intTypePromotion=1
ADSENSE

Khóa luận tốt nghiệp: Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD - thực trạng và giải pháp (Qua khảo sát tại trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh)

Chia sẻ: Canhvatxanhbaola | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:75

25
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của khóa luận là xác định phương hướng và tìm ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD - thực trạng và giải pháp (Qua khảo sát tại trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh)

  1. MỤC LỤC
  2. 2 A. MỞ ĐẦU 1) Tính cấp thiết của đề tài       Giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu   trong sự phát triển của quốc gia. Giáo dục, đào tạo mang trong mình sứ mạng   cao cả  là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất   nước. Vì vậy  Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định chiến lược giáo dục là  "quốc sách hàng đầu". Nhằm mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn  diện, bên cạnh việc trang bị trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì giáo dục đạo  đức là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân  cách cũng như tạo nên giá trị  mỗi con người. Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đã nhấn   mạnh: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và coi giá trị  của mỗi  người gồm hai mặt: đức và tài. Người chỉ rõ: “có đức mà không có tài thì làm  việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng”, và: “cũng như  sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn…Người phải có  đạo đức, không có đạo đức thì có giỏi mấy cũng kông lãnh đạo được nhân   dân”.     Trong tương lai gần, học sinh THPT sẽ là những người kế  tục sự  nghiệp   cách mạng của cha anh, là những người tiếp bước trên con đường xây dựng,  bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Là lớp thanh niên đang ở tuổi trưởng thành  với những bước ngoặt lớn về phát triển nhân cách sinh ra và lớn lên trong môi   trường thông tin đa chiều và xu thế  hội nhập quốc tế, học sinh THPT là lớp  người chịu nhiều  ảnh hưởng tích cực cũng như  tiêu cực từ  những biến đổi  của đất nước và thế giới. Đa số  học sinh Việt Nam biết tiếp thu và phát huy  được những giá trị  văn hóa đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thế  giới, thi đua   học tập, rèn luyện để trở  thành những chủ nhân tương lai của đất nước. Tuy   nhiên bên cạnh đó cũng có một bộ  phận học sinh chạy theo lối sống thực  
  3. 3 dụng, có biểu hiện xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, dễ bị dao động về  mặt định hướng đạo đức và lối sống. Đây cũng là điều tại Hội nghị BCH TW  lần thứ mười, khoá IX Đảng ta từng khẳng định: “Tình trạng suy thoái, xuống  cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, đáng lo   ngại nhất là trong giới trẻ”.         Bộ môn GDCD có vai trò, vị trí rất quan trọng trong giáo dục nhân cách  học sinh, đặc biệt trong việc xây dựng tư  cách và trách nhiệm công dân cho   học sinh THPT. Thông qua môn học người giáo viên sẽ  trang bị, hình thành   cho học sinh những phẩm chất, những chuẩn mực, hành vi đạo đức cần thiết  trong cuộc sống một cách có hệ thống, đúng phương pháp, đúng quy trình.          Trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong  những trường có điểm chuẩn đầu vào cao nhất thành phố, có thành tích xuất  sắc trong học tập cũng như  các kì thi học sinh giỏi cấp thành phố. Tuy nhiên  thành tích này đã tạo áp lực cho cả  giáo viên lẫn học sinh, làm cho học sinh   mang nặng tư tưởng học chữ hơn học làm người. Trong đợt thực tập sư phạm  2, với vai trò là người giáo viên, tôi cảm thấy rất lo ngại về  việc tiếp thu   những quan niệm đạo đức, hay nói chính xác hơn là là tiếp thu bài giảng môn  GDCD ­ “môn dạy làm người và kĩ năng sống” của các em học sinh.         Chính vì thế, để  góp phần tìm ra những cách thức, giải pháp nhằm xây   dựng và phát  triển đạo đức của học sinh, đặc biệt là học sinh THPT, tôi chọn  đề tài “Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD ­   thực trạng và giải pháp (Qua khảo sát tại trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1,  TP. Hồ Chí Minh)” cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 2) Tổng quan tình hình nghiên cứu         Trong thời đại ngày nay vấn đề đạo đức đang trở thành vấn đề bức thiết   cả về lý luận và thực tiễn. Bên cạnh xu hướng phát triển của đời sống kinh tế 
  4. 4 ­ xã hội là những biểu hiện suy thoái về đạo đức, nhất là vấn đề đạo đức học  sinh. Việc tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục hiện tượng suy thoái  đạo đức đã và đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học.          Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề  đạo đức và   giáo dục đạo đức trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chẳng hạn như: "Đạo   đức mới" Giáo sư  Vũ Khiêu chủ  biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974;  “Đạo   đức   xã   hội   ở   nước   ta   hiện   nay   ­   vấn   đề   và   giải   pháp”   do   GS,VS.  Nguyễn Duy Quý (chủ  biên), Nxb. Chính trị  quốc gia, Hà Nội (2006). “Đạo  đức học mácxít với việc giáo dục đạo đức sinh viên hiện nay ở  nước ta” của  Dương Văn Duyên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội (2003); “Hệ thống phạm   trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên” của PGS, TS Trần Hậu   Kiêm ­ TS. Đoàn Đức Hiếu, Nxb Chính trị quốc gia (2004); “Mấy vấn đề đạo   đức   trong   nền   kinh   tế   thị   trường   ở   nước   ta   hiện   nay”   do   Nguyễn   Tr ọng   Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ  biên), Nxb. Chính trị  quốc gia, Hà Nội   (2003).       