là đưa ra kết quả của các tác giả khác. Chất lượng của 33 tóm tắt trong các báo cáo khoa học, đăng năm 1989 ở tạp chí Canadian Medical Association Journal đã được đánh giá dựa trên 32 tiêu chuẩn (4). Phần lớn các tóm tắt này đưa ra thông tin quá sơ lược để người đọc có thể hiểu rõ bài báo. NHữNG DạNG TÓM TắT MANG THÔNG TIN KHÁC Tóm tắt cấu trúc của các nghiên cứu lâm sàng Một cấu trúc mới của tóm tắt (5,6) ngày càng hay được sử dụng cho các bài báo khoa học (mà
  3. không chỉ riêng cho việc thử thuốc). Mỗi tóm tắt này chứa 8 đoạn, mỗi đoạn có một đầu đề (7). 1) Mục đích nghiên cứu: phải trình bày những mục đích chính, và chỉ đưa ra những mục đích phụ quan trọng. Nếu một giả thuyết được ưu tiên đưa ra thử, nó phải được trình bày rõ ràng. 2) Trình tự, phương pháp nghiên cứu: đoạn này chứa đựng những yếu tố của phương pháp học trong nghiên cứu lâm sàng. Cần phải phân biệt các nghiên cứu điều trị (thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm chứng, mù kép so sánh với thuốc giả dược), các nghiên cứu về các xét nghiệm chẩn đoán (chỉ tiêu chuẩn, so sánh mù), các nghiên cứu tiên lượng (nghiên cứu quần thể), các mô tả tập hợp các trường hợp hay thống kê, các nghiên cứu có đánh giá về kinh tế (phân tích liên quan giá-hiệu quả). 3) Nơi nghiên cứu: người đọc phải biết liệu công trình có thể áp dụng được trong thực tế hàng ngày không? 4) Chọn thành phần tham gia: đó là người tình nguyện hay bệnh nhân, chọn có liên tục hay không? tiêu chuẩn tham gia là gì? 5) Phương pháp điều trị: các đặc điểm chính của cách điều trị (thời gian, phương pháp, liều lượng) được trình bày. 6) Các yếu tố đánh giá chính: trình bày các phương pháp phân tích lựa chọn trước khi thu thập số liệu. Nếu giả thuyết phân tích được thêm vào trong hay sau khi thu thập số liệu, điều này phải trình bày rõ ràng. 7) Kết quả: trình bày ở dạng viết (không dưới dạng bảng) các kết quả chính với khoảng tin cậy và ý nghĩa thống kê. 8) Kết luận: chỉ những kết luận không quá tham vọng mới được trình bày cùng áp dụng lâm sàng của nó, tránh những lập luận trừu tượng hay khái quát hoá quá nhanh chóng. Dạng văn kiểu điện tín, không có động từ được một số tạp chí chấp nhận cho kiểu tóm tắt này. Tạp chí Annals of Internal Medicine (5,6) đã áp dụng phương pháp này và sau đó có nhiều tạp chí khác như British Medical Journal (8), Gut (9), Chest (10) và rất nhiều tạp chí khác cũng sử dụng. Trong thực tế, việc trình bày tóm tắt dạng cấu trúc khác nhau tuỳ theo từng tạp chí. Một số tạp chí chỉ đơn giản yêu cầu trình bày theo cấu trúc IMRAD có phát triển một chút: hiểu biết về chủ đề, mục đích của nghiên cứu, phương pháp, kết quả, kết luận; đó là trường hợp của các tạp chí American Journal of Medicine, New England Journal of Medicine, Lancet; với một thông báo lâm sàng thì có Đặt vấn đề, Bệnh án, Bình luận (11). Tóm tắt cấu trúc của các tạp chí y học đại cương. Tóm tắt cấu trúc dạng này có 6 phần (7): 1) Mục đích nghiên cứu: trình bày mục đích chủ yếu trong khi xác định chủ đề mà nó đề cập. 2) Nguồn gốc số liệu sử dụng để thực hiện công trình: tư liệu lưu trữ, tên của cơ sở, các chuyên gia, các bản ghi chép, các phụ lục được tham khảo, chỉ ra các từ khoá và công trình được thực hiện ở giai đoạn nào. 3) Chọn lựa nghiên cứu: tóm tắt chỉ rõ các tiêu chuẩn chọn các cá thể để phân tích (quần thể đặc biệt, thủ thuật, tiêu chuẩn đánh giá, phương pháp). Trình bày các phương pháp để áp dụng các tiêu chuẩn (phương pháp mù, tổng hợp, giám định). 4) Lấy số liệu: phương pháp cho phép đảm bảo giá trị và chất lượng của các số liệu được mô tả. 5) Tổng hợp các kết quả: các kết quả chính định tính hay định lượng được trình bày, với khoảng tin cậy và mức độ ý nghĩa thống kê. Các biến số xác định giữa các nguồn gốc khác nhau của số liệu phải được trình bày. 6) Kết luận: trình bày cùng với các áp dụng của nó, không khái quát hoá ngoài lĩnh vực của tạp chí. Xác định việc cần thiết thực hiện các nghiên cứu mới. Tóm tắt cho hội nghị khoa học Tóm tắt để trình bày trước Hội nghị khoa học là dạng tóm tắt thông tin gần với dạng tóm tắt
  4. của báo đăng kết quả nghiên cứu với một số điểm đặc biệt (12). Tốt nhất là nên ưu tiên cho trình bày các kết quả mà giảm bớt phần bàn luận. Có thể trích dẫn một hay hai tài liệu tham khảo. Sự trình bày các tóm tắt này thường bị giới hạn trong khuôn khổ một khung. Mục đích của khung này là cho phép in lại trực tiếp trong tập tóm tắt. Khung thường màu xanh da trời, không xuất hiện khi in: không được vẽ lại khung. Do mục đích để in lại, bản trình bày tóm tắt cho Hội nghị phải hoàn hảo. Các chỉ dẫn đặc biệt phải được tôn trọng. Ví dụ dạng chữ in, số lượng khoảng cách hay dấu hiệu và chỗ đăng cho tên bài, tên tác giả. CÁC TÓM TắT CHỉ DẫN Các tóm tắt của các tạp chí y học đại cương và các bài giảng thường ở dạng chỉ dẫn. Một số tạp chí thay tóm tắt dạng này bằng bảng mục lục. Tuy nhiên ngày càng nhiều tạp chí y học đại cương sử dụng dạng tóm tắt thông tin. Các tạp chí y học đại cương này có cấu trúc IMRAD (13). Trong phần tóm tắt, mục đích trước hết của tạp chí đại cương được trình bày. Sau đó chỉ ra phương pháp nghiên cứu của bài báo phân tích, cuối cùng các kết quả của phân tích này được đưa ra với các kết luận mà người ta có thể rút ra và các áp dụng có thể. TÀI LIệU THAM KHảO 1. Department of clinical epidemiology and biostatistics, McMaster university health sciences center.How to read clinical journals: 1. Why to read them and how to start reading them critically. Can Med Assoc J 1981;124:555-8. 2. Pitkin RM.The importance of the abstract. Obstet Gynecol 1987;70:267. 3. International Committee of Medical Journal Editors. Uniform requirements for manuscrips submitted to biomedical journals. N Engl J Med 1997;336:309-15 (traduction fran†aise, voir p.149). 4. Narine L, Yee DS, Einarson TR, Ilersich AL.Quality of abstracts of original research articles in CMAJ in 1989. Can Med Assoc J 1991;144:449-53. 5. Ad hoc working group for critical appraisal of the medical literature.A proposal for more informative abstracts of clinical articles. Ann Intern Med 1987;106:598-604. 6. Huth EJ.Structured abstracts for papers reporting clinical trials. Ann Intern Med 1987;106:626-7. 7.Instructions for preparing structured abstracts. JAMA 1998;279:71-2. 8. Lock S.Structured abstracts. Now required for all papers reporting clinical trials. Br Med J 1988;297:156. 9. Misiewicz JJ. Summaries of papers reporting results of clinical trials. Gut 1988;29:273-4. 10. Soffer A.Abstracts of clinical investigations. A new standardized format. Chest 1987;92:389. 11. Revuz J.Résumés structurés. Résumés informatifs. Ann Dermatol Venereol 1993;120:279- 80. 12. Rozé C.Soumettre un résumé pour une communication scientifique. Ann Pathol 1988;8:166-8. 13. Mulrow CD.The medical review article: state of the science. Ann Intern med 1987;106:485-8. 14. Mulrow CD, Thacker SB, Pugh JA.A proposal for more informative abstracts of review articles. Ann Intern Med 1988;108:613-5. Chương 12 TAI LIệU THAM KHảO Mục đích của tài liệu tham khảo trong một bài báo khoa học là để xác định tất cả những dữ
