intTypePromotion=1
ADSENSE

Khó khăn của học viên Lào tại Học viện Kỹ thuật Quân sự trong việc nghe hiểu tiếng Việt và một số biện pháp khắc phục

Chia sẻ: Kethamoi Kethamoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

33
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bốn kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng nghe hiểu được coi là một trong những kỹ năng khó nhất. Do đó, việc rèn luyện và phát triển kỹ năng nghe hiểu phải đi trước một bước. Bài viết sẽ tìm hiểu những khó khăn của học viên Lào khi nghe hiểu tiếng Việt thông qua phương pháp so sánh, đối chiếu một số điểm cơ bản giữa hai ngôn ngữ Việt-Lào, từ đó đề xuất một số phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm khắc phục phần nào những khó khăn trong kỹ năng nghe-hiểu của học viên. Các biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng nghe hiểu được trình bày thông qua một số biện pháp chung như trau dồi kỹ năng nghe tích cực, nghe nắm ý chính, nghe kết hợp với hình ảnh, nghe giữa chuyên sâu và mở rộng… Bài viết cũng giới thiệu một số dạng bài nghe ở những cấp độ khác nhau, giúp giảng viên chủ động hơn trong việc thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với trình độ của học viên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khó khăn của học viên Lào tại Học viện Kỹ thuật Quân sự trong việc nghe hiểu tiếng Việt và một số biện pháp khắc phục

TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHÓ KHĂN CỦA HỌC VIÊN LÀO<br /> TẠI HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ<br /> TRONG VIỆC NGHE HIỂU TIẾNG VIỆT<br /> VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC<br /> NGUYỄN THỊ THANH THỦY*<br /> *<br /> Học viện Kỹ thuật Quân sự,  thuytiengviet@gmail.com<br /> Ngày nhận bài: 27/02/2019; ngày sửa chữa: 22/5/2019; ngày duyệt đăng: 30/5/2019<br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Trong bốn kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng nghe hiểu được coi là một trong những kỹ năng khó nhất.<br /> Do đó, việc rèn luyện và phát triển kỹ năng nghe hiểu phải đi trước một bước. Bài viết sẽ tìm<br /> hiểu những khó khăn của học viên Lào khi nghe hiểu tiếng Việt thông qua phương pháp so sánh,<br /> đối chiếu một số điểm cơ bản giữa hai ngôn ngữ Việt-Lào, từ đó đề xuất một số phương pháp<br /> giảng dạy phù hợp nhằm khắc phục phần nào những khó khăn trong kỹ năng nghe-hiểu của học<br /> viên. Các biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng nghe hiểu được trình bày thông qua một số biện pháp<br /> chung như trau dồi kỹ năng nghe tích cực, nghe nắm ý chính, nghe kết hợp với hình ảnh, nghe<br /> giữa chuyên sâu và mở rộng… Bài viết cũng giới thiệu một số dạng bài nghe ở những cấp độ<br /> khác nhau, giúp giảng viên chủ động hơn trong việc thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với trình<br /> độ của học viên.<br /> Từ khóa: nghe-hiểu, nghe tích cực, nghe mở rộng, nghe qua hình ảnh, nghe nhận biết<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ học viên Lào nói chung đang theo học tiếng Việt<br /> tại Việt Nam.<br /> Từ kinh nghiệm hơn 10 năm giảng dạy tiếng<br /> Việt cho học viên quân sự Lào trình độ đại học tại Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin<br /> Học viện Kỹ thuật Quân sự (HVKTQS), chúng tôi tập trung tìm hiểu về một số điểm khác biệt giữa<br /> nhận thấy có một số khó khăn cơ bản của học viên hai ngôn ngữ Việt-Lào gây nên những cản trở<br /> Lào khi học tiếng Việt như: trình độ, lứa tuổi học trong quá trình nghe hiểu của học viên, từ đó đưa<br /> viên trong một lớp không đồng đều, không được ra một số biện pháp khắc phục nhằm nâng cao kỹ<br /> sinh hoạt cùng học viên Việt Nam, điểm khác biệt năng nghe hiểu.<br /> giữa hai ngôn ngữ… Tất cả những điều này là rào<br /> cản khiến học viên Lào nghe hiểu chưa tốt. Mặc 2. