intTypePromotion=1
ADSENSE

hà nội - những vấn đề ngôn ngữ văn hóa: phần 2

Chia sẻ: Thangnam Thangnam | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:183

88
lượt xem
20
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

nghiên cứu tiếng hà nội trong mối quan hệ với văn hóa sẽ góp phần vào nghiên cứu các vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ học, về tiếng việt như khái niệm phương ngữ toàn dân, chuẩn với biến thể. Đồng thời, việc nghiên cứu tiếng hà nội sẽ góp thêm tiếng nói vào nghiên cứu các vấn đề về hà nội nhất là lịch sự hà nội, khẳng định nền văn hiến hà nội... mời các bạn tham khảo phần 2 cuốn sách.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: hà nội - những vấn đề ngôn ngữ văn hóa: phần 2

  1. hỏi CKGT (a) “Anh có thể xem hộ mấy giò rồi được không?” và (b) “Anh ơi, anh có đồng hồ đấy không?”. Kết quả cho thấy đối với câu hỏi giò gián tiếp kiểu (a), các cộng tác viên già cho rằng không nên dùng vì khách sáo, ngược lại đa sô" các cộng tác viên trẻ đều nói đấy là cách hỏi giò lịch sự, đặc biệt là khi dùng với người ngoài. Cũng như vậy, vói câu CKGT kiểu (b), nhóm cộng tác viên già cho rằng không nên dùng đốỉ vối người ngoài, còn các cộng tác viên trẻ lại nói có thể dùng bình thưòng, thậm chí là lịch sự trong một số tình huống nhất định (nói với ngưòi nhà khi đang bận việc hoặc nói vói người lạ). Kết quả trắc nghiệm này gợi ý rằng chức năng biểu thị lịch sự của lòi CKGT là một cái gì đó còn mập mò và chưa được nhận thức giống nhau ỏ các nhóm xã hội. 'Vi vậy, rất có thể những khác biệt trong việc dùng lòi CKGT lịch sự giữa các nhóm người nói có đặc tníng xã hội khác nhau không phải là cái gì khác mà chính là sự phản ánh tính mập mò trong chức năng lịch sự của lòi CKGT và cách nhìn khác nhau của các nhóm xã hội đối với lời CKGT lịch sự. Cụ thể là, nam và nữ của nhóm thanh niên (xét theo tuổi) và viên chức (xét theo nghề) có xu hướng thấy CKGT như một phương tiện thể hiện ý định cầu khiến của mình một cách lịch sự, tế nhị và vì vậy thường dùng ở các tình huổhg nói với ngưòi ngoài (nơi bối cảnh giao tiếp có khoảng cách đòi hỏi mức đầu tư lịch sự cao hơn) nhiều hơn so với người nhà. Như vậy, vói một lòi hỏio mượn bút nơi công cộng như “Xin lỗi, anh/chị có bút 229
  2. ở đây không ạ?” thì cấu trúc cầu khiến gián tiếp đã được s ử d ụ n g n h ư m ộ t p h ư ơ n g t iệ n lịc h n h ằ m t ô n tr ọ n g q u y ền tự do hành động của ngưòi đối thoại có khoảng cách với người nói. Ngược lại, các nhóm cao niên và làm nghề tự do (cả nam lẫn nữ) không coi CKGT là một phương tiện lịch sự thể hiện sự tôn trọng trọng quyền lực của ngưòi đốỉ thoại nên họ thường dùng với ngưòi nhà (nơi mà bối cảnh giao tiếp thân m ật đòi hỏi mức đầu tư lịch sự ít hơn) nhiều so với ngưòi người ngoài. Thực chất, khi ngrưòi bà trong bữa ăn nói “giá mà có cái đĩa xâu xấu để điĩng xương” thì bà không dùng lòi cầu khiến gián tiếp này để thể hiện sự tôn trọng quyền tự do hành động của con cháu bà, mà ngược lại nhằm biểu dương quyền thế của chính bà đối với con cháu (mong muốn của bà là mệnh lệnh). Nằm giữa hai đối cực đó nhóm trung niên dường như gần với nhóm thanh niên hơn, còn công