  5. kiện trình bày. Đó là một nguyên tắc nền tảng của lập luận khoa học. Ví dụ câu sau phải được tiếp nối bằng một tài liệu tham khảo "bệnh giun lươn chiếm vị trí thứ 5 trong số các bệnh giun sán trên thế giới và có khoảng 35 triệu cá thể mắc". Tài liệu tham khảo cho phép người đọc kiểm tra hiện tượng này, và để tìm hiểu sâu hơn các chi tiết nếu muốn biết ví dụ như xem phương pháp nào cho phép rút ra kết luận như vậy. Cũng như vậy, không được dẫn chứng các tác giả trong một bài báo khoa học mà không đưa ra tài liệu tham khảo chỉ rõ công trình của họ. Những lời khẳng định kiểu như “theo y văn, theo hiểu biết của chúng tôi, vào thời điểm hiện nay, theo các tác giả, đã được chấp nhận rằng, phần lớn các tác giả cho rằng..." không thể chấp nhận được trong một bài báo khoa học. Các tài liệu tham khảo có thể đưa người đọc tới những bài báo, các cuốn sách, các chương sách, các bài ghi nhớ, các tài liệu chính thức, các ngân hàng dữ liệu hoặc tất cả các dạng xuất bản có thể dễ dàng tiếp cận khác. Đưa quá nhiều tài liệu tham khảo không có nghĩa là hiểu biết rộng mà thường biểu hiện sự thiếu óc phê phán. Chỉ đưa các tài liệu tham khảo đã được công bố mà mình đã đọc và chọn lựa do ích lợi mà nó mang lại. Kiểm tra tài liệu tham khảo với bài báo (hay bản photocopy) để tránh tất cả các lỗi do sao chép. Trình bày tài liệu tham khảo theo hệ thống quy định bởi tạp chí sẽ gửi bài tới đăng. Vị TRI CủA TAI LIệU THAM KHảO Tài liệu tham khảo cần trích dẫn ngay sau khi dữ kiện được trình bày. Một tài liệu tham khảo có thể được trích dẫn nhiều lần trong một bài báo. Tài liệu tham khảo được trích dẫn trong phần Đặt vấn đề (hiện tượng, sự kiện dẫn tác giả tới việc đặt ra mục đích nghiên cứu của đề tài), trong chương Tư liệu và phương pháp nghiên cứu (liên quan đến các phương pháp đã được mô tả trong một bài báo khác đã đăng), trong chương Bàn luận (cơ sở để tự phê bình các kết quả của mình và so sánh với các kết quả trong y văn). Trong chương Kết quả nghiên cứu không được có tài liệu tham khảo vì ở đó các tác giả trình bày những kết quả của mình thu thập được. Khi bàn luận, các giả thiết nghiên cứu, các lời giải thích được trình bày không có tài liệu tham khảo. Không được có tài liệu tham khảo ở tên bài báo, trừ số rất ít ngoại lệ (1) cũng như trong phần tóm tắt là những tư liệu có thể tham khảo không cần nội dung bài báo. Các tài liệu tham khảo có thể đưa ra với các biểu đồ hay bảng số liệu. Trong bài báo đăng kết quả nghiên cứu, không đưa tài liệu tham khảo trong các đầu đề và phụ đề trong thân bài báo. Trong dạng bài điểm tài liệu, tài liệu tham khảo có thể đưa trong tên các chương và các tên phụ chương. CHọN TAI LIệU THAM KHảO TRONG DANH MụC TAI LIệU Danh sách tài liệu tham khảo đặt ở cuối bài báo phải được phân biệt với danh mục tài liệu. Tài liệu tham khảo chứa danh sách các bài báo đã được sử dụng và trích dẫn trong bài để người đọc có thể tự tham khảo. Tác giả phải chọn và lấy những tài liệu của những nghiên cứu nào có vẻ thích đáng nhất và độc giả dễ tìm thấy nhất. Tác giả tìm tài liệu tham khảo trong danh mục tài liệu liên quan tới chủ đề nghiên cứu. Danh mục tài liệu đó bao gồm toàn bộ các bài báo và sách viết về một chủ đề hay một tác giả cụ thể. Thuật ngữ "tài liệu tham khảo theo danh mục" là không chính xác. Hệ Số ảNH HƯởNG CủA CAC TạP CHI Hệ số ảnh hưởng được lập ra vào những năm 1960 để xếp hạng và đánh giá các tạp chí. Eugène Carfield, người sáng lập "Science Citation Index" đã luôn khẳng định rằng phương tiện này đã được sử dụng sai lầm, giống như các tiêu chuẩn thay thế để đánh giá sự thông thái hay sự thành đạt (2). Hệ số ảnh hưởng đơn thuần chỉ là sự phản ảnh khả năng của tờ báo hay của ban biên tập trong việc thu hút được những bài báo khoa học có chất lượng nhất. Số lần bài báo được tham khảo trong những bài báo khác là yếu tố để tính toán hệ số ảnh
  6. hưởng của tạp chí. Hệ số này càng cao khi bài báo được đăng trong những tạp chí được nhiều người tham khảo. Tuy nhiên, trong cùng một tạp chí, số những bài ít được tham khảo nhất ít hơn 10 lần so với một nửa số bài được tham khảo nhiều nhất (3). Sự tính toán hệ số ảnh hưởng có những chỗ có thể sai. Nó phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của tạp chí. Những tạp chí bao quát một lĩnh vực rộng có hệ số ảnh hưởng cao hơn các tạp chí khác. Năm 1987, tạp chí Annal Review of Biochemistry có hệ số ảnh hưởng là 25 trong khi hệ số ảnh hưởng này là 6 ở tạp chí Annal Review of Microbiology (3). Một số ban giám khảo khi xem xét các công trình của thí sinh có tính tới hệ số ảnh hưởng của tạp chí mà bài của thí sinh đăng ở đó. Điều này rõ ràng là dễ hơn việc đọc chính các bài báo đó nhưng cũng là sự không công bằng nhất. Tất nhiên, rất ít khả năng một công trình đăng trong tạp chí New England Journal of Medicine có chất lượng xoàng, nhưng có thể có những bài có chất lượng cao đăng ở các tạp chí ít nổi tiếng hơn. Khi chỉ gửi đăng các bài có chất lượng hạng hai ở các tạp chí tiếng Pháp chính là làm hại cho các tạp chí đó. Vì những lý do này, theo chúng tôi có lẽ điều nên làm là các tác giả Pháp ngữ nên ưu tiên tham khảo các tài liệu tiếng Pháp khi chúng có lợi ích tương đương hay gần tương đương với các bài tiếng Anh hay các bài tiếng Anh của các tác giả Pháp. Đó là điều mà người Nhật hiểu rất rõ khi họ ưu tiên chọn tham khảo tài liệu các bài tiếng Nhật. Theo trình tự suy nghĩ như vậy, chúng ta có thể thấy rằng các tạp chí Bắc Mỹ rất hiếm khi tham khảo các bài báo đăng trong tạp chí Anh. CHấT LƯợNG CủA TAI LIệU Bản danh sách tài liệu tham khảo bao gồm tất cả những tài liệu đã dẫn trong nội dung bài báo và chỉ những tài liệu đó mà thôi. Rất nhiều tạp chí giới hạn số lượng tài liệu tham khảo cho tất cả các dạng bài viết, chỉ trừ các bài tổng quan. Ban biên tập của các tạp chí kiểm tra sự trích dẫn các tài liệu tham khảo. Các sai sót thường gặp trong phần tài liệu tham khảo gồm hai loại: một là sự không chính xác khi viết lại tên của tài liệu, số khác là những sai sót khi trích dẫn nội dung của tài liệu. Một nghiên cứu trên các số của 6 tạp chí (British Medical Journal, Lancet, New England Journal of Medicine, Clinical Radiology, British Journal of Surgery, British Journal of Hospital Medicine) ra trong tháng 1 năm 1984 đã cho thấy 24% các tài liệu tham khảo có sai sót về tên và trong 15% tài liệu được trích dẫn, những ý tưởng của tác giả tài liệu đó đã bị hiểu sai (4). Ví dụ: một tác giả dẫn "42 bệnh nhân" trong khi bài báo nguyên thuỷ viết là "42 apxe ở 40 bệnh nhân" (4). Một tạp chí khác nhận thấy có 25% sai sót ở phần tài liệu tham khảo (5). 50 mục tài liệu tham khảo đã được chọn ngẫu nhiên trong số tháng 8 năm 1987 của 3 tạp chí Ngoại khoa: American Journal of Surgery, Surgery, Gynecology and Obstetrics, Surgery. Trên 150 danh sách tài liệu tham khảo có 13 sai sót nghiêm trọng về chính tả làm cho không thể tìm được tài liệu tham khảo được trích dẫn, 41 sai sót nhỏ về chính tả và 37 sai sót lớn về trích dẫn đã được tìm thấy (6). Vì những lý do này, các Uỷ ban thẩm định đôi khi nhầm lẫn giữa sự kiện thông báo và tài liệu tham khảo trích dẫn. Những sai sót sẽ làm các độc giả bực mình khi họ muốn tìm bài báo nguyên thuỷ. Khi bài báo của Mintz và cộng sự (1) đã được ghi ở phần tài liệu tham khảo là"Br J Psy 1986;151:314-20", người đọc sẽ phải tìm trong năm 1986 mà không thấy bài báo, sau đó nhận ra rằng năm 1986 tương ứng với tập 150, như vậy phải tìm tập 151 ở năm 1987 để cuối cùng mới thấy bài báo. Tránh đưa vào tài liệu tham khảo Những bài báo khó tìm được Các luận án Tóm tắt các Hội nghị khoa học xuất bản trong các ấn phẩm định kỳ Các thư từ Các thông tin cá nhân Các bài báo "đang in" Cấm đưa vào tài liệu tham khảo