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI NGÔN<br /> dù đối tượng khảo sát của chúng tôi mới chỉ dừng NGỮ VIỆT-LÀO<br /> lại ở học viên Lào đang học tại HVKTQS, nhưng 2.1. Khác biệt về thanh và dấu thanh<br /> tính phổ quát của vấn đề nghiên cứu theo chúng tôi<br /> không chỉ giới hạn trong môi trường HVKTQS mà Đặc điểm đầu tiên dẫn đến những khó khăn<br /> nó mang tính chất chung đối với tất cả học viên, của học viên Lào khi nghe hiểu tiếng Việt là khó<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 97<br /> v TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> khăn trong việc phân biệt dấu thanh. Điều này xuất Tuy nhiên, trên thực tế, người Lào thường<br /> phát từ sự khác nhau về dấu thanh giữa tiếng Lào chỉ sử dụng hai thanh là “mạy ệc” và “mạy thô”.<br /> và tiếng Việt. Chính vì lẽ đó, khi nói, đọc, và nhất là khi nghe<br /> tiếng Việt, học viên Lào luôn cảm thấy lúng túng<br /> Tiếng Lào có 4 dấu (mạy ệc, mạy thô, mạy t-ri, với dấu thanh, đặc biệt là các dấu ngã, nặng, hỏi<br /> mạy chặt-ta-wa) nhưng lại có 6 thanh (cao thường; trong tiếng Việt.<br /> trung bình – thấp thường; trung bình – thấp thô;<br /> thấp ệc; cao – trung bình ệc; cao thô). Người Lào 2.2. Khác biệt về cấu trúc từ vựng<br /> gọi tên thanh tiếng Lào theo phụ âm đầu vần là phụ<br /> âm cao, phụ âm trung bình hay phụ âm thấp kết “Tiếng Việt là tiếng đơn âm tiết, … không có<br /> hợp với dấu hoặc không kết hợp với dấu. Nghĩa là biến hóa hình thái” (Nguyễn Tài Cẩn, 1999, tr.44-<br /> người Lào phát âm ra một tiếng có dấu không chỉ 45). Về cơ bản, tiếng Việt và tiếng Lào đều là<br /> phụ thuộc vào việc dấu thanh được hiển thị trên từ ngôn ngữ đơn lập, đơn âm tiết, không chia động<br /> mà còn phụ thuộc vào quy tắc kết hợp phụ âm đầu, từ, giống, số, cách mà chỉ thêm các phụ từ để chỉ<br /> nguyên âm và âm chắn cuối (Ví dụ: Phụ âm đầu thì của hành động. Đây được coi là điểm giống<br /> nhau cơ bản giữa hai ngôn ngữ Việt và Lào. Điều<br /> + nguyên âm ngắn + âm chắn cuối là ກ, ດ, ບ thì<br /> này vừa là một thuận lợi cho học viên Lào khi học<br /> dấu phát ra sẽ là thanh sắc; Phụ âm đầu + nguyên<br /> tiếng Việt nói chung và luyện kỹ năng nghe nói<br /> âm dài + âm chắn cuối là ກ, ດ, ບ thì dấu phát ra<br /> riêng, song đôi khi nó cũng là một cản trở. Bởi<br /> sẽ là thanh nặng, …). Điểm khác biệt nữa là trong<br /> vì, học viên Lào thường nghĩ cứ ráp các từ vào<br /> 6 thanh nói trên được sử dụng trong từ có âm tiết<br /> là có thể tạo thành một câu do đó khi nghe, học<br /> vang và trong từ có âm tiết tắc lại phát thành những<br /> viên thường không có ý thức nghe cả câu/cả đoạn<br /> dạng tương ứng khác nhau. Các thanh trong tiếng để hiểu đại ý mà có xu hướng nghe từng từ, hiểu<br /> Lào đôi khi tương ứng với các thanh trong tiếng nghĩa của các từ đơn lẻ trong một đoạn âm thanh<br /> Việt, nhưng đôi khi không có thanh tương đương rồi suy ra nghĩa của câu. Điều này rất dễ dẫn đến<br /> trong tiếng Việt. Sự tương ứng của dấu thanh giữa hai sai lầm mà học viên Lào thường mắc phải.<br /> hai ngôn ngữ thể hiện như bảng 1.<br /> Thứ nhất, nếu học viên nghe không tốt sẽ dẫn<br /> Bảng 1. Sự tương ứng của dấu thanh giữa hai đến việc phân xuất từ trong câu sai. Ví dụ câu<br /> ngôn ngữ “Vàng phải thử trong lửa mới biết vàng thật hay<br /> Sự tương ứng<br /> giả”, được học viên nghe thành các “từ”: Vàng<br /> Dấu thanh tiếng Lào trong tiếng phải / thử trong / lửa mới / biết vàng / thật hay /<br /> Việt giả” rồi sau đó dùng từ điển để tra các “từ” này.