Trên các tạp chí cũng có khá nhiều các bài viết liên quan về  sự  tác động   của kinh tế thị trường đến đạo đức như: "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến  đổi   của   các   giá   trị   khi   nước   ta   chuyển   sang   nền   kinh   tế   thị   trường"   của   Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí Triết học, số  1­1995); "Những nguyên nhân  chủ  yếu của tình trạng suy thoái đạo đức  ở  nước ta hiện nay" của Nguyễn   Thanh Hà (Tạp chí Triết học, số  3­2002); "Thực trạng và một số  giải pháp   giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông" của Phạm Khắc Chương  (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số  2­1997); "Văn hoá và sự  phát triển nhân   cách thanh niên" của Hoàng Chí Bảo (Nghiên cứu lý luận, số  1­1995); "Quan  hệ  giữa đạo đức và kinh tế  trong việc định hướng các giá trị  đạo đức hiện   nay" của Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Triết học, số  6­1996); "Vai trò của giáo 
  5. 5 dục đạo đức đối với sự  phát triển nhân cách trong cơ  chế  thị  trường" của  Nguyễn Văn Phúc (Tạp chí Triết học, số 5­1996).          Một số đề tài luận văn, luận án đã đề  cập vấn đề  này ở  những góc độ  khác nhau, như: “Giáo dục đạo đức đối với sự  hình thành và phát triển nhân  cách sinh viên Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sỹ  Triết học của Trần Sỹ  Phán, (1999); “Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở thành phố Hồ Chí Minh  hiện nay”của Phạm Thị  Thanh Ngoan, luận văn thạc sỹ  chuyên ngành Chủ  nghĩa xã hội khoa học (2011); Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa   bàn Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc   sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Giáo dục chính trị  của Nguyễn Thị  Định (2014); “Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT  ở  tỉnh   Bình Dương hiện nay” của Nguyễn Thị  Hằng Nga, luận văn thạc sỹ  chuyên  ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (2016); …        Các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên là cơ sở  lý luận và thực tiễn   thiết thực để  chúng tôi thực hiện đề  tài khóa luận của mình. Tuy nhiên, theo  tìm hiểu của tác giả thì chưa có công trình nào đề  cập một cách trực tiếp, cụ  thể   đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Bùi Thị  Xuân  ở  TP. Hồ  Chí Minh thông qua việc dạy học môn GDCD. 3) Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu         ­ Đối tượng nghiên cứu:  Khóa luận nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức  cho học sinh THPT.        ­ Phạm vi nghiên cứu: Học sinh trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP.  HCM. 4) Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ­ Mục đích nghiên cứu: 
  6. 6          Mục đích của khóa luận là xác định phương hướng và tìm ra một số giải   pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả  giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nói  chung, học sinh trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh   nói riêng.  ­ Nhiệm vụ nghiên cứu:       + Thứ nhất, làm rõ những nội dung cơ bản của đạo đức         + Thứ  hai, phân tích vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh  THPT, tác động của kinh tế thị trường tới quá trình giáo dục đạo đức cho học  sinh THPT hiện nay.       +Thứ ba, đánh giá tình hình giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT  Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh .       +Thứ tư, đề  xuất một số  giải pháp cơ  bản, khả  thi nhằm nâng cao chất  lượng, hiệu quả  giáo dục đạo đức cho học sinh phổ  thông, đặc biệt là học  sinh THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh . 5) Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  ­ Cơ sở lý luận:          Khóa luận dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác­Lênin, tư  tưởng đạo đức Hồ  Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về  đạo đức.  ­ Phương pháp nghiên cứu:       Khóa luận được thực hiện trên cơ  sở  vận dụng phương pháp luận chung  của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp  logic, phương pháp so sánh, tổng hợp cùng với phương pháp điều tra xã hội   học. Ngoài ra khóa luận còn sử dụng phần mềm thống kê và phân tích dữ liệu   SPSS và phần mềm xử lý bảng tính excel.
  7. 7 6) Cấu trúc của khóa luận  Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,  khóa luận gồm 3  chương, 10 tiết. Chương 1: TẦM QUAN TRỌNG, NỘI DUNG, YÊU CẦU GIÁO DỤC ĐẠO  ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ  THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN  HIỆN NAY Chương   2:   THỰC   TRẠNG   GIÁO   DỤC   ĐẠO   ĐỨC   CHO   HỌC   SINH   Ở  TRƯỜNG THPT BÙI THỊ XUÂN, QUẬN 1, TP. HỒ CHÍ MINH Chương 3: CÁC NGUYÊN TẮC CƠ  BẢN VÀ MỘT SỐ  GIẢI PHÁP CHỦ  YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ  GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC  SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD  Ở  TRƯỜNG THPT BÙI THỊ  XUÂN, QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.                                                       B. NỘI DUNG Chương 1: TẦM QUAN TRỌNG, NỘI DUNG, YÊU CẦU GIÁO DỤC   ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG GIAI  ĐOẠN HIỆN NAY 1.1.  Đạo   đức   và   tầm   quan  trọng  của   giáo  dục  đạo   đức  cho   học   sinh  THPT trong giai đoạn hiện nay 1.1.1. Khái niệm đạo đức        Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về đạo đức.          Trong quan niệm thường ngày, người ta thường dùng từ  “đạo đức” để  nhận xét, đánh giá thái độ, hành vi của mọi người trong xã hội, để  chỉ  những   người có biểu hiện tốt trong quan hệ ứng xử với mọi người xung quanh. Đạo  đức là một khái niệm tôn vinh những người có trách nhiệm với công việc với  tư  cách là một công dân, một thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội,  
  8. 