  7. Tóm tắt hội nghị khoa học không đăng ở các ấn phẩm định kỳ Các bài báo đang gửi đăng Các bài trình bày miệng Các tài liệu tham khảo gián tiếp qua bài báo khác. CầN TRANH THAM KHảO NHữNG TAI LIệU NAO? Các tài liệu phải cho phép người đọc có thể tìm thấy. Tất cả những tài liệu không thoả mãn điều kiện này thì không nên trích dẫn. Nên tránh tham khảo các luận án. Nó sẽ khó có thể tìm được với những ai không sống ở tại thành phố có trường đại học nơi luận án được trình bày. Với các người đọc nước ngoài thì lại càng khó hơn. Vì lý do đó, có những tạp chí khoa học không chấp nhận trích dẫn luận án trong tài liệu tham khảo. Cũng như vậy, các bản tóm tắt Hội nghị khoa học đăng trong các ấn phẩm định kỳ cũng phải tránh. Một số tạp chí trong phần yêu cầu với độc giả ghi rõ yêu cầu không trích dẫn các tài liệu đó (7). Các bản tóm tắt Hội nghị thường khó tìm, trừ những khi được xuất bản phụ vào các tạp chí định kỳ. Ví dụ, tóm tắt của các hội nghị khối Pháp ngữ về bệnh lý gan tiêu hoá được đăng trong tạp chí Gastroenterologie Clinique et Biologique. Một lý do khác chống lại việc trích dẫn các tóm tắt: các tóm tắt không phải bao giờ cũng được kiểm tra bởi hội đồng thẩm định như với một bài báo, và rất nhiều tóm tắt chứa đựng các kết quả không bao giờ được công bố. Một nghiên cứu trên máy tính từ các ngân hàng dữ liệu cho thấy trong 276 tóm tắt về tim mạch học chọn ngẫu nhiên từ ba hội nghị năm 1976 (American Federation for Clinical Research, American Society for Clinical Investigation, Association of American Physisian), 139 (50,4%) đã không được xuất bản dưới dạng bài báo trong các tạp chí có hội đồng thẩm định sau khi Hội nghị diễn ra 37 đến 43 tháng. Vì những lý do tương tự, các tài liệu tham khảo là các bức thư, thường không phải bao giờ cũng qua hội đồng thẩm định cũng nên tránh không nên trích dẫn. Các tài liệu tham khảo từ mối liên hệ cá nhân cũng phải tránh vì người đọc sẽ không thể tự tham khảo được. Nó chỉ có thể được chấp nhận bởi ban biên tập của một tạp chí khi tác giả gửi kèm theo bài báo một lá thư của người được trích dẫn xác nhận chính xác những gì tác giả bài báo trích dẫn và chấp nhận được trích dẫn. Đưa tên tác giả, tiếp theo ghi "thông tin cá nhân" đặt trong ngoặc kép ở trong bài báo mà không xếp vào phần danh mục tài liệu tham khảo. Những tài liệu tham khảo từ những bài báo ghi là "đang đăng báo" cần phải tránh. Việc sử dụng dạng viết này chỉ ra rằng tác giả có thể xác định sự chấp nhận nghiễm nhiên bài báo trích dẫn "đang in". Loại tài liệu tham khảo này bắt độc giả khi muốn đọc bài nguyên thuỷ phải thực hiện việc tìm kiếm trong nhiều số hay tập liền nhau của tạp chí để tìm ra bài đã trích dẫn dạng "đang in". NHữNG TAI LIệU NAO CấM THAM KHảO Những tóm tắt Hội nghị khoa học không đăng trong các tạp chí thì không được chấp nhận đưa vào làm tài liệu tham khảo. Các tóm tắt này xuất hiện dưới dạng "proceedings" chỉ được phát cho những ai tham dự Hội nghị. Các tóm tắt này không được đưa vào trong ngân hàng dữ liệu để lưu trữ trong các thư viện và vì vậy rất khó để tìm thấy. Những tài liệu là các bài báo "đang chờ đăng" phải cấm sử dụng vì tạp chí mà bài báo đó gửi tới còn chưa chấp nhận đăng. Tham khảo các bản trình bày miệng khi không được đăng phải cấm. Nếu trong tài liệu tham khảo đã in còn có tới 30% hiểu sai so với ý tưởng của tác giả (4) thì điều gì sẽ xảy ra với những bài trình bày miệng? Tài liệu tham khảo trích dẫn từ tài liệu tham khảo của một bài báo khác phải bị cấm. Tài liệu của công trình không thể tìm thấy ngay. Trước hết phải tìm bài báo đã trích dẫn tài liệu đó rồi mới đến được tài liệu nguyên thuỷ. Như vậy các sai sót sẽ rất nhiều. Ví dụ một câu như "Các kỹ
  8. thuật xét nghiệm phân được thực hiện gồm xét nghiệm trực tiếp, phương pháp cô đặc của Bailengs và Merthiolate - Iode - Formol - Concentration cũng như chiết xuất của Baermann (17)" với tài liệu tham khảo sau đây: "17. Golvan Y J, Drouhet E. Techniques en parasitologie et en mycologie. Paris: Flammarion éd,1972", sẽ không cho phép người đọc biết kỹ thuật nào đã được thực hiện. Trong thí dụ đó liệu đó là kỹ thuật nguyên thuỷ của Bailenger hay Baermann hoặc là kỹ thuật cải tiến trong cuốn sách được trích dẫn của Golvan và Drouhet? Người đọc không thể biết liệu các kỹ thuật nguyên thuỷ có được tuân thủ hay có thể áp dụng những thay đổi về kỹ thuật đưa ra trong cuốn sách tham khảo. Tuy nhiên, một số tạp chí đôi khi chấp nhận dạng tài liệu tham khảo này với những ấn phẩm rất lâu trước đây với lời ghi "trong ...." hay " trích dẫn bởi....". CAC Hệ THốNG THAM KHảO Về nguyên tắc, phần yêu cầu với các tác giả của tạp chí chỉ rõ hệ thống nào được sử dụng. E. Carfield đã thống kê có 250 hệ thống tham khảo tài liệu (10). Có tới 33 hệ thống khác nhau đã được tìm thấy ở trong 52 tạp chí (11). Trên thực tế có 3 hệ thống chủ yếu được sử dụng. - Hệ thống "tác giả-ngày" (trong thực tế là "tác giả-năm") còn được gọi là hệ thống Harvard là hệ thống lâu đời nhất. - Hệ thống số thứ tự được biết tới với một dạng dưới tên hệ thống Vancouver (7). - Hệ thống chữ cái - số, là một hệ thống trộn lẫn. Hai nhóm có ý định thống nhất các hệ thống tài liệu tham khảo từ 10 năm nay: Nhóm Vancouver trong đó có hơn 500 tạp chí tuyên bố là thành viên (7) và nhóm các nhà xuất bản European Life Science Editors (12) đã đề nghị sử dụng hoặc là số hoặc là "tên-ngày" trong bài báo, không cho phép hai kiểu cùng tồn tại trong một bài báo. Đề nghị của cả hai nhóm này có một quan tâm chung: giảm giá thành tờ báo. Hệ thống "tác giả-ngày" hay hệ thống Harvard. Trong thân bài báo Tên tác giả hay các tác giả với năm xuất bản được trích dẫn trong bài với biến thể tuỳ theo tạp chí: hoặc là "theo Dupond và Dupont (1978), có 20% của..." hoặc là "20% ung thư (Dupond & Dupont, 1978) đã...". Nếu nhiều bài báo của cùng một tác giả xuất bản trong cùng năm được trích dẫn các chữ cái "a", "b", "c"... có thể thêm vào sau số chỉ năm: "theo Dupond và Dupont (1978b)". Nói chung trong nội dung bài chỉ trích dẫn tên của tác giả đầu hay hai tác giả đầu nếu bài báo chỉ có hai tác giả. Kể từ ba tác giả trở lên, chỉ tên tác giả đầu được dẫn, tiếp theo là "và cộng sự", "et coll" từ viết tắt chữ "et collaborateurs" hay "et al" từ chữ viết tắt tiếng latin "et alii". Trong danh mục tài liệu tham khảo Các tài liệu tham khảo được sắp xếp theo thứ tự ABC của chữ cái đầu của tên tác giả thứ nhất của bài báo và không đánh số thứ tự. Khi có nhiều tài liệu tham khảo với cùng tác giả đầu tiên, các tài liệu được sắp xếp theo thứ tự chữ cái đầu tên của tác giả thứ hai và cứ như thế với các tác giả thứ 3, 4.... Nếu có những tài liệu tham khảo khác nhau của cùng một hay một nhóm tác giả, các tài liệu được sắp xếp theo thứ tự năm xuất bản, bắt đầu bằng tài liệu cổ nhất. Nếu có các tài liệu của cùng tác giả, cùng năm xuất bản, các tài liệu được sắp xếp và được thêm vào các chữ "a,b,c,d..." sau năm xuất bản và sắp xếp theo thứ tự đó. Trong hệ thống này, tên của tác giả cuối cùng thường bắt đầu bằng "và" ("and” hay “et"). Hệ thống này ngày càng ít được sử dụng vì nó làm bài báo khó đọc. Bài báo, nhất là chương Đặt vấn đề và chương Bàn luận bị tràn ngập bởi các tên tác giả được trích dẫn. Thân bài báo