<br /> Thanh cao: được tạo bởi “mạy t-ri’ và được viết là Thanh sắc<br /> Thứ hai, nếu học viên có thói quen nghe chuỗi<br /> ໊<br /> “ ” như trong từ ກ໊າ và được phát âm là “cá”<br /> âm thanh trên sự phân xuất từng âm tiết cũng sẽ<br /> Thanh thấp: được tạo bởi “mạy ệc” và được viết Thanh huyền dẫn đến việc học viên tra nghĩa của từng âm tiết,<br /> ่<br /> là “ ” tức là một dấu nháy như thanh sắc ở phía song “nghĩa của cả câu thậm chí nghĩa của từ đa<br /> trên, ví dụ trong từ ກ່າ được phát âm là “cà”<br /> âm tiết không phải lúc nào cũng là nghĩa của “tổng<br /> Thanh luyến lên: được tạo bởi “mạy chặt-ta-wa” Thanh hỏi số” các âm tiết trong cụm từ” (Nguyễn Ngọc Ân,<br /> ๋<br /> và được viết là “” tức là một dấu cộng ở phía trên 2011, tr.130). Tôi đã gặp trường hợp một học viên<br /> đầu như từ ກ໋າ và được phát âm là “cả” Lào tra nghĩa của hai từ “giáo” và từ “sư” một<br /> Thanh luyến xuống: được gọi là “mạy thô” và Thanh nặng cách tách rời khi nghe được từ “giáo sư” sẽ khiến<br /> ้<br /> được viết là “ ” giống như dấu ngã của tiếng<br /> cho nghĩa của từ bị làm méo mó, thậm chí sai lệch<br /> Việt ở phía trên nhưng nó phát âm gần giống hẳn so với ý nghĩa thực của từ. Tóm lại, nếu học<br /> thanh nặng trong tiếng Việt như từ này ກ້າ và viên giữ thói quen hiểu nghĩa theo cách ghép các<br /> được phát âm là “cạ”<br /> từ lại với nhau, hiểu theo cách phân xuất từng từ/<br /> Thanh bằng: nghĩa là không có dấu gì ở trên Thanh không âm tiết một thì sẽ rất khó để nghe và hiểu được<br /> hoặc dưới như từ ກາ này được phát âm là “ca”<br /> chính xác nội dung của lời nói.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 98 Số 20 (7/2019)<br /> TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> 2.3. Khác biệt về từ mang ý nghĩa ngữ pháp Những khác biệt về ngôn ngữ trên là một trong<br /> những yếu tố gây ra sự khó khăn cho học viên<br /> Ngôn ngữ Lào khá đơn giản, ít tồn tại các từ trong kỹ năng nghe hiểu, nhất là giai đoạn đầu học<br /> mang ý nghĩa ngữ pháp đa nghĩa, trong khi tiếng tiếng Việt. Từ thực tế trên, tôi xin đề xuất một số<br /> Việt thì ngược lại. Các từ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng nghe hiểu của<br /> trong tiếng Việt đa dạng và phụ thuộc rất nhiều vào<br /> học viên Lào khi học tiếng Việt như sau:<br /> bối cảnh giao tiếp. Tính đa nghĩa này gây ra nhiều<br /> khó khăn cho học viên nói chung và khó khăn 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC<br /> trong kỹ năng nghe hiểu nói riêng. Cụ thể, trong<br /> giao tiếp, học viên thường cảm thấy lúng túng để 3.1. Biện pháp chung<br /> hiểu chính xác nghĩa của từ. Ví dụ thử khảo sát<br /> một từ “đã” trong chức năng là từ mang ý nghĩa 3.1.1. Trau dồi kỹ năng nghe tích cực, nghe<br /> ngữ pháp chúng ta sẽ thấy, ở những vị trí khác nắm ý chính cho học viên<br /> nhau, từ này sẽ làm cho ý nghĩa của câu được hiểu<br /> theo nghĩa khác nhau: Khi học tiếng Việt, học viên Lào thường có tư<br /> duy lắp ráp các từ đơn để diễn đạt ý muốn nói (ví<br /> - Chỉ thời gian trong quá khứ: Anh ấy đã về<br /> dụ: “Lúc 5h30 dậy, đánh răng, ăn sáng, tôi đi học”)<br /> nước rồi.<br /> mà đôi khi “không để ý” đến cấu trúc ngữ pháp cả<br /> - Chỉ thời gian trong tương lai gần, mang ý câu. Tư duy này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình<br /> nghĩa tình thái, ý nói thời gian đi quá nhanh: Ngày nghe vì học viên thường có thói quen nghe từ, nghe<br /> mai đã là thứ hai rồi à? câu mà không nghe ý để hiểu nội dung chính của<br /> bài. Chính vì thế, giảng viên phải trau dồi kỹ năng<br /> - Chỉ thời gian xảy ra trong quá khứ nhưng còn nghe tích cực, có chủ đích cho học viên. Muốn như<br /> tiếp diễn đến hiện tại: Nó đã nghỉ suốt một tuần rồi. vậy, giảng viên nên phát triển dạng bài nghe như:<br /> nghe và lựa chọn thông tin chính cho từng đoạn<br /> - Chỉ mức độ hoàn toàn đầy đủ: Bác cứ ăn đi<br /> rồi phát triển lên thành nghe và tìm ý chính cho<br /> cho đã.<br /> cả bài. “Ngoài việc nghe, hiểu, giảng viên cũng<br /> - Chỉ một việc được ưu tiên làm trước một việc cần rèn cho học viên kỹ năng phán đoán” (Nguyễn<br /> khác: Anh cứ ngồi nghỉ cho lại sức đã rồi đi đâu Văn Thông 1997, tr.47). Việc học viên không biết<br /> hãy đi. một số từ trong bài nghe là chuyện bình thường.