nhân gần với nhóm viên chức hđn (xét cả nam và nữ). Như vậy, xét theo các đặc trưng về giói, tuổi và nghề chúng ta thấy rằng có sự khác biệt trong cách dùng lòi lịch sự ỏ các nhóm xã hội. Những khác biệt này dường như phản ánh những khác biệt trong sự tri nhận của các nhóm người nói này về ý nghĩa dụng học của các lòi lịch sự. 4. KẾT LUẬN • Trỏ lên chúng tôi đã xem xét các biên thê xã hội cúa các lòi CKGT lịch sự trong câu cẫu khiẽn tiẽng Việt ó địa bàn Hà Nội. Tư liệu cho thấy có một mối tương liên qua 230
  3. lại phức tạp giữa đặc trưng ngôn ngữ, bản sắc xã hội của người nói và tình huốhg giao tiếp, chứng tỏ ứng xử ngôn ngữ vừa là sự thể hiện của bản sắc xã hội vừa là kết quả của một sự lựa chọn có tính mục đích của người nói, mà cái cầu nốỉ để giải những mối tương liên phức tạp đó chính là sự đa nghĩa dụng học của một hình thức ngôn ngữ và sự khác biệt giữa các nhóm xã hội trong việc tri nhận và sử dụng các chức năng dụng học khác biệt này. Nói cách khác, những khác biệt xảy ra theo các hướng trái ngược nhau trong các biến thể xã hội của lời CKGT lịch sự cho thấy có một quá trình biến đổi đang xảy ra, ít nhất là với tiếng Việt ở Hà Nội, vối nghĩa dụng học của lòi cầu khiến gián tiếp lịch sự: từ chỗ được ngưòi già sử dụng chủ yếu trong bối cảnh giao tiếp thân mật (gia đình) để phô trương quyền lực của ngưòi nói và sự thân thiện trong quan hệ giao tiếp giữa ngưòi nói và người nghe, nó đang được dùng rộng hơn trong giao tiếp với người ngoài để thể hiện sự tôn trọng quyền lực của người nghe và khoảng cách xã hội giữa ngưòi nói và người nghe. Đi tiên phong trong quá trình biến đổi ngôn ngữ này là nam giói, tầng lốp viên chức và những người trẻ tuổi. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Holmes, J. ''politeness Strategies in New Zealand Women’s Speech”, trong New Zealand Ways of Speaking English, edited by Bell, A. and Holmes, J, tr. 252 - 276. 231
  4. 2. Vũ Thị Thanh Hương. 1999 a. “Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng V iệf\ Ngôn ngữ, số 1/1999, tr. 34 - 43., 1999 b. “Giới tính và lịch sự', Ngôn ngữ, số 8, tr. 17 - 30. 232
  5. VỀ KHÁI NIỆM “ TIẾNG HÀ NỘI” NGUYỄN VĂN KH AN Ơ 1. “Sự hình thành những khác biệt phương ngữ cũng như những kiểu lòi nói tương đốl khái quát và được tiêu chuẩn hoá thực ra có thể xẩy ra trong bất kỳ thời đại lịch sử nào, nếu như có tình huống thuận lợi cho sự hình thành ấy. Thế nhiíng, trong thời kỳ tồn tại dân tộc đã có ngôn ngữ dân tộc nói hoặc viết, đặc biệt khi đã có những thông báo rộng rãi, thì điểu kiện nảy sinh những khác biệt phưctog ngữ trên thực tế rất là tối thiểu, còn sự từ bỏ hoàn toàn những đặc điểm của tiếng địa phương trên thực chất là vấn đề thời gian” (A.V. Đexnhiskaia, M, 1970). Trích dẫn nhận định trên chúng tôi không nhằm bàn đến giá trị đứng - sai mà chỉ xem nó là một điểm để từ đấy bắt đầu vói khái niệm tiếng Hà Nội. 1.1. Căn cứ theo nhận định này thì sẽ có một vấn đề đặt ra là, ỏ vào thập kỉ cuối của thế kỉ 20, khi mà tiếng Việt ván học đã phát triển hoàn hảo ở cả nói và viết, khi mà nhân tố địa lý - vừa là ranh giới vừa là rào chắn giữa các phương ngữ - luôn có những biến động và tỏ ra có phần yếu ốt so với nhân tố xã hội thì khái niệm tiếng Hà ' PGS.TS., Viện ngôn ngữ học 233