  9. được xuất hiện kiểu như (1): "Các nghiên cứu về Schizophrenics ở Anh (Brown et al,1972; Vaughn & Leff,1976) và ở Mỹ (Vaughn et al,1984; Nuechterlein et al,1986; Moline et al,1986; Jenkins et al,1986) và của những bệnh nhân trầm cảm (Vaughn & Leff,1976, Hooky et al,1986), rối loạn hành vi trái ngược (Miklowitz et al,1986) và bệnh nhân béo phì (Leff & Vaughn,1985), tất cả đều cho thấy bệnh nhân sống ở nhà với tỷ lệ EE tương đối cao có nguy cơ bị tái phát tăng cao". Tuy vậy hệ thống này được chấp nhận bởi các tác giả và người đọc bài báo. Trong một thăm dò trong đó có 670 nhà khoa học đã trả lời (13), 61,6% thích hệ thống Harvard với tư cách là độc giả và 59,9% với tư cách là tác giả. Trong số 230 trả lời từ Anh có 72,2% trường hợp đã sử dụng theo hệ thống này. Trong 113 trả lời từ Bắc Mỹ hệ thống này được sử dụng trong 49,6% trường hợp. Với 231 trả lời từ các nước Châu âu, hệ thống này dùng trong 55% trường hợp. Trong số 96% thư trả lời từ các nước khác tỷ lệ dùng hệ thống này là 59,4% trường hợp. Với các tác giả nếu một tài liệu tham khảo bị bỏ quên nó có thể được đưa vào dễ dàng. Do không phải đánh số tài liệu tham khảo nên tránh được sự bất lợi khi thêm vào một tài liệu mà hệ thống khác gặp phải. Vì lý do này, nên dùng hệ thống này khi chuẩn bị bản thảo. Với người đọc, hệ thống thứ tự chữ cái này cho phép dễ dàng biết, khi tham khảo danh mục tài liệu, tác giả nào được trích dẫn (và biết liệu công trình của họ có được trích dẫn không). Hệ thống dãy số (Vancouver) Trong nội dung bài báo Các tài liệu được đánh số bằng số ả rập theo thứ tự xuất hiện trong bài báo. Nếu một tài liệu được trích dẫn nhiều lần, nó vẫn giữ số gắn cho lần xuất hiện đầu tiên. Số của tài liệu trích dẫn đặt trong ngoặc vuông. Nếu nhiều tài liệu được trích dẫn trong cùng một dấu ngoặc, chúng được sắt xếp theo thứ tự có số tăng dần và cách nhau bằng dấu phảy. Nếu nhiều tài liệu có số liên tiếp nhau được trích dẫn, chỉ cần ghi số tài liệu đầu và cuối cách nhau một gạch ngang. Ví dụ: "[3,7]" nghĩa là chỉ có hai tài liệu số 3 và số 7 được trích dẫn trong khi: "[3 - 7]" nghĩa là các tài liệu 3, 4, 5, 6 và 7 được trích dẫn. Trong bảng danh mục tài liệu. Các tài liệu được sắp xếp theo thứ tự xuất hiện trong bài báo mà không theo thứ tự chữ cái tên đầu của tác giả đầu tiên. Số thứ tự này là số ả rập. Như vậy các tài liệu tham khảo được tập hợp thành từng nhóm tuỳ theo chủ đề được trình bày liên tiếp trong bài báo. Hệ thống này giúp dễ đọc hơn và không làm bài báo tràn ngập bởi tên các tác giả. Ví dụ kể trên trở thành “Nghiên cứu về Schizophreniss ở Anh [1,2] và ở Mỹ [3,6] và về bệnh nhân trầm cảm [2,7], rối loạn hành vi trái ngược (8) về bệnh nhân béo phì [9] đã cho thấy...”. Cùng một lượng thông tin cần 440 ký tự trong hệ thống Havard trong khi chỉ cần 254 trong hệ thống số. Hệ thống này được rất nhiều ban biên tập các tạp chí quốc tế sử dụng. Theo các ban biên tập tạp chí, hệ thống này giúp cho việc kiểm soát được sự xuất hiện của tất cả các tài liệu tham khảo trong một bài báo. Hệ thống này có một bất lợi quan trọng cho tác giả: Nếu muốn đưa thêm một tài liệu mới, cần phải đánh số lại tất cả các tài liệu nằm sau nó và có nguy cơ sai sót. Hệ thống chữ - số Trong nội dung bài Các tài liệu tham khảo được trích dẫn bằng số thứ tự ghi trong ngoặc đơn. Nếu nhiều tài liệu trong cùng một dấu ngoặc, chúng được xếp theo thứ tự tăng dần và cách nhau bởi dấu phẩy. Cũng giống như trong hệ thống trên, nếu nhiều tài liệu có số thứ tự liên tiếp được trích dẫn, chỉ
  10. tài liệu đầu và cuối được dẫn, cách nhau bằng một gạch ngang. Trong danh mục tài liệu Tài liệu được xếp theo thứ tự chữ cái ABC chữ đầu của tác giả đầu và số thứ tự (số ả rập) của tài liệu được sắp đặt theo sắp xếp này. Hệ thống này phối hợp hai hệ thống trước và được sử dụng nhiều trong các tạp chí Pháp . LÀM THế NÀO VIếT MộT TÀI LIệU THAM KHảO Dù theo hệ thống tham khảo nào, cần thực hiện theo chỉ dẫn hay thói quen của tạp chí. Những chỉ dẫn cụ thể hoá việc trích dẫn tài liệu tham khảo thế nào và những yếu tố nào đưa ra để tìm tài liệu đó trong y văn. Các ví dụ đưa ra bởi bản hướng dẫn viết bài của Hội đồng các Ban biên tập sinh học (Council of Biology Editor) (14) hay bởi Hiệp Hội Xuất Bản Hoa Kỳ (American Manual Association) (13) đã tính đến tất cả các khả năng có thể. Các ví dụ tuỳ theo quốc tịch của tác giả, theo ngành chuyên môn khoa học được trình bày có giải thích kỹ. Nếu gửi một bài báo với các tài liệu tham khảo trình bày theo đúng hướng dẫn của tạp chí, cách trình bày này được thực hiện tốt nhất bằng cách tham khảo tạp chí đó: tại sao lại luôn đánh máy trong phần tài liệu tham khảo tên các tác giả bằng chữ in hoa trong khi tạp chí lại chỉ sử dụng chữ in hoa cho chữ đầu của tên và chữ thường cho phần còn lại của tên. Ví dụ: Tại sao lại đánh máy là “J.P.DUPONT” trong khi chỉ đơn giản xem tạp chí đó đã cho thấy ngay là trong các bài báo, tác giả này tự viết là “Dupont JP”. Việc quan sát này cho phép nhận ra rằng phần lớn các tạp chí không đặt dấu chấm sau tên đầu của các tác giả cũng như sau tên viết tắt của các tạp chí. Sau đây là một vài ví dụ sử dụng hệ thống Vancouver (7). Tài liệu tham khảo trong một bài báo của một tạp chí xuất bản định kỳ Cần tôn trọng thứ tự sau để viết các yếu tố khác nhau của tài liệu tham khảo: Các tác giả Nếu có từ một đến sáu tác giả, đưa tất cả. Khi có hơn sáu tác giả, chỉ đưa tên sáu người đầu, tiếp sau là “và cộng sự” (“et al”). Tên của các tác giả (chữ cái đầu viết hoa, các chữ khác viết thường) tiếp theo là các chữ đầu tên riêng viết hoa liền sau, không có dấu chấm cách, sau đó là dấu phẩy. Tên cuối cùng có dấu chấm ở cuối. Ví dụ: “Dupont JP, Dupond JF, Durand P.”. Tên bài báo Tên bài báo được giữ ở tiếng nguyên thuỷ. Sau đó có một dấu chấm. Khi tên bài báo viết bằng thứ tiếng không dùng ký tự Latin (chữ ả rập hay chữ Nhật bản chẳng hạn) thì không viết tên này bằng tiếng nguyên thuỷ. Phải dịch toàn bộ tên và phụ đề của bài báo sang tiếng mà tạp chí đăng bài sử dụng. Tiếng nguyên thuỷ của bài báo được chú thích trong ngoặc. Ví dụ “Trình bày tài liệu tham khảo trong một bài báo khoa học như thế nào (bài báo bằng tiếng Nhật)”. Xác định tên tạp chí và những địa chỉ liên lạc của bài báo Tên tạp chí được đưa bằng tên viết tắt theo Index Medicus không cần có dấu chấm sau chữ viết tắt. Các tên viết tắt này được đăng trong số tháng 1 của Index Medicus và trong số 1 của “Cumulated Index Medicus” của mỗi năm. Ví dụ “Gastroenterol Clin Biol” là tên tắt của tạp chí Gastroentérologie Clinique et Biologique. Khi tên một tạp chí không có tên tắt được liệt kê trong Index, cần nêu đầy đủ tên tạp chí. Một danh sách tên tắt của các tạp chí trích từ Index Medicus được đưa ở cuối cuốn sách này. Sau tên của tạp chí, ghi năm xuất bản, sau là dấu chấm phẩy.