<br /> … Tuy nhiên, người nghe có thể đoán nghĩa của từ,<br /> Vì vậy, nếu học viên không hiểu rõ bản chất của bài dựa vào chủ đề nghe, bối cảnh giao tiếp,<br /> của từ ngữ pháp thì sẽ khó hiểu được đúng ý nghĩa cấu trúc ngữ pháp để hiểu đúng nội dung toàn bài.<br /> của câu ngay cả khi nghe được.<br /> 3.1.2. Tạo hứng thú cho học viên thông qua<br /> 2.4. Khác biệt về vị trí của từ chỉ tần suất và các bài nghe kết hợp hình ảnh<br /> số từ-loại từ trong câu<br /> Trong những năm gần đây, việc sử dụng video<br /> Tiếng Việt Tiếng Lào<br /> trong giảng dạy ngôn ngữ ngày càng phổ biến. Nó<br /> tạo hứng thú học cho học viên trong việc nâng cao<br /> Từ chỉ Thường đứng ngay sau chủ Thường đứng cuối câu:<br /> tần suất ngữ hoặc đứng đầu câu: chất lượng kỹ năng nghe hiểu. Khi học viên nghe<br /> VD: Nó luôn luôn đến lớp (Măn pày hiên xạ lượi và nhìn, họ có thể dễ dàng hiểu ý nghĩa lời nói<br /> muộn. lượi)<br /> cũng như tâm trạng thông qua cử chỉ, điệu bộ và<br /> Số từ, Số từ + loại từ + danh từ Danh từ + số từ + loại từ biểu cảm gương mặt của người nói. Các tài liệu<br /> loại từ VD: Tôi mua hai cái áo. Khọi xự sựa sỏong phửn)<br /> nghe nên gồm nhiều cấp độ từ dễ đến khó, tạo<br /> Chị ấy có hai con. (Ượi nặn mi lục sỏong cơ hội cho học viên được tiếp xúc với ngôn ngữ<br /> khôn)<br /> tự nhiên, phong phú và sinh động. Ví dụ: giảng<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 99<br /> v TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> viên cho học viên luyện nghe hiểu qua các video của học viên. Ở đây, chúng tôi xin đề cập kỹ hơn<br /> giới thiệu về món ăn, điểm du lịch, đất nước, con việc thiết kế bài nghe ở giai đoạn đầu.<br /> người, … Áp dụng phương pháp này có thể làm<br /> tăng sự nhiệt tình, nuôi dưỡng niềm yêu thích của 3.2.1. Cấp độ nghe mang tính chất máy móc<br /> học viên đối với hoạt động nghe hiểu và từ đó giúp<br /> họ đạt được thành công trong việc học tiếng Việt Đây là cấp độ nghe giúp học viên sao chép,<br /> nói chung. thiết lập một hệ thống ngữ âm, từ vựng mới trong<br /> não bộ làm cơ sở cho việc phát triển ngôn ngữ thứ<br /> 3.1.3 . Kết hợp nghe chuyên sâu và nghe mở rộng hai. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2013, tr.501) cho<br /> rằng: “Rèn luyện kỹ năng nghe trong giai đoạn đầu<br /> Mục đích của nghe chuyên sâu là xây dựng tiếp nhận ngôn ngữ là rất quan trọng. Nó giúp học<br /> các kỹ năng nghe cơ bản còn nghe mở rộng là để viên điều chỉnh phát âm, phân biệt từ, các cụm từ<br /> nâng cao và mở rộng tính hiệu quả cho kỹ năng trên một dòng âm thanh và nhận thức được ý nghĩa<br /> nghe chuyên sâu, từ đó cải thiện khả năng nghe nói của cả câu”. Việc rèn luyện kỹ năng nghe ở giai<br /> chung cho học viên. Do vậy, trong giảng dạy kỹ đoạn này gồm những bước cơ bản có thể áp dụng<br /> năng nghe hiểu, giảng viên nên hướng dẫn học viên thành các cấp độ bài tập từ dễ đến khó, từ sao chép<br /> kết hợp cả kỹ năng nghe mở rộng lẫn chuyên sâu. đến tái tạo như sau:<br /> Học viên nên luyện nghe các nội dung liên quan<br /> đến những khía cạnh của cuộc sống hàng ngày, - Giới thiệu ngữ âm cơ bản: Giảng viên miêu tả<br /> khoa học và công nghệ, tài liệu chuyên ngành... cấu âm, đọc hệ thống nguyên âm, phụ âm, so sánh<br /> Giảng viên phải tạo ta môi trường nghe thu hút cao độ của dấu thanh, học viên nghe và nhắc lại.<br /> được sự quan tâm của học viên khiến họ thêm<br /> đam mê và nhiệt tình đối với việc học tiếng Việt. Như trên chúng tôi đã trình bày, học viên Lào<br /> khá yếu trong khi phát âm các từ/tiếng có chứa dấu<br /> 3.1.4. Kết hợp nghe với rèn các kỹ năng khác ngã, nặng, hỏi. Vì vậy, phần này giảng viên cần<br /> dành thời gian nhiều hơn để luyện các từ/tiếng có<br /> Trong giảng dạy nghe hiểu, giảng viên nên kết chứa dấu thanh này.