  6. Nội liệu có còn không và nếu còn thì cần phải hiểu như th ế nào cho thoả đáng? 1.2. Liên quan đến phương ngữ, trong tiếng Việt có hai từ tiếng và giọng. - Khi nói tiếng địa phương với tư cách là biến thể của ngôn ngữ sẽ là một chỉnh thẽ trong đó bao gồm các yếu tô' của cấu trúc hệ thốhg (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng) và phong cách (cách diễn đạt). Có thế nói, khi sử dụng để giao tiếp, ngôn ngữ chủ yếu được thế hiện dưới dạng tiếng địa phương (phương ngữ). Chắng hạn, chúng ta thường nói “Chị ấy nói tiếng Nghệ”, “Anh kia nói tiếng Sơn Tây”, “ô n g ấy nói tiếng Hà Nội”, “Cô ấy nói tiếng Sài Gòn”... Cái gọi là tiếng ở đây chính là phương ngữ địa u - xã hội. Gọi là “địa K - xã hội” là bởi, trong một đất nước Việt Nam thổhg n h ất đa dân tộc, đa ngôn ngữ và mỗi ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng lại hành chức dưới dạng một ngôn ngữ - đa phương ngữ thì sự biệt lập giữa các phương ngữ của một ngôn ngữ là điều không xảy ra. Bởi, cũng theo A.V. Đexnhiska, “biệt lập phương ngữ có thể phát triển như là kết quả của chủ nghĩa địa phương về m ặt chính trị, đại dư, kinh tế và văn hoá”. - Khi nói giọng địa phương là muốn nói đến phần ngữ âm (phát âm). Thí dụ, “ô n g ấy tập kết bao nhiên năm ngoài Bắc mà vẫn nói giọng Nam”, “giọng con gái Hà Nôi sao mà ngọt ngào, dễ thương”. Tuy nhiên, theo nghĩa này, giọng “không phải là một yếu tố ngữ âm đơn lẻ mà (là) môt tập hợp các yếu tô ngữ âm khác nhau đồng 234
  7. thời xuất hiện khi phát âm và động thòi được tiếp nhận khi nghe” [4] 2. Khi nói đến phương ngữ là nói đến sự đối lập - so sánh: nói phương ngữ Bắc là ngầm phen biệt vối phương ngữ Nam hoặc phương ngữ Trung. Nhò so sánh, phân lập mới bộc lộ những nét đặc thù của mỗi một phương ngữ. 2.1. Tiêng Hà Nội trong mối quan hệ với các phương ngữ Băc - Trung - Nam. Theo cách phân chia truyến thông vê địa lí phương ngữ, phương ngữ tiễng Việt được chia thành ba vùng: phương ngữ miến Băc (cách gọi khấu ng^ là tiêng Băc); phương ngữ miên Trung (cách gọi khấu ngữ là tiêng Trung); phương ngữ miên Nam (cách gọi khâu ngữ là tiêng Nam). Trong cảm thức ngôn ngữ thông thường mang nặng dấu ấn thói quen dân gian của ngưòi Việt, người ỏ môi vùng thường chỉ có khả năng phân biệti tiếng Bắc với tiếng Nam và vối tiếng Trung (mà ít có khả năng phân biệt các tiều phương ngữ trong mỗi vùng). Nhiều ngưài đã quen gọi ngắn gọn tất cả những gì thuộc về “tiếng Bắc” là tiếng Hà Nội (trừ tiếng Nghệ An - Hà Tình được gọi là “tiếng Nghệ”); gọi tất cả những gì thuộc về “tiếng Nam” là “tiếng Sài Gòn”; gọi tất cả những gì thuộc vể “tiếng miển Trung” là tiếng “tiếng Huể’. Điều này có nghĩa rằng, sự khác biệt giữa tiếng Bắc vối tiếng Nam, với tiếng Trung (và với tiếng Nghệ) là khá điển hình: ở giọng, ỏ ngôn từ và phần nào có thể nhận ra ở cả phong cách diễn đat. Chẳng hạn: 235