  11. Ví dụ “1989;” rồi tới số tập hay quyển (tome or volume), sau đó có dấu hai chấm, ví dụ “54:”. Cuối cùng số trang đầu của bài báo tách với số trang cuối bằng dấu gạch ngang. Số của trang cuối chỉ cần đưa những phần số khác với số trang đầu. Cuối cùng là dấu chấm hết. Ví dụ “124- 33.”. Tài liệu tham khảo một bài báo theo thoả thuận được gọi là Vancouver (5): “Dupont JP, Dupont JF, Duran P. Comment trascrire une référence dans un article scientifique (article en japonais). Gastroentérol Clin Biol 1989; 54: 124-33.”. Không có khoảng cách trước hay sau các dấu hiệu của nhóm số của tài liệu tham khảo. Không viết là “1989 ; 54 : 124 - 33 .”. Không trích dẫn tập hoặc ngày xuất hiện chính xác của tài liệu tham khảo. Nếu việc đánh số trang của số phụ bản của một tạp chí không nằm trong việc đánh số trang bình thường của tạp chí cần ghi thêm chú thích phụ bản 1 (“suppl 1”) ở sau số chỉ số quyển trước số trang. Đôi khi việc đánh số như Đ15 để chỉ trang 15 của tập phụ bản. Cũng như vậy với những tạp chí đánh số trang theo số, nên đặt trong ngoặc đơn hoặc là số của tạp chí nếu có một hoặc là tháng hay ngày xuất bản). Nếu có những yếu tố không nằm trong tài liệu tham khảo được nhắc tới, không đặt trong ngoặc đơn mà đặt trong ngoặc vuông. Ví dụ cần viết là [bài báo viết bằng tiếng Trung Quốc] hay [tóm tắt] ngược lại phải viết là (suppl 1). Trong trường hợp một tài liệu tham khảo xuất bản với một tên tập thể liên quan tới một nhóm công trình, nhóm này được trích dẫn toàn bộ không viết tắt: “Nhóm nghiên cứu tim mạch học”, nếu bài báo trích dẫn không có tác giả, thì được trích dẫn bắt đầu bằng “Vô danh” (“Anonyme”). Trong một hệ thống tham khảo theo thứ tự chữ cái, hai tài liệu tham khảo trên được xếp vào chỗ “N” ở tài liệu đầu và “V” ở tài liệu sau. Trong hệ thống tham khảo đánh số khái niệm “vô danh“ là sót tên. Tài liệu được ghi bắt đầu bằng tên bài báo. Không cần xuống dòng sau mỗi phần của một tài liệu. Tài liệu tham khảo là sách Tài liệu tham khảo là sách phải phù hợp theo thứ tự này: tên tác giả, tên sách, số xuất bản (bắt đầu từ lần thứ hai), tên thành phố nhà xuất bản đóng, tên nhà xuất bản, năm xuất bản, số trang tham khảo chính xác (trang đầu & trang cuối). Tham khảo một cuốn sách theo thoả thuận gọi là Vancouver (5): "Spilker B. Multinational drug companies. Issues in drug discovery and development. New York: Raven Press,1989:606” Tham khảo một chương sách Nếu các tác giả của từng chương được xác định, tài liệu tham khảo đưa tên của tác giả theo sau bằng dấu chấm, sau đó là tên chương sách và dấu chấm. Ghi “trong" (dans or in) tiếp theo là dấu hai chấm rồi đến tên chủ biên cuốn sách, tiếp theo là chữ “eds” nghĩa là biên tập có dấu chấm ở phía sau. Tên cuốn sách được ghi toàn bộ bằng tiếng nguyên thuỷ tiếp theo là dấu chấm. Tên thành phố rồi tên của nhà xuất bản, năm xuất bản rồi đến trang đầu và trang cuối của chương. Hướng dẫn của hệ thống Vancouver (xem phụ lục) liệt kê 35 ví dụ về cách trích dẫn các tài liệu
  12. thường được tham khảo nhiều nhất. Chúng tôi áp dụng hệ thống Vancouver trong sách này . Ví dụ tham khảo một chương sách theo thoả thuận Vancouver (5): &“Jenoudet JP, Massot C. Syndrome de Munchausen. Dans: Rousset H, Vital Duran D, eds. Diagnostics difficiles en médecine interne, volume 1. Paris: Maloine, 1988:127-37” TÀI LIệU THAM KHảO 1.Mintz J, Mintz L, Goldstein M. Expressed emotion and relapse in first episodes of schizophrenia. A rejoinder to Macmillan et al. (1986). Br J Psy 1987;151:314-20. 2.Garfield E. How can impact factors be improved. Br Med J 1996;313:411-3. 3.Seglen O. Why the impact factor of journals should not be used for evaluating research. Br Med J 1997;314:498-502. 4.Lacey G de, Record C, Wade J. How accurate are quotations and references in medical journals? Br Med J 1985;291:884-6. 5.Tigertt G. Editor's page. Am J Trop Med Hyg 1988;38:1-2. 6.Evans JT, Nadari HI, Burchell SA. Quotational and reference accuracy in surgical journals. A continuing peer review problem. JAMA 1990;263:1353-4. 7.International Committee of Medical Journal Editors. Uniform requirements for manuscrips submitted to biomedical journals. N Engl J Med 1997;336:309-15 (traduction fran†aise, voir p.149). 8.Goldman L, Loscalzo A. Fate of cardiology research originally published in abstract form. N Engl J Med 1980;303:255-9. 9.Relman AS. How reliable are letters. N Engl J Med 1983;308:1219-20. 10.Garfield E. The integrated Sci-Mate software system. Part 2. The editors slashes the Gordian knot of conflicting reference styles. Curr Contents 17 March 1986;29:3-10. 11.O'Connor M. Standardisation of bibliographical reference systems. Br Med J 1978;1:31-2. 12.ELSE-Ciba Foundation Workshop. Reference in scientific papers: commas cost money. Earth & Life Science Editing 1978;7:18-21. 13.O'Connor M, Whelan J. Reference preferences-results of a survey. Earth & Life Science Editing 1983;20:3-6. 14.Scientific Style and format. The CBE manual for authors, editors and publishers. Cambridge, UK: Cambridge University Press, 1994:825. 15.American Medical Association. Manual of style. A guide for authors and editors. Philadelphia, PA; Williams & Wilkins, 1997:660. Chương 13 Từ VIệC CHUẩN Bị BảN THảO TớI VIệC SửA LỗI Viết bài báo đòi hỏi thời gian: Một thống kê cho thấy tác giả thứ nhất của một bài báo đã giành cho việc soạn bài trung bình 53,5 giờ, và các đồng tác giả khác 19,5 giờ [1]. Việc viết bản thảo một bài báo nghiên cứu đòi hỏi công trình phải đã được thực hiện xong, khi đó đã biết các kết quả. Việc chọn tạp chí nào để gửi bài phải đặt ra trước khi viết bài. Sự lựa chọn này cho phép viết phần đặt vấn đề phù hợp với độc giả (xem chương Đặt vấn đề) và sự trình bày theo yêu cầu hướng dẫn của tạp chí. Khi biết những người tham gia vào công trình cần xác định các đồng tác giả (người cùng ký tên) và thứ tự các tác giả trước khi viết. CHọN TạP CHÍ.
  13. Việc chọn tạp chí được hướng dẫn bởi sự thích hợp giữa chủ đề của bài báo và mục đích của tạp chí [2]. Trừ những ngoại lệ, các tạp chí chuyên ngành chỉ đăng những bài báo về chuyên ngành mình. Một bài báo về lão khoa sẽ có rất ít cơ hội nhận được sự quan tâm của độc giả một tạp chí nhi khoa. Ngược lại một tạp chí tiêu hoá sẽ đăng các bài về tiêu hoá có thể liên quan tới tất cả các mặt của chuyên ngành này: điện quang, giải phẫu bệnh, dược lý học, miễn dịch học, điều trị học. Việc lựa chọn gửi một bài tới một tạp chí y học đại cương thì khó hơn. Độc giả của loại tạp chí này rất rộng, ngược lại bài báo có nguy cơ ít được các chuyên gia đọc. Trong sự lựa chọn này, tốt hơn là đánh giá, tùy theo bản chất của vấn đề, cơ may được chấp nhận bởi một tạp chí y học đại cương. Cơ may này phụ thuộc vào chính sách chung của tờ tạp chí. Bắt buộc phải tham khảo và biết một tạp chí trước khi gửi bài đăng ở đó. Sự phát hành của tạp chí là yếu tố thứ hai để lựa chọn. Tác giả sẽ có cơ hội nhiểu hơn khi gửi bài đăng trong một tạp chí được phát hành rộng nhất (3): đăng bài báo của mình trong một tạp chí có phạm vi phát hành địa phương hay trong vùng nhất định sẽ giới hạn sự phổ biến của bài báo, ngay cả khi những tạp chí này đăng những bài báo có chất lượng. Vì vậy cần có tham vọng trong việc chọn tạp chí. Tham vọng này phải dựa trên đánh giá mức độ của tờ báo và tự đánh giá công trình của mình. Nếu tác giả đánh giá công trình của mình có tính chuyên môn hẹp, dù hay thì cơ hội để tạp chí New England Journal of Medicine chấp nhận bài báo đó bởi là rất ít. Tốt hơn nên gửi bài tới một tạp chí ít nổi tiếng hơn nhưng có nhiều khả năng được chấp nhận hơn. TậP HợP TƯ LIệU Để VIếT BảN THảO Việc viết bài sẽ dễ dàng hơn nếu trong quá trình thực hiện nghiên cứu các ý tưởng xuất hiện trong đầu được ghi lại. Có một cách tiện lợi là viết các ghi chú này trên những tờ nháp khác màu, mỗi màu tương ứng với một phần của bài báo (4). Trước khi viết, cần liệt kê ra các yếu tố thông