<br /> hợp phát triển kỹ năng nghe cùng với các kỹ năng<br /> khác như nói, đọc và viết. Ví dụ: sau khi nghe, học Ví dụ: Nghe và điền dấu thanh thích hợp<br /> viên có thể kể lại nội dung bài nghe hoặc tham gia<br /> thảo luận về những gì họ nghe được. Bằng cách la – la – la ( lả - lã – lạ); ba – ba – ba ( bạ – bả<br /> này, học viên học được cách kết hợp giữa nghe và - bã) ; le – le – le (lẽ – lẹ – lẻ), …<br /> nói. Ngoài ra, giảng viên cũng có thể kết hợp giữa<br /> nghe và viết. Ví dụ, sau khi nghe, giảng viên yêu Các dấu thanh này sẽ bị xáo trộn, đổi chỗ liên<br /> cầu học viên viết về ý nghĩa của bài nghe hoặc viết tục để học viên nghe và nắm được độ cao thấp,<br /> tóm tắt lại nội dung của bài. khác nhau của dấu thanh.<br /> <br /> Ngoài những biện pháp chung kể trên, để khắc - Phát âm từ - nghe và nhắc lại. Việc phát âm<br /> phục những khó khăn trong nghe hiểu đối với học từ, nghe và nhắc lại nhiều lần giúp học viên nhớ<br /> viên Lào học tiếng Việt, theo chúng tôi có nhiều từ, cụm từ để tránh trường hợp đọc/phân xuất từ<br /> cách thiết kế bài luyện ứng với trình độ khác nhau không đúng.<br /> của học viên.<br /> - Phát âm các câu ngắn – nghe và nhắc lại. Giai<br /> 3.2. Biện pháp chuyên biệt đoạn nghe câu, giảng viên nên cho học viên nghe<br /> nhiều câu có số từ, loại từ và từ chỉ tần suất để học<br /> Ở mỗi cấp độ nghe khác nhau, giảng viên sẽ có viên nắm chắc hơn vị trí của các từ loại này trong<br /> cách thiết kế bài nghe sao cho phù hợp với trình độ tiếng Việt.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 100 Số 20 (7/2019)<br /> TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> Ví dụ: Nghe và nhắc lại các câu sau: các kiểu cấu âm cơ bản trong tiếng Việt, tiếp nhận<br /> được trọng âm và ngữ điệu của lời nói tạo nền tảng<br /> Họ thường xuyên đi chơi vào cuối tuần. vững chắc trong học tập, giao tiếp sau này.<br /> Chúng tôi luôn luôn giúp đỡ lẫn nhau.<br /> Anh ấy mới mua một cái máy vi tính. 3.2.2. Cấp độ nghe nhận biết<br /> Chị ấy mượn 2 quyển sách ở thư viện.<br /> Ở cấp độ này, mức độ nghe đã được đẩy lên<br /> Lưu ý là, ở giai đoạn này, để học viên có thể một yêu cầu cao hơn. Học viên không chỉ cần nghe<br /> nghe và nhắc lại các câu một cách trơn tru thì trước được vỏ âm thanh mà còn phải hiểu được ý nghĩa<br /> khi đọc cả câu, giảng viên nên cho học viên đọc các của từ, học viên cũng được rèn luyện ý thức nghe<br /> từ/cụm từ trong câu, sau đó mới đọc trơn cả câu. cả câu để nắm bắt ý. Ở cấp độ nghe này, giảng viên<br /> có thể áp dụng một số dạng bài tập sau:<br /> - Nghe theo dây chuyền: Giảng viên nói một<br /> từ hoặc một câu ngắn cho học viên A nghe, học - Nghe một đoạn văn (hoặc đoạn hội thoại hoặc<br /> viên A nói lại cho học viên B, học viên B nói lại xem một đoạn clip) ngắn và lựa chọn phương án<br /> cho học viên C.... Và học viên cuối cùng nói lại đúng trong số các câu trả lời cho sẵn dưới dạng<br /> cho giảng viên nghe. Sau đó giảng viên đưa ra câu trắc nghiệm: A, B, C.<br /> đúng. Nếu học viên sai giảng viên sẽ sửa trực tiếp<br /> và chỉ ra lỗi sai của học viên. Ví dụ: Giảng viên chuẩn bị một clip có hình ảnh<br /> đẹp về ngày Tết Nguyên đán. Tốc độ nói trong clip<br /> Cũng với bài tập này, giảng viên hoàn toàn có phải phù hợp với trình độ học viên, từ ngữ rõ ràng.<br /> thể chuẩn bị và chia lớp thành các đội chơi với<br /> * Trước nghe/xem: Giảng viên cho học viên<br /> nhau theo hình thức: Giảng viên viết ra giấy một<br /> đọc trước một số từ khó (nếu cần, giảng viên có<br /> câu ngắn, (trên đó viết luôn sự phân xuất của từ).