  8. - Có thể nhận ra sự khác nhau về tiếng giữa ba miền ở giọng. Thí dụ, ngưòi Hà Nội nghe người Sài Gròn nói có cảm giác họ không có sự phân biệt giữa - ac với - at {mát - mác; mắc - mắt); giữa - ai với - ay {tai - tay; hai - hay); phát âm V thành dz (tức là không phải phân biệt V vói d: vô - dô”. Người Hà Nội nghe người H uế nói cũng có cảm giác họ không có sự phana biệt giữa thanh hỏi (?) vói thanh ngã (-): mủ - mủ; cú - củ. Trong khi đó, ngưòi Huế nghe người Hà Nội nói lại có cảm giác ngưòi Hà Nội không có sự phân biệt giữa s và x: xôi trong xa xôi với sôi trong nước sôi v.v... - Về m ặt từ vựng cũng vậy, có những từ chỉ đặc tning cho vùng phương này mà không đặc tn ĩn g cho vùng phương ngữ kia. Thí dụ, các từ má, ổng, cổ, ảnh, chỉ, ngoải u.v... là đặc trưng cho tiếng Sài Gòn; miềnh, o, rày, rứa v.v... là đặc trưng cho tiếng Huế. Người Hà Nội bấy lâu nay cũng nói mắc (giá mắc), n h í (6ô nhi) v.v... nhiing dưòng như chúng vẫn chưa ăn nhập lắm vối giọng Hà Nội (nếu so sánh các phát ngôn có những từ này bằng giọng Sài Gòn). So sánh tiếp hai câu sau có thể thấy rõ điều này: (1) “Anh nhớ viết thư cho em nghenl - Dạ\” và (2) là giọng Sài Gòn thì chắc chắn là một sự gưỢng gạo khó mà chấp nhận. Có thể thấy bằng cách từ phương ngữ này nhìn sang phương ngữ kia sẽ phát hiện được những nét riêng của mỗi phương ngữ. Có thể nhận ra được một số nét chung của tiếng Bắc trong đó có tiếng Hà Nội khi đem đối chiếu 236
  9. nó vói hai vùng phương ngữ Nam (tiếng Nam) và phưđng ngữ Trung (tiếng Trung). 2.2. Tiếng Hà Nội trong mỗi quan hệ với các tiểu phĩiơng ngữ của phương ngữ miền Bắc (tiếng Bắc) Ngưòi Bắc có thể nhận ra những khác biệt nổi trội làm nên đặc thù cho một sô" tiểu phương ngữ. Nét đặc thì rõ nhất là ỏ giọng. Thí dụ, người miền Bắc nếu để ý một chút, sẽ phân biệt đưỢc tiếng một sô' vùng: tiếng Sđn Tây với thaiứi huyền phát âm cao hơn một bậc và sự xích lại của thanh nặng vói thanh huyền; tiếng vùng Hải Phòng, Hải Dương với sự lẫn lộn trong cách phát âm n - l vằ cách phát âm e như ie; tiếng Thái Bình với âm r rung mạnh tr được phát âm uốh lưõi nhiíng hầu như mất r v.v... Theo cách nhìn nhận kiểu “loại trừ” này thì mặc nhiên tníốc hết, những tiếng nào có những đặc điểm trên sẽ không phải là tiếng Hà Nội. Còn tiếng Hà Nội có đặc tníng gì để “hễ nghe đến là biết liền” vẫn là một câu hỏi. 2.3 Tiếng Hà Nội với tiếng Việt toàn dân Khái niệm tiếng Việt toàn dân (hay tiếng Việt chuẩn) vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Cho tói nay đã có tói sáu đề xuất khác nhau về lựa chọn cách phát âm của tiếng Việt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, trên thực tế, tiếng Việt bấy lâu nay vẫn lấy cách phát âm miền Bắc và từ vựng của tiếng Việt miền Bắc mà tâm điểm là tiếng Hà Nội làm cơ sở. Điều đáng liíu ý là, trong sự cố gắng xây dựng một tiếng Việt chung “siêu phương ngữ” nhất là để tạo được sự tương ứng giữa cách đọc và cách viết, người ta muốn đưa 237
  10. yếu tố tích cực “trội” của một sô cách phát âm từ các phương ngữ khác nhau và tiếng Hà Nội (chăng hạn như, phải phân biệt được cách phát âm ír/cA; s/x ; r ld v.v...). Mặc dù vậy, tiếng Việt “siêu phưcíng ngữ” vẫn chỉ được thế hiện ở cách viết mà chưa thể hiện được ở giọng (chuẩn phát âm). Điều này thể hiện ỏ tiếng Việt “trưóc hết là giọng” của Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam với tiếng Việt của Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội không có gì khác nhau cả. Từ đây đặt ra một câu hỏi: phải chăng ở vào những thập niên cuối cùng của thế kỉ hai mươi này có thể đánh một dấu ngang bằng cách phát âm của tiếng Việt chung vói tiếng Hà Nội? 2.4 Tiếng Hà Nội với vấn đề đừi lí và cư dân Hà Nội. 2.4.1 Theo thòi gian - lịch sử, Hà Nội có những thay đổi về địa lí. Như vậy, nếu nhìn từ phương ngữ đại ư thì sẽ không có một khái niệm tiếng Hà Nội chung chung mà chỉ có một tiếng Hà Nội gắn với địa u Hà Nội ỏ từng giai đoạn lịch sử “tiếng Hà Nội - địa K theo phân kì của lịch s ử ’. Chẳng hạn như khi nói tiếng Hà Nội ở thập kỉ cuối của th ế kỉ 20 là phải gắn với đại lí - hành chính của giai đoạn này. 2.4.2. Cũng theo thòi gian, cư dân Hà Nội có bao sự thay đổi, di chuyển tương hỗ Bắc - Trung - Nam. Theo đó, có biết bao người từ các vùng miền nói các phương ngũ, tiểu phương ngữ khác nhau và cả những ngưòi thuộc các dân tộc anh em nói vừa tiếng dân tộc vừa tiếng Việt đến cư trú tại Hà Nội. Vậy, người Hà Nội (gắn với 238
  11. tiếng Hà Nội) là cách gọi theo nguyên quán hay theo hộ khẩu, hay theo sự cư trú hiện thòi? 2.4.3. Từ những điểu kiện 2.4.1 (địa lí) và 2.4.2 (cư dân) tất sẽ dẫn đến một loạt những tiếp xúc - giao thoa trong đó có giao thoa về ngôn ngữ - văn hoá (mà giao tiếp ngôn ngữ đã sử dụng thuật ngữ “xuyên văn hoá” hay “liên văn hoá”). Vối sự tăng cư dân từ bên ngoài và thay đổi bằng sự mỏ rộng địa K, người Hà Nội (vối nghĩa rộng của khái niệm này) luôn ở trong trạng thái giao tiếp xuyên văn hoá: phương ngữ - xuyên văn hoá ở ngưòi Kũih và ngôn ngữ - xuyên văn hoá ỏ người dân tộc. Thí dụ, một người xứ Nghệ sông ỏ Hà Nội, có thể sử dụng chuyển đổi hai hình thức giao tiếp: (1) giao tiếp bằng tiếng Nghệ và sử dụng cách ứng xử giao tiếp văn hoá theo kiểu xứ Nghệ trong gia đình, trong bạn bè đồng hương thân quen và (2) giao tiếp bằng tiếng Hà Nội và cách ứng xử giao tiếp văn hoá theo kiểu Hà Nội với những người trong cơ quan hay người ở lâu năm tại Hà Nội. Và, không ai có thể đảm bảo được rằng người ấy đã sử dụng ngôn ngữ - văn hoá một cách rạch ròi mà không pha tạp giữa (1) và (2). Đây chính là lí do tạo nên một hệ quả mà thuật ngữ giao tiếp gọi là “giao thoa”, “liên”, “xuyên”, còn trong dân gian gọi là “pha”. Tiếng Hà Nội nhờ vậy mà phong phú nhiừig cũng vì vậy mà xa gần cái gốc của nó. 3. Nêu ra những suy nghĩ bưốc đầu ở trên cũng là để chúng tôi muôn đề xuất đôi điều sau đây: 3.1. Có hai hưóng xác định tiếng Hà Nội: (1) bắt đầu từ cái gốc đầu tiên của Hà Nội, tức là từ địa lí - cư dần 239
  12. đầu tiên để xác định; (2) bắt đầu từ cuối th ế kỉ XX này theo cách loại trừ, sàng lọc dần để ngược dòng thòi gian xác định. 3.2. Xác định “chất giọng Hà Nội nguyên gốc” là rất khó nếu chúng tôi không muốn nói là lí tưởng. 3.3. Có thể xác định đưọlc phần nào những từ của tiếng Hà Nội nhò vào các văn bản viết về Hà Nội hoặc ca dao tục ngữ, địa danh v.v... 3.4. Tiếng Hà Nội của cuối th ế kỉ XX này cần được miêu tả cả về ngữ âm, từ vựng, phong cách - nghi thức giao tiếp để một m ặt thấy được tứih đa chiều của tiếng Hà Nội trong sự tiếp xúc ngôn ngữ - phương ngữ - văn hoá. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 1. V. Đexnhiskam, Bản về nội dung lịch sử của khái niệm phương ngữ// Chủ nghĩa Lê Nin và những vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học, M. 1970. 2. Nguyễn K im Thản, Lòi ăn tiếng nói của ngưòi Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1982. 3. Vũ Bá Hùng, Suy nghĩ về vai trò của hệ thống ngữ âm các phương ngữ tiếng Việt và vị trí của giọng nói Hà Nội trên các phưđng tiện thông tin đại chúng// Ngôn ngữ phương tiện thông tin đại chúng, TP. Hồ Chí Minh, 1999. 4. Hoàng Tuệ, Những vấn đề về phát âm tiếng Việư/ Ngôn ngữ phương tiện thông tin đại chúng, TP. Hồ Chí Minh, 1999. 5. Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nưốc (phương ngữ học), Nxb. KHXH, 1989. 240
  13. 6. Nguyễn Văn Khang, Những biến động của tiếng Việt trong thời kỳ đổi mới// Xây dựng và phát triển tiếng Việt các ngôn ngữ quốc gia khu vực, Hà Nội, 1998. 7, Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản, Nxb. KHXH, 1999. 241
  14. CÁI RIÊNG CỦA CA DAO, TỤC NGỮ THĂNG LONG - HÀ NỘI m N G U Y Ễ N X U Ầ N K ÍN ir Ca dao, tục ngữ Thăng Long - Hà Nội ra đời từ rất sớm, từ trước khi có tên “Hà Nội”, và tồn tại, phát triển cho đến ngày nay. Ca dao, tục ngữ nơi đây đã thu hút ca dao, tục ngữ cả nưóc, đã Thăng Long hoá, phổ cập hoá một sô' câu, mà có thể lúc ban đầu ra đòi ở một vùng quê hẻo lánh. Mặt khác, theo bưóc chân người Thăng Long - Hà Nội, theo bưốc chân người dân nơi khác có dịp ghé qua đất Kinh kỳ, ca dao, tục ngữ Hà Nội lại lan toả khắp vùng đất nưóc. Do đó có sự giao lưu văn hoá thường xuyên như vậy, ca dao tục ngữ ở đây phong phú về sô" lượng, đặc sắc về nghệ thuật. Đây là một nét riêng dễ nhận thấy. Ngoài ra, còn có những nét riêng khác của Hà Nội. 1. Phản ánh con ngườiy sự kiện, những dấu ấn văn hoá ở riên g Hà Nội: Nói đến Hà Nội xưa là người ta hình dung ra một đô thị phong kiến, trong là hoàng thành, ngoài cửa thành là các phường phố, các trại. Nói đến Hà Nội là chúng ta nói ’ PGS. TS., Viện nghiẽn cứu Văn hoá dân gian Việt Nam. 242
  15. đến hai khu vực: một là đô thị, nội thành, hai là các làng xã, các huyện ngoại thành. Chính đặc điểm này đã dẫn đến số lượng các nghề sản xuất phong phú và trình độ lao động nổi tiếng của ngưòi dân nơi đây: “Khéo tay hay nghề, đất là kẻ Chợ". Cảnh chợ búa đông vui ở thành Thăng Long được miêu tả rất rõ nét qua câu tục ngữ sau đây: Bán mít chợ Đông, bán hồng chợ Tây, bán mây chợ Huyện, bán quyển chợ Đào. Chợ Đông tức là chợ Cầu Đông, ngày nay là khu vực ngã tư phô' Ngõ Gạch và phố Hàng Đường, về chợ Tây, có người cho rằng ở khu vực bến ô tô Kim Mã hiện nay. Chợ Huyện ỏ vào khu vực Nhà thò lón bây giò. Chợ Đào chính là phố Hàng Đào, ở phía Bắc Hồ Hoàn lũếm. Lời ca dao dưối đây lại có rất duyên bởi nghệ thuật chơi chữ, dùng hai thứ tiếng “bưởi”, “bòng” khi nói về ■chợ Bưởi: Chợ Bưởi một tháng sáu phiên Ngày tư, ngày chín như duyên đèo bòng. Nhắc đến các chợ của Hà Nội, ta không thể nào quên chợ Đồng Xuân: ước gi minh lấy được ta Đ ể cùng buôn bán chợ xa chợ gần Vui nhất là chợ Đồng Xuân Kẻ buôn người bán xa gần thảnh thơi. Ngoài chợ này, đô thành Hà Nội còn có ba mươi sáu phố phường; trước kia mỗi phô' phường tập chung sản xuất và bán một mặt hàng: 243