tin sẽ là nội dung bài báo. Đó là những tư liệu liên quan đến vật liệu và phương pháp nghiên cứu, các kết quả, danh sách các tài liệu từ đó sẽ chọn ra tài liệu tham khảo. Việc tìm kiếm và lưu trữ thông tin liên quan là mục tiêu của chương 14 “tìm và đọc tài liệu như thế nào”. Trong trường hợp số lượng tài liệu tham khảo là giới hạn, tác giả cần có các bản photocopy của các tài liệu này khi viết bài. (Cẩn thận nên đánh dấu số trích dẫn tham khảo của bài báo khi thực hiện photocopy vì trong một số tạp chí số trích dẫn tài liệu không được ghi ở tất cả các trang của bài báo). Khi viết, nên có sẵn bên cạnh mình một bản của tạp chí mà mình định gửi bài đến, cùng với bản yêu cầu với tác giả của tạp chí đó để dễ dàng tham khảo. Việc trình bày một bảng số liệu hay biểu đồ khác nhau tuỳ tạp chí, cũng như với tài liệu tham khảo, tên và tên riêng các tác giả hay địa chỉ của họ. VIếT CÁC CHƯƠNG KHÁC NHAU THEO THứ Tự NÀO? Cần kết thúc việc soạn thảo một bài báo nghiên cứu bằng tên bài và tóm tắt. Một dự kiến tên bài có thể đặt ngay từ đầu, dự kiến này sẽ được hoàn chỉnh lại sau khi viết xong toàn bộ bài báo. Chương Bàn luận được viết sau khi viết xong những chương khác vì trong chương Bàn luận ta bàn về các chương Tư liệu và phương pháp nghiên cứu và Kết quả. Thứ tự nên làm khi viết các chương khác tuỳ theo cách công trình được tiến hành. Có một sự liên quan phức tạp trong việc thai nghén một công trình và việc viết bản báo cáo. Nếu như công trình là một nghiên cứu tiến cứu, có một bản quy trình tương ứng cho các chương Đặt vấn đề và Tư liệu và phương pháp nghiên cứu thì điều phù hợp với lôgic là sử dụng quy trình này để viết lần lượt các chương Đặt vấn đề, Tư liệu và phương pháp trước khi viết chương Kết quả rồi chương Bàn luận. Ngoài trường hợp đặc biệt này; có hai phương án tuỳ theo ý thích hay thói quen cá nhân việc soạn thảo có thể bắt đầu với chương Kết quả, tiếp đó là chương Tư liệu
  14. và phương pháp, kết thúc bằng chương Đặt vấn đề và Bàn luận. Phương án thực hiện kiểu này cho phép đánh giá các kết quả. Nó đôi khi dẫn tới việc gửi bài báo tới một tạp chí khác với dự định ban đầu. Khả năng khác là bắt đầu bằng soạn chương Tư liệu và phương pháp nghiên cứu, là chương dễ viết nhất vì chỉ đơn thuần là mô tả, không có cả phân tích hay tổng hợp. Các chương Kết quả, Đặt vấn đề và Bàn luận sẽ được viết tiếp sau đó. Một khả năng thứ ba là bắt đầu viết chương Đặt vấn đề, điều này cho phép xác định rõ mục đích và cùng với nó là giới hạn của công trình. Đề nghị này có tính điều kiện vì mục đích của công trình phải được xác định khi ta thực hiện đề tài chứ không phải khi viết bài. Với chương Kết quả nghiên cứu và trong trường hợp có thể với chương Tư liệu và phương pháp nghiên cứu, các bảng và biểu đồ cần được chuẩn bị trước nhất sau đó được bổ sung bằng phần viết. VIệC SOạN THảO Việc soạn thảo theo nghĩa đen là chuyển tải các ý nghĩ của tác giả và diễn giải ra bằng chữ viết. Có thể thực hiện việc chuyển tải ý nghĩ này bằng việc đọc chính tả. Cách “viết” này cho bản thảo đầu tiên của bài báo có lợi điểm là nhanh và thực hiện được dễ dàng ngay. Ngược lại, nó đòi hỏi tác giả phải chỉnh lý lại rất nhiều. Việc soạn thảo một bài báo đòi hỏi sự chăm chú thường xuyên mà việc đọc chính tả ít có được. Vì lý do đó, tốt nhất là nên tự viết bản thảo đầu tiên. Khi đã viết xong, bản thảo đầu tiên không bao giờ là bản cuối cùng. Vì vậy nên sử dụng một hệ thống “chữ viết” có thể cho phép sửa chữa dễ dàng. Khi viết bài bằng tay, việc sử dụng bút chì và tẩy là những công cụ tốt, nó cho phép tránh được sự quá tải khi chữa đi chữa lại làm cho bài báo không thể đọc được khi đến tay người thư kí đánh máy. Một hệ thống kết hợp là viết bản thảo đầu bằng bút chì, sửa bằng tay trước khi đưa đánh máy. Thực tế hiện nay tốt nhất là sử dụng máy tính. Các phần mềm xử lý văn bản cho phép đơn giản hoá tất cả các việc sửa lỗi. Hơn nữa, các nhà xuất bản đòi hỏi tác giả gửi đĩa mềm có cùng nội dung với bài báo gửi đăng. VIệC GHI TÀI LIệU THAM KHảO Khi chuẩn bị bản thảo, các tài liệu tham khảo được đặt trong dấu ngoặc sử dụng hệ thống Harvard (tên của tác giả trong bài báo). Khi đã chắc chắn không thay đổi bài nữa, các tên tác giả được thay bằng số tùy theo hệ đánh số mà tạp chí yêu cầu. Điều này tránh việc phải đánh số lại tất cả các tài liệu tham khảo mà việc này luôn có nguy cơ sai sót, nếu như một tài liệu mới được thêm vào. VIệC VIếT CÁC Số Có những quy tắc cho việc viết các số. Một số được viết bằng chữ khi nó bắt đầu câu văn, bằng số trong phần còn lại của câu “Hai mươi tám bệnh nhân có 14 lần…”. Nếu ta không muốn bắt đầu một câu bằng số (ghi chữ số) ta có thể xây dựng lại câu đó để cho số chuyển sang số, hoặc kết thúc câu trước bằng một dấu chấm phẩy “Trong 28 bệnh nhân có 14 lần…” những số dưới 10 dù là 9 hay 3 thì viết bằng chữ (Ví dụ bốn bệnh nhân chứ không phải 4 bệnh nhân). Khi trên 10 các số được ghi bằng số. Các số thứ tự cũng theo quy tắc như vậy: “thứ ba, thứ 30”. Trong một dãy có nhiều số trên và dưới 10, tất cả được đánh số “Đau ở vùng hố chậu phải trong 6 lần, trên rốn 14 lần và lan toả 3 lần”. Việc đánh số được dùng khi viết ngày (14 tháng Bảy năm 1989) và trước các đơn vị đo (3g; 9mm). Tùy theo tạp chí, các số có 4 chữ số được ghi là 4 215 hay 4215; từ 5 chữ số trở lên phải có khoảng cách: 25 432 hoặc 5 879 432. CÁC LờI KHUYÊN KHÁC KHI VIếT Có nhiều chỉ dẫn về việc sử dụng dấu chấm, gạch ngang, khoảng cách, gạch nối, dấu cảm thán, dấu ngoặc. Cần tham khảo các tài liệu chỉ dẫn chuyên viết về đề tài này (5-7). Việc trình bày bài báo phải phù hợp với cách trình bày của tạp chí, ví dụ tỷ lệ phần trăm có thể viết: %,
  15. pour cent, p cent, p.cent, pour 100, p 100 hay p.100. CÁC BảN THảO TIếP THEO Khi tác giả thứ nhất viết bản thảo chính thức, đó đôi khi là bản thảo thứ 6, thứ 8 hay thậm chí hơn nữa, tác giả đưa bản đó cho các đồng tác giả để bổ sung về nội dung nếu cần và sửa về cách trình bày. Bản thảo sau cùng phải được thực hiện có tính đến các ghi chú của họ. Thời gian các đồng tác giả đọc lại bài báo sẽ cho phép tác giả thứa nhất xem lại bản thảo sau một khoảng thời gian làm xuất hiện những nhận định đã đi qua không được nhận biết. VIệC TRÌNH BÀY BảN GửI ĐĂNG BÁO. Ngay từ bản thảo đầu tiên, phải cố gắng tôn trọng quy định của tạp chí. Bản thảo gửi đăng phải đáp ứng được tất cả những điểm yêu cầu trong bản yêu cầu với tác giả của tạp chí. ở đây chúng ta áp dụng các nguyên tắc chính theo yêu cầu quốc tế phổ biến nhất (8). Bản thảo được đánh máy chữ đen trên giấy trắng, khổ 216 x 279mm hay khổ “ISO A4” (212 x 297mm), để lề ở mỗi cạnh ít nhất 25 mm. Bản thảo được đánh máy cách dòng, trên một mặt giấy. Một trang tương đương với 25 dòng với mỗi dòng 60 ký tự hay khoảng trống tương đương khoảng 250 từ. Lề rộng và chữ cách dòng để chỗ đủ rộng cho các người đọc duyệt bài ghi các nhận xét và sau đó cho nhà xuất bản chuẩn bị bài trước khi in (9). Mỗi phần của bài báo phải bắt đầu trên một trang mới: trang đầu đề, trang tóm tắt và từ khoá, các trang nội dung, các trang tài liệu tham khảo, trang cảm ơn, mỗi bảng hay biểu đồ trên một trang, trang các chú thích của biểu đồ. Các trang được đánh theo số ả rập, ở trên bên phải, bắt đầu bằng trang đầu đề. Việc sử dụng bộ chữ dễ đọc được khuyên dùng. Trang đầu đề. Trên trang này có tên bài báo và tên của các tác giả. Tên riêng đầy đủ hay các chữ cái đầu của tên riêng viết trước tên họ của các tác giả ở phần đầu của bài báo, khác với ở mục tài liệu tham khảo tên họ đứng trước rồi mới đến tên riêng. Trong các nước thuộc khối tiếng Anh, các chức danh (MD với Medical Doctor - bác sỹ, PhD với Doctor of Philosophy - tiến sỹ, DVM cho Doctor of Veneninary Medicine - bác sỹ thú y) hoặc một số chức danh trong hội chuyên ngành (FACS với Fellow of the American College of Surgeons - viện sỹ Viện Hàn Lâm Phẫu Thuật Hoa Kỳ, FACP với Fellow of the American College of Physicians - viện sỹ Viện Hàn Lâm Y Học Hoa Kỳ, MRCP với Member of the Royal College of Physicians - hội viên Hội Y Học Hoàng Gia) được viết tiếp sau tên họ của tác giả. Có một danh mục các chức danh này (6). Nếu các tác giả có địa chỉ khác nhau, cần đặt sau mỗi tên một số hay một dấu hoa thị để chỉ rõ địa chỉ của mỗi người. Tên, địa chỉ và số điện thoại của tác giả chịu trách nhiệm liên lạc và của tác giả sẽ nhận gửi báo biếu phải được ghi rõ. Không nhất thiết đó phải là tác giả đầu tiên. Đầu đề thông dụng ghi ở trang này. Các cơ quan giúp đỡ về đề tài chính cho công trình phải được ghi ở trang này gửi kèm theo hợp đồng. Tất cả tên các tác giả phải nằm trong chỉ một trang này. Khi tạp chí bỏ trang này đi thì có thể duyệt bài một cách vô danh. Trang tóm tắt. Phần tóm tắt, tuân thủ theo quy định về độ dài của tạp chí được đánh máy trên một trang riêng. Các từ khoá ở cùng trang này. Các từ này phải tuân thủ theo danh mục của Index Medicus (MeSH, Medical Subject Heading). Danh sách này xuất bản hàng năm trong số tháng Giêng của các bản xuất bản hàng tháng hay trong số đầu của cuốn “Cumulated Index Medicus”. Các trang nội dung. Không nên xuống dòng sau mỗi ý hay câu. Không sử dụng các gạch đầu dòng ở bắt đầu mỗi
  16. đoạn hay đánh số khi soạn thảo vì phần lớn các tạp chí không in kiểu đó. Khi thực hiện xử lý văn bản, đôi khi có tạp chí yêu cầu không chỉnh khuôn bài, nghĩa là không chỉnh về lề phải. Việc chỉnh dòng làm cho các dòng không chứa cùng một số ký tự hay khoảng cách. Điều này làm việc xếp bài của nhà xuất bản khó khăn hơn, nghĩa là việc ước lượng độ dài của bài báo để dự trù chỗ nó sẽ chiếm trong tạp chí. Việc trình bày nội dung bài báo cần càng chân phương càng tốt vì các đầu đề và phụ đề phải phân biệt rõ và có trật tự. Việc xử lý văn bản cho phép nhiều lựa chọn: sử dụng chữ đậm, chữ nghiêng, chữ viết hoa các loại, chữ có bóng, chữ nổi. Chúng sẽ không được in đúng như vậy trong tạp chí. Các trang tài liệu tham khảo. Việc trình bày tài liệu tham khảo (xem chương 12) bắt đầu ở một trang mới. Việc trình bày này cho phép đọc các tài liệu tham khảo riêng biệt khỏi bài báo khi tác giả viết bài cũng như khi nhà xuất bản chuẩn bị bản in. Nó cho phép dễ dàng kiểm tra các tài liệu được đưa ra. Các trang minh họa. Biểu đồ Mỗi biểu đồ trình bày trên một trang dưới dạng ảnh trên giấy láng, đen trắng. Mỗi ảnh tài liệu phải được ghi đầy đủ thông tin vào một nhãn dính và dính vào phía sau của ảnh đó (xem chương 9), mỗi tài liệu phải gửi kèm theo số lượng bản sao theo yêu cầu. Tất cả các chữ, dấu hiệu phải có cỡ đủ để có thể thu nhỏ lại khi nhà xuất bản sử dụng. Lời yêu cầu về vị trí của minh hoạ trong bài báo sẽ rất có tác dụng cho nhà xuất bản. Nếu có các bản photocopy, ảnh hay tài liệu gốc được gửi kèm bản thảo, cần viết thêm chú thích “đừng in lại tư liệu này”. Bảng Mỗi bảng trình bày đánh máy cách dòng trên một tờ giấy. Nếu một bảng cần hơn 2 tờ giấy, cần ghi rõ “tiếp theo” ở các trang tiếp sau. Các chú dẫn đặt ở chân bảng và phải tuân thủ các kí hiệu của tạp chí. Các dòng đứng và ngang không nên có trong thân bảng, rất nhiều tạp chí không in các dòng đó. Trang chú giải Các chú giải của các biểu đồ được tập trung lại ở một trang. Việc đánh máy các chú giải trên một trang là hợp lý vì nó sẽ được xử lý cùng văn bản ở nhà in, các biểu đồ thường được chuẩn bị ở các phân xưởng khác. Tên của các bảng có thể tập trung ở một trang hay đặt trên mỗi bảng. Nó có kiểu chữ in giống như của bảng vì không bắt buộc phải đặt ở một trang riêng nên nhà in chú thích ở cuối bảng. Trang lời cảm ơn (xem chương 5) ĐọC LạI LầN CUốI TRƯớC KHI GửI CHO TạP CHÍ Trước khi gửi cho tạp chí, hãy đọc lại 7 lần (10). Mỗi lần tương ứng với một mục đích riêng biệt. Phải đảm bảo rằng các yêu cầu với tác giả của tạp chí được tuân thủ ở lần đọc thứ 8. Các tạp chí xuất bản một danh mục yêu cầu mà các tác giả phải đánh dấu đã được thực hiện trước khi gửi bài. 7 lần đọc lại cuối cùng (theo 10) 1) Đảm bảo thì động từ ở chương Tư liệu và phương pháp và chương Kết quả được chia ở thì quá khứ và chỉ ở quá khứ;
  17. 2) Gạch bỏ tất cả những từ, tính từ và đại từ trống rỗng; 3) Kiểm tra các tài liệu tham khảo, các biểu đồ và bảng tất cả đều được sử dụng trong bài báo; 4) Đảm bảo rằng chương Tư liệu và phương pháp chỉ bao gồm các mô tả, không có một câu bình luận nào; 5) Kiểm tra để đảm bảo các bảng và biểu đồ khi đọc riêng biệt có thể hiểu được; 6) Kiểm tra để đảm bảo tất cả các số liệu có tổng liên quan chặt chẽ với nhau; 7) Đảm bảo rằng các động từ, các tính từ và các từ sử dụng có thể hiểu được bởi một độc giả nước ngoài. Nội dung bài được đánh máy và đọc lại lần cuối để sửa nếu các chữ u được viết thay cho à,để không nhầm giữa mm và mn (cách viết tắt đúng của phút là min), để kiểm tra lại các chữ hoa (ví dụ Candida abbicans, chữ bệnh viện không nhất thiết phải viết hoa), các chữ nghiêng (invitro, Streptococcus trong khi đó lại viết Cytomegalovirus và virus Herpès), kiểm tra việc sử dụng các tài liệu tham khảo và các minh hoạ để đảm bảo tất cả đều hoàn hảo. GửI BÀI ĐếN TạP CHÍ. Một bài báo chỉ được gửi đến một tạp chí duy nhất và không được gửi bài đã đăng rồi (8). Gửi số lượng bản thảo được tạp chí yêu cầu (thường là 2 hoặc 3) kèm với một thư đề nghị chấp nhận (7). Một bản tác giả giữ, gửi cho mỗi đồng tác giả một bản. Các ảnh minh họa gửi đi được bảo vệ bằng bìa carton để tránh bị gấp. Gửi kèm theo chứng nhận cho phép đăng tải các tư liệu. Có tạp chí yêu cầu phải xác nhận chuyển bản quyền. Bản quyền thuộc về tác giả hay nhà xuất bản có quyền khai thác nhiều năm với mục đích khoa học. Có tạp chí yêu cầu xác nhận ký bởi tất cả các tác giả đồng ý với nội dung bài báo (một bản “xác định bản quyền” được in trong mỗi số của tạp chí “Annal of Internal Medicine”). Đôi khi có yêu cầu trả một khoản tiền (ví dụ 50 đô la) để bài báo được lưu ý nhưng không bắt buộc phải được chấp nhận (ví dụ như với tạp chí Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism Arthritis). Cần phải đọc trong hướng dẫn gửi bài báo cho ai vì không phải lúc nào cũng gửi cho nhà xuất bản. TRả LờI CÁC PHÊ BÌNH CủA TạP CHÍ Trong những tuần tiếp sau khi gửi bài, có tạp chí gửi lại một xác nhận đã nhận bài. Có tạp chí có những biên tập viên chuyên nghiệp đọc bài lần đầu và ngay lập tức quyết định bài có được chấp nhận hay từ chối, hoặc bài được gửi tới một nhà khoa học có khả năng thẩm định công trình để duyệt. Trong hai trường hợp đầu, sự trả lời của tạp chí nhanh (2 đến 4 tuần). Nếu bài được gửi đến chuyên gia, sự trả lời sẽ tới tác giả sau 6 đến 10 tuần. Quyết định của tạp chí được giải thích, kèm theo các bình luận của người duyệt bài. Việc chấp nhận một bài báo không chỉ dựa vào nội dung khoa học, nó còn tính tới chính sách chung của tờ tạp chí. Tác giả phải trả lời các nhận xét. Phải viết thư trả lời theo từng điểm được nhận xét. Bản trả lời phải cấu trúc chặt chẽ để tạp chí hiểu ngay lập tức là những chỗ nào có sửa đổi ở bài báo so với bài gửi đăng lần đầu. SửA LỗI BảN IN THử Giai đoạn này của việc soạn thảo thường không được các tác giả chú ý. Có những lỗi không tồn tại ở bản thảo được tạp chí chấp nhận nhưng có thể xuất hiện ở bản in thử của bài báo. Nguy cơ này giảm bớt khi việc chuẩn bị bài của nhà in dựa vào đĩa mềm do tác giả gửi tới. Việc đọc bản in thử tương tự như khi đọc bản thảo. Lần đọc đầu tiên kiểm tra sự kết hợp hữu cơ của bài báo và cho phép biết liệu có một đoạn hay một câu nào bị quên hay bị lặp lại. Lần đọc thứ hai từng bước một để kiểm tra việc sử dụng các tài liệu tham khảo, các biểu đồ và bảng, lỗi chính tả. Việc sử dụng các dấu ký hiệu sửa giúp cho việc truyền tải các sự sửa lỗi với nhà in. Việc sửa lỗi in trong bản in thử