<br /> thể giải thích các cụm từ khó): tháng Giêng, tháng<br /> Ví dụ: Chạp, lễ cúng tiễn, trang hoàng, trưng tết<br /> <br /> “Mùa xuân / là / tết / trồng cây” Tết Nguyên đán<br /> “Nhân dịp năm mới, / em / đến / chúc Tết / anh<br /> chị / và / các cháu” Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta<br /> là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam. Chính Tết<br /> Giảng viên đọc từ/câu cho học viên 1 nghe. diễn ra trong 3 ngày là ngày mồng 1 mồng 2 và<br /> Học viên 1 nói cho học viên 2 nghe, học viên 2 nói mồng 3 tháng Giêng Âm lịch, nhưng thực tế từ sau<br /> lại từ/câu mà mình nghe được học viên 3 nghe, cứ ngày 23 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch), sau khi<br /> thế cho đến người cuối cùng của nhóm sẽ là người làm lễ cúng tiễn ông Táo về trời thì không khí Tết<br /> nói từ/câu mà mình nghe được từ bạn cho giảng đã bắt đầu đến mọi nhà. Đêm 30 tháng Chạp gọi<br /> viên nghe. Cuối cùng, giảng viên sẽ đưa tờ giấy là đêm giao thừa. Vào dịp tết, nhà nào cũng dọn<br /> có chữ để cả nhóm cùng nhận xét xem bạn nghe dẹp, trang hoàng sạch sẽ. Người miền Bắc thường<br /> có đúng không, cách phân xuất từ có đúng không. mua hoa đào còn người miền Nam thường mua<br /> hoa mai về trưng tết. Mọi người cùng tất bật chuẩn<br /> Cấp độ nghe thứ nhất, giảng viên áp dụng bị các món ăn cho ngày tết như giò, chả nem, canh<br /> nhiều trong thời gian đầu học viên học ngữ âm. bóng, … nhưng món ăn không thể thiếu với người<br /> Các dạng bài tập nghe kiểu này đơn giản nhưng Việt vào dịp đặc biệt này là bánh chưng. Ngoài ra,<br /> lại rất cần thiết vì loại bài tập mang tính chất máy trong 3 ngày Tết, người dân Việt Nam thường có<br /> móc sẽ giúp học viên sao chép, thiết lập một hệ phong tục đi thăm viếng và chúc Tết gia đình, họ<br /> thống ngữ âm, từ vựng mới trong não bộ làm cơ hàng, bạn bè, làng xóm để hỏi thăm những điều đã<br /> sở cho việc phát triển ngôn ngữ thứ hai. Dạng bài làm được trong năm cũ và chúc nhau một năm mới<br /> luyện này cũng giúp học viên sẽ lĩnh hội trọn vẹn tốt lành, may mắn, phát tài phát lộc.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 101<br /> v TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> * Trong nghe: Giảng viên mở clip/đọc 2 lần để *Cuối cùng: giảng viên sửa những lỗi sai (nếu<br /> học viên nghe; học viên nghe và lưu nhớ lại những có) cho học viên và củng cố lại bài nghe.<br /> thông tin cần thiết.<br /> - Nghe xác nhận thông tin đúng/sai: Học viên<br /> * Sau nghe: Học viên làm bài tập nghe nhận nghe một đoạn hội thoại (hoặc nghe/xem clip), sau<br /> biết dưới dạng trắc nghiệm: đó giảng viên đưa ra các phương án để học viên<br /> kiểm tra xem thông tin đúng/sai.<br /> 1. Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, Tết<br /> Ta là dịp lễ ……….. nhất của Việt Nam. - Nghe và điền những từ còn thiếu vào chỗ<br /> trống. Giảng viên chuẩn bị một số đoạn văn (hội<br /> A. quan trọng thoại), lược bớt một số từ và tạo thành chỗ trống.<br /> B. trang trọng Giảng viên đọc đoạn văn nguyên bản, học viên<br /> C. thận trọng nghe và điền những từ còn thiếu vào chỗ trống.<br /> <br /> 3. Chính Tết diễn ra trong 3 ngày là ………….. - Nghe thông qua một trò chơi: học viên tham<br /> tháng Giêng Âm lịch. gia theo từng cặp: học viên A miêu tả một bạn nào<br /> đó trong lớp, học viên B nghe và đi tìm người mà<br /> A. ngày 30 mồng 1 và mồng 2 A miêu tả.<br /> B. ngày mồng 2, mồng 3 và mồng 4 <br /> C. ngày mồng 1 mồng 2 và mồng 3 Ở cấp độ nghe thứ hai này, tính chủ động của<br /> học viên đã được phát huy. Ở đây, học viên phải chú<br /> 3. Đêm giao thừa là đêm …... tâm hơn để nghe không chỉ là nhắc lại được đúng<br /> vỏ ngôn ngữ mà quan trọng hơn là phải nắm được<br /> A. 20 tháng Chạp<br /> ý nghĩa mà ngôn ngữ chuyển tải. Giảng viên cần<br /> B. 30 tháng Chạp<br /> lưu ý lựa chọn những bài tập phù hợp với trình độ<br /> C. 30 tháng Giêng<br /> học viên, sát với thực tế giao tiếp sẽ tạo được hiệu<br /> 4. Loại hoa mà người miền Bắc thường mua về ứng học tập tích cực. Cũng cần nhấn mạnh thêm,<br /> trưng tết là …... để học viên nghe tốt thì cấp độ nghe 1 và 2 là cấp<br /> độ nghe cơ bản và quan trọng nhất, giúp học viên<br /> A. hoa hồng nhận thấy những điểm khác biệt trong hai ngôn<br /> B. hoa đào ngữ, từ đó tránh những sai sót đáng tiếc khi nghe.