  16. H àng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai H àng Buồm, hàng Thiếc, hàng H ài, h àn g K hay Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy, H àng Lờ, h àng Cót, hàng M ây, h àn g Đ àn P h ố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang H àng Mã, h àng M ắm , Đ ình N gang, hàng Đồng Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông H àng Hòm, h àng Đ ậu, hàng Bông, hàng Bè H àng Thùng, h àn g Bút, hàng Tre H àng Vôi, h àn g Giấy, hàng The, hàng Gà... Thăng Lon^ - H à Nội là đất học, là nơi tập chung nhiều nho sĩ. Vì vậy, làng cầu Cậy (tức Kiêu KỊ, huyện Gia Lâm) mới làm mực, làng Hồ Khẩu (nay thuộc quận Ba Đình) và làng Bưỏi (cũng thuộc quận Ba Đình) mối sản xuất nhiều giấy. Phản ánh đỉều này có câu tục ngữ ngắn gọn: M ự ? cầu Cậy, giấy làng Hồ và lời ca dao óng chuốt, tình tứ: Người ta buôn vạn hán trăm E m đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi Dám xin nho sĩ chớ cười Vi em làm g iấ y cho người viết thơ. Làm Vòng có nghề làm cốm rất công phu: M ang về nhặt, tuốt, luận bàn thóc dôi Người th ì nhóm hếp bắc nồi Người đem đ ã i thóc, đ ể người đ i rang Người đứng côĩ, kẻ gần sàng Nghe canh g à g á y p h àn nàn chưa xong... 244
  17. Hà Nội có những phường, trại chuyên trồng hoa như Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Nhật Tân: Đất Ngọc Hà, hoa Hữu Tiệp; Tương Nhật Tảo, đàx) Nhật Tân. Hà Nội đánh giặc từ thuở Hùng Vương dựng nưốc. Câu chuyện về người anh hùng làng Gióng đã từng lay động tâm tư bao thế hệ người dân Việt. Ngày mồng Chín tháng 4 âm lịch hàng năm, nhân dân nội, ngoại thành Hà Nội và đồng bào các tỉnh lân cận nô nức kéo về làng Phù Đổng (huyện Gia Lâm) và huyện Sóc Sơn dự lễ tưỏng niệm người anh hùng mà ca dao đã tạo bia lưu truyền: Nhớ xưa đang thuở triều Hùng Vũ Ninh nổi đánh bụi hồng nẻo xa Trời thương Bách Việt sơn hà Trong nơi thảo mãng nảy ra kì tài Lên ba đang tuổi anh hài Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền. Ca dao Hà Nội dám lên án những bề trên không gương mẫu. Về cuối đời chúa Trịnh Sâm say mê Đặng Thị Huệ (dân gian gọi là bà chúa Chè), gây ra lắm chuyện xằng bậy: Sự đời chỉ tại bà chúa Chè Cho nước chúa mất, cho nghè lòng xiêu. 2. Có cái nhìn vươn tới tầm tổng kết, bao quát, phản ánh hiện thực nhiều thcd, nhiều vùng: Dân tộc ta có truyền thống đấu tranh chông giặc ngoại xâm. Phản ánh lịch sử hào hùng và sinh động đó, không chỉ có ca dao tục ngữ. Nhưng bên cạnh sử biên 245
  18. niên, bên cạnh thơ văn bác học, bên cạnh các thần tích thần phả, bên cạnh truyền thuyết, thì ca dao Hà Nội đã góp phần xứng đáng vào việc phản ánh truyền thống ấy. Nếu như truyền thuyết và sử ca dân gian có ưu th ế trong việc xây dựng những hình tưỢng nhân vật giàu sức sống, nếu như sử biên niên và các th ần tích, th ần phả có khả năng ghi chép các trậ n đánh vói những số liệu cụ thể, với nhiều tên đất, tên ngưòi kèm theo thì với số tiếng, số dòng ngắn gọn hơn nhiều lần, ca dao thiên về xu hưóng đúc kết đánh giá. Chỉ vối bốh dòng thơ (gồm 28 tiếng), lòi ca dao dưói đây đã ghi nhận bốh cuộc kháng chiến của sáu th ế kỉ: Sâu n h ất là