  18. Những chỗ sửa chữa chỉ rõ trong thân bài và ở lề, với mực khác màu mực của bài viết. Tất cả các chỉ dẫn trong vòng tròn không được in. Các kí hiệu sửa lỗi Anh Mỹ khác với hệ Latin. Khi đọc bản in thử, không được thay đổi bài báo, thêm vào các kết quả “mới”, các thông tin mới xuất hiện sau khi viết bài là những cái mà nhà xuất bản gọi là các sửa chữa của tác giả. Trong trường hợp rất đặc biệt, khi một thông tin mới xuất hiện từ sau khi sự chấp nhận của bài báo làm thay đổi cơ bản nội dung của bài, tác giả có thể đề nghị một sự bổ sung ngắn dưới dạng chú thích ở chân trang hay ở cuối bài. Cho tất cả các giai đoạn chuẩn bị bản thảo Không ngừng đọc lại để kiểm tra. Các nguyên tắc cụ thể, sáng sủa và ngắn gọn luôn được tôn trọng. Phải luôn chắc chắn là tuân thủ các yêu cầu với tác giả của tạp chí. TÀI LIệU THAM KHảO 1.Burman KD. “Hanging from the masthead”: reflections on authorship. Ann Intern med 1982;97:602-5. 2.Day RA. Where and how to submit the manuscript. In: How to write a scientific paper. Cambridge: Cambridge University Press, 1989:87-93. 3.Garfield E. Which medical journals have the greatest impact? Ann Intern Med 1986;105:313- 20. 4.Booth V. Communicating in science: writing and speaking. Cambridge UK: Cambridge University Press, 1984:68. 5.Scientific Style and format. The CBE manual for authors, editors and publishers. Cambridge, UK: Cambridge University Press, 1994:825. 6.American Medical Association. Manual of style. A guide for authors and editors. Philadelphia, PA; Williams & Wilkins, 1997:660. 7.O'Connor M. Writing successfully in science. London: Harper Collins Academic, 1991:229. 8.International Committee of Medical Journal Editors. Uniform requirements for manuscrips submitted to biomedical journals. N Engl J Med 1997;336:309-15. 9.The birth of an original paper. Br Med J 1980;280:529-39. 10. Huguier M, Molkhou JM. La rédaction médicale. Gastroenterol Clin Biol 1986;10:29-33. Chương 14 SƯU TầM VÀ ĐọC TÀI LIệU NHƯ THế NÀO? Có khoảng hơn 20 000 tạp chí y sinh học. Việc đọc 10 tạp chí nội khoa chính trên thế giới dẫn tới mỗi tháng phải đọc 200 bài báo nghiên cứu và 70 bài xã luận. Trong khoảng liên tục 10 năm, 16000 bài báo viết bằng tiếng Anh về đề tài viêm gan vi rút đã được xuất bản (1). Trọng lượng của cuốn Index Medicus, cuốn sách tham khảo nổi tiếng nhất trong lĩnh vực y sinh học trong khoảng 60 năm từ khi xuất bản lần đầu năm 1879 là 2kg một năm (2). Từ năm 1946 đến 1955 trọng lượng này đã gấp đôi. Từ năm 1955 nó đã gấp lên 7 lần để đạt tới 30kg năm 1977. Như vậy thông tin ở trong tầm tay chúng ta ngày nay là quá thừa. Ngược lại không thể đọc tất cả vì vậy việc lựa chọn là cần thiết. Điều đó đặt ra việc phải tổ chức rất tốt việc tìm tài liệu tham khảo và lựa chọn các bài báo. Mục đích của chương này là để trả lời 4 câu hỏi: 1) Ở đâu và làm thế nào tìm được một danh sách tham khảo các bài báo về một chủ đề? 2) Trong danh sách này, lựa chọn các bài báo thế nào?
  19. 3) Làm thế nào để phân loại các bài báo đã chọn: tóm tắt hay đọc nhanh? 4) Cuối cùng làm thế nào để sử dụng và lưu trữ tài liệu?. Việc trả lời các câu hỏi này dẫn tới viễn cảnh phải viết một bản tóm tắt nghiên cứu. Tuy nhiên phần cuối của chương này đưa ra một số chỉ dẫn về cách trình bày các hiểu biết của mình, đó là một cách tiếp cận khác. TÌM MộT DANH MụC THAM KHảO ở ĐÂU VÀ LÀM THế NÀO? Các phương tiện cần có Các sách tham khảo Các cuốn sách ra định kì đăng danh sách các bài báo là Current Contents, Clinical Practice, Life Siences, Excerpta Medica, Index Medica và ở Pháp là Bullentin Signalétique du Conseil National de la Recherche Scientifique. Cuốn Les Current Contents in lại các tóm tắt sơ lược trên cơ sở chọn lựa rộng rãi từ các ấn phẩm định kì về y sinh học, chỉ rõ mỗi bài báo hay bản tóm tắt viết bằng ngôn ngữ nào. ở cuối mỗi tập có một bản chỉ dẫn theo vần chữ cái abc theo chủ đề cho phép biết số trang trong cuốn sách Current Contents nơi bài báo được trích dẫn. Bản chỉ dẫn này được xây dựng dựa trên các từ sử dụng trong đầu đề bài báo mà không phải là từ khoá. Cuối cùng có một bản chỉ dẫn theo tác giả. Lợi điểm của Current Contents là rất nhanh: những tạp chí Anh - Mỹ phát hành rộng rãi nhất được đưa vào danh mục trong khoảng 15 ngày. Current Contents Nhà xuất bản: Viện thông tin y học Philadenphie, Hoa Kỳ (Institute for Scientific Information of Philadenphie, USA). Thời gian xuất bản: hàng tuần %Index Medicus Nhà xuất bản: Thư viện y học quốc gia Bethesda, Hoa Kỳ (National Library of Medicine, Bethesda, USA). Thời gian xuất bản: Hàng tháng. Từ việc tìm một danh mục các tài liệu đến khi lấy được thông tin: Các bước tiến hành 1) Ở đâu và làm thế nào tìm được danh mục tài liệu ? CD-rom, Medline, Internet hay các sách tham khảo (Index Medicus, Current contents…) 2) Chọn lựa bài báo: dựa vào đầu đề 3) Loại trừ các bài báo: dựa vào đọc tóm tắt hay đọc nhanh 4) Thu nhận thông tin: Điểm khác nhau duy nhất giữa việc sử dụng hệ thống máy tính và các sách là khả năng máy
  20. tính có thể cho phép loại trừ các bài báo ngay khi đọc các tóm tắt mà không cần có trong tay cả bài báo. Điều đó cho các tác giả thấy tầm quan trọng của việc viết tên bài và tóm tắt bài báo. Cuốn Les excerpta Medica do Elsevie xuất bản ngoài tên và địa chỉ của bài báo còn có tóm tắt. Như vậy, nó cho phép có một cách nhìn toàn diện hơn về nội dung bài báo so với chỉ có tên bài. Ngược lại, Excerpta Medica đã chọn lựa các bài báo, như vậy nó vừa có thuận lợi lại vừa có bất tiện của việc đã chọn lựa trước. Index Medicus là phương tiện làm việc phổ biến và được dùng rộng rãi nhất (4). Nó chứa đựng thông tin tham khảo về các bài báo xuất bản trong gần 3000 tạp chí y sinh học. Mỗi tập hàng tháng bao gồm thứ tự sau: 1) danh mục các tạp chí chung xếp theo chủ đề theo thứ tự abc. 2) danh mục các bài báo đăng kết quả nghiên cứu cũng sắp xếp theo nguyên tắc như vậy. 3) danh mục theo thứ tự chữ cái tên tác giả. Một bản sưu tập hàng năm gọi là “Cumulated Index Medicus” có khoảng 10 tập với những mục như trên và ở phần đầu của cuốn đầu tiên, có danh sách và chữ viết tắt của tên các tạp chí đã đưa vào trong danh mục này (hệ thống viết tắt áp dụng theo thoả thuận Vancouver). ở phần đầu cuốn thứ hai là danh sách các từ khoá hay là MeSH (Medical Subject Heading) được sử dụng. Thời gian từ khi bài báo xuất bản tới lúc được đưa vào Index Medicus vào khoảng 2-7 tháng. Các hệ thống tin học. Hệ thống tin học được biết đến rộng rãi nhất đăng danh mục tài liệu tham khảo các bài báo y học là Medline. Nó cũng như Index Medicus dựa trên cơ sở dữ liệu của Thư viện y học quốc gia - trên Internet cũng như vậy. Một số thư viện được trang bị các đĩa CD-rom cũng dựa trên cùng cơ sở dữ liệu. Qua Minintel số để xâm nhập vào Medline là 01 36 29 00 36 Qua Internet mã vào là Signets/Pub Med. Trên Minintel đường vào Excerpta Medica là: Embase. Với Current Contents có 2 đường vào “Life Sciences” và “Clinical Medicine” Sử dụng sách tham khảo hay hệ thống tin học? Hai hệ thống từ đó có thể xây dựng được một danh mục tài liệu đều dựa trên một cơ sở dữ liệu. Vì vậy về nguyên tắc chúng mang lại cùng một thông tin. Lợi điểm đầu tiên của hệ thống tin học, Medline và Internet là dễ tiếp cận hơn sách, chúng dễ dàng cho phép tham khảo khi ngồi tại nhà hay ở văn phòng hơn là đi tìm Index Medicus dù ngay ở dạng vi phim. Về nguyên tắc, nó còn cho phép tiết kiệm thời gian. So sánh trong một nghiên cứu việc tìm tài liệu về một chủ đề đã chỉ ra rằng cần phải mất 51 phút để tra Index Medicus trong khi tra Medline chỉ mất 15 phút. Thông tin nhận được tương tự nhau (4). Ngược lại, hệ thống tin học đắt tiền. ở Mỹ, một nghiên cứu so sánh về thời gian và giá tiền của 14 đường vào Medline cho thấy mất từ 8-21 phút và tốn 3,4 USD đến 11,6 USD vào năm 1985 (5). Khi tham khảo Index Medicus hay CD-rom ở thư viện không đặt ra vấn đề tiền liên quan đến thời gian tra cứu. Thuận lợi chính của hệ thống tin học liên quan tới cái mà người ta gọi là tìm chéo, như giữa tăng huyết áp và đái đường chẳng hạn. Nếu tra trong sách thì sẽ mất rất nhiều thời gian để tìm
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2