<br /> C. hoa mai<br /> 3.2.3. Cấp độ nghe hiểu<br /> 5. ………… là món ăn đặc biệt không thể thiếu<br /> với người Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Giảng viên chuẩn bị một đoạn hội thoại với<br /> độ khó và độ dài tuỳ thuộc vào trình độ của học<br /> A. chả nem viên, trong đó có chứa đựng các thông tin, các mẫu<br /> B. giò cần luyện tập. Học viên nghe đoạn hội thoại (bằng<br /> C. bánh chưng cách nghe qua băng, nghe nhìn đoạn video hoặc<br /> nghe trực tiếp giảng viên đọc...), sau đó làm các<br /> 6. Trong 3 ngày Tết, người dân Việt Nam bài tập theo kiểu:<br /> thường có phong tục …....<br /> - Nghe - trả lời trực tiếp: Giảng viên đặt các<br /> A. đi thăm viếng câu hỏi theo nội dung bài nghe, học viên trả lời<br /> B. chúc Tết gia đình, họ hàng, bạn bè, làng xóm hoặc luyện tập theo từng cặp: một học viên hỏi,<br /> C. cả A và B một học viên khác trả lời.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 102 Số 20 (7/2019)<br /> TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> - Nghe hội thoại hoặc đoạn văn và sắp xếp lại động hơn khi học cùng học viên Việt Nam và nghe<br /> theo một trình tự hợp lý. các giảng viên giảng bài ở trình độ cao hơn. Với<br /> những bài khóa ngắn, nội dung đơn giản, giảng<br /> - Nghe và tóm tắt nội dung thông tin: Sau khi viên giảng và yêu cầu học viên ghi chép lại những<br /> nghe, học viên tóm tắt lại nội dung bài nghe bằng ý chính đã nghe được. Phương pháp luyện nghe<br /> một vài câu hoặc một đoạn văn ngắn. này không chỉ mang lại lợi ích ở kỹ năng nghe mà<br /> còn giúp học viên nắm chắc hơn văn phong trong<br /> Đây là cấp độ nghe tương đối khó. Học viên<br /> khi viết, diễn đạt lại lời giảng của giảng viên theo<br /> muốn làm được các dạng bài tập này buộc phải nghe<br /> ý hiểu của bản thân.<br /> và hiểu được toàn bộ nội dung của bài. Không chỉ<br /> có vậy, học viên còn được rèn kỹ năng đặt các dạng 4. KẾT LUẬN<br /> câu hỏi từ bài nghe để bạn trả lời. Học viên cũng<br /> cần nắm chắc được trình tự của bài nghe để sắp Nghe - hiểu là một kỹ năng rất cần thiết khi<br /> xếp ý cho hợp lý hoặc tóm tắt cho đầy đủ các ý từ giao tiếp. Nếu nói tốt mà nghe hiểu không tốt thì<br /> bài nghe. Để tạo sự sôi động, giảng viên hoàn toàn cuộc hội thoại sẽ rất khó thành công. Ngược lại,<br /> có thể chia học viên thành các nhóm để cùng trao nếu nghe tốt nhưng nói chưa tốt thì vẫn có thể hy<br /> đổi, bổ sung thông tin mà giữa các nhóm với nhau. vọng người bản ngữ sẽ đoán được nội dung mà<br /> đối tượng giao tiếp định nói thông qua ngôn ngữ<br /> 3.2.4. Phát triển nghe hiểu: nghe bài giảng cơ thể, động tác phụ họa. Tuy nhiên, tất cả các kỹ<br /> và ghi chép. năng nghe – nói – đọc – viết đều cần quan tâm<br /> đúng mức và bố trí thời gian hợp lý tùy vào mục<br /> Giảng viên chuẩn bị một bài khoá về một chủ<br /> đích sử dụng của học viên. Điều quan trọng là cần<br /> đề nhất định tương ứng trong chương trình giảng<br /> phải tìm ra được phương pháp dạy-học, cách thiết<br /> dạy, phù hợp với trình độ về từ vựng, ngữ pháp.<br /> kế cũng như tiếp cận bài giảng sao cho hợp lý với<br /> Giảng viên trình bày bài khoá dưới hình thức<br /> cả học viên và người dạy. Với một số dạng bài tập<br /> giảng bài. Những điểm chính yếu, nhất là các con<br /> nghe hiểu trên, giảng viên giảng dạy có thể vận<br /> số mang ý nghĩa quan trọng xuất hiện trong bài,<br /> dụng hợp lý cho từng đối tượng, trình độ học tập<br /> giảng viên đọc chậm với ngữ điệu nhấn giọng để<br /> của học viên hoặc giảng viên cũng hoàn toàn có<br /> học viên chú ý và có đủ thời gian để ghi chép.