sông Bạch Đ ằng Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan Cao n h ất là núi L am Sơn Có ông Lể Lợi trong ngàn tiến ra. Ba lần giặc tan ỏ sông Bạch Đằng là: - Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán. - Năm 981, Lê Hoàn đánh thắng quân Tống. - Năm 1288, Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên Mông. - Thế kỷ 15, núi Lam Sđn (Thanh Hoá) là căn cứ địa của cuộc kháng chiến do Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo chông xâm lược Minh. Khi giặp Pháp xâm lược, triều đình Nguyễn lần lượt dâng đất cầu hoà để rồi cuối cùng cúi đầu nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Ca dao Hà Nội đã phê phán vua nhà Nguyễn: 246
  19. Nhâm Ngọ thi có sao đuôi Đến năm Quý Mùi thi giặc phá ra Nhà vua thăn với Lang Sa Để Tây ăn hết trứng gà An Nam. Lòi ca dao này ghi lại sự kiện sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, năm Nhâm Ngọ (1882), đã đánh phá ngoài thành, chiếm Hồng Gai và Nam Định vào năm Quý Mùi (1883). Lang Sa là tên gọi tắt của Phú Lang Sa, tên phiên âm thường dùng ở cuối thế kỷ 19 để chỉ người Pháp, nưốc Pháp. Trong việc phản ánh làng nghề, đặc sản văn hóa, ca dao Hà Nội cũng có những lời vươn tối tầm tổng kết. Những làng bao quanh nội thành và những làng ở các tỉnh lân cận, bên cạnh nghề nông thường có một nghề nữa. Chính kinh đô, đô thị đã kích thích các nơi phát triển các ngành nghề vì đô thị là nđi tiêu thụ lí tưởng. Vì vậy, chỉ có những chàng trai ỏ Hà Nội xưa mói có điều kiện nhận biết và mơ ước đến nhiều đặc sản của nhiều vùng trong đám cưới của anh ta: Trên trời có đám mây xanh ơ giữa mây trắng xung quanh mây vàng ước gi anh lấy được nàng Hà Nội, Nam Định dọn đàng đưa dâu Tỉnh Thanh cung đốn trầu cau Nghệ An thời phải thui trâu mổ bò Hưng Yên quạt nước hỏa lò Thái Binh giã gạo, giã giò, gói nem 247
  20. N in h B inh trả i chiếu bưng m âm H ải Dương vót đũa, c ầ u N ôm đúc nồi Sơn Tây gán h đ á nung vôi Bắc Cạn thời p h ả i thổi xôi nâu chè. 3. ít sử dụng chữ Hán, ít có những lời ca dao khó hiểu; Thăng Long - Hà Nội là nơi tập trung quan chức, nho sĩ. Đã có trường hỢp một bài thơ của dòng văn học viết được dân gian sử dụng như một sáng tác dân gian. Đã nhiều ngưòi không biết đó là sáng tác của ông nghè Dương Khê (1839 - 1902) [3; 51-54]. Điều này cho thấy mối quan hệ qua lại giữa hai dòng dân gian và bác học trong văn học Thăng Long - Hà Nội đưỢc thể hiện rõ nét hơn so với văn học nhiều nơi khác. Cũng xin lưu ý, trong dân chúng - những ngưòi sáng tác và lưu truyền folklore - có không ít nho sĩ bình dân. Nhắc đến nho sĩ là nhắc đến những người biết chữ Hán, am hiểu và hay sử dụng các điển tích. Thăng Long - Hà Nội là nơi tập trung nhiều nho sĩ. Vậy mà trong ca dao Hà Nội, các tác giả ít sử dụng chữ Hán; từ bác nông phu ở ngoại thành, đến nghệ nhân ở các phố nghề cho đến các bà, các chị ở chợ Đồng Xuân, chợ Bưởi... đều dễ dàng hiểu, thuộc và nhó thơ ca dân gian nơi đây. Điều này th ậ t là đặc biệt nếu chúng ta so sánh với ca dao các vùng miền khác. Xứ Nghệ là nơi có nhiều nho sĩ. Thơ ca dân gian nơi đây không ít tiếng địa phường và chữ Hán; 248
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2