<br /> thể kết hợp các dạng bài tập trên để giúp bài học<br /> Trong khi ghi chép, học viên có thể dùng các ký<br /> thêm phong phú và cải thiện tốt hơn khả năng nghe<br /> hiệu hoặc viết tắt để ghi nhanh hơn (trong trường<br /> -hiểu. Để rèn luyện kỹ năng nghe hiểu, việc dạy<br /> hợp này, giảng viên sẽ quy ước cách viết tắt cho cả<br /> và học cần thiết phải được chia theo trình độ từ dễ<br /> lớp) ví dụ: vk- vũ khí, đ/nc - đất nước, cm: chứng<br /> đến khó. Và dù ở cấp độ nào thì việc rèn luyện, sửa<br /> minh, kl: kết luận.<br /> chữa uốn nắn những sai sót cho học viên là điều vô<br /> Sau khi kết thúc phần nghe, học viên có thể cùng quan trọng. Từ thực tiễn giảng dạy tiếng Việt<br /> làm các bài tập như: trả lời câu hỏi liên quan đến cho học viên Lào, tôi tổng kết và đưa ra một số giải<br /> bài nghe, vẽ lại lược đồ dựa vào nội dung bài nghe pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn cho học viên<br /> hoặc tóm tắt ngắn gọn nội dung bài khoá. trong việc nghe hiểu. Hy vọng những ý kiến trao<br /> đổi trên đây sẽ giúp cho học viên Lào học tiếng<br /> Đây là hình thức luyện nghe khó, tuy nhiên, Việt nói chung và thực hành kỹ năng nghe hiểu nói<br /> nó lại là tiền đề quan trọng giúp học viên Lào chủ riêng ngày càng tốt hơn./.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 103<br /> v TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> Tài liệu tham khảo:<br /> Nguyễn Ngọc Ân (2011), “Thực trạng và giải pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu trong việc học ngoại ngữ với sinh<br /> viên không chuyên ở trường đại học, cao đẳng”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số 25,<br /> tr.130-133.<br /> Nguyễn Tài Cẩn (1999, in lần 6), Ngữ pháp tiếng Việt – Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ , NXB Đại học Quốc gia, Hà<br /> Nội.<br /> Nguyễn Văn Thông (1997), Dạy nghe ghi tiếng Việt cho người nước ngoài, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.<br /> Nguyễn Thị Hoàng Yến (2013), “Làm thế nào để dạy nghe hiệu quả”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và<br /> giảng dạy Việt Nam học và tiếng Việt”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội,<br /> tr.499-509.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> DIFFICULTIES IN LISTENING TO VIETNAMESE OF LAO STUDENTS<br /> AT MILITARY TECHNICAL ACEDAMY AND SOME SUGGESTED SOLUTIONS<br /> NGUYEN THI THANH THUY<br /> Abstract: Of four language skills, listening comprehension is considered one of the most difficult<br /> skill. Therefore, the exercise and development of listening-comprehension skills must be preceded<br /> step by step. The article will learn the difficulties of Lao practitioners when listening to the Vietnamese<br /> language through the comparison method, which deals with a number of fundamental points<br /> between Vietnamese and Laos language, thereby producing some of the right teaching methods to<br /> overcome the difficulties of the students in listening-comprehension. Measures to improve listening<br /> - comprehension skills are presented through a number of common measures such as improving<br /> positive listening skills, listening to the main ideas, listening with images, listening between intensive<br /> and expanding ... The article also introduces a number of types of listening at different levels, helping<br /> teachers to be more active in designing lectures to suit students’ level.<br /> Keywords: Listening comprehension, listening positively, hearing expansion, listening through the<br /> video, listening for clues<br /> Received: 27/02/2019; Revised: 22/5/2019; Accepted: 30/5/2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 104 Số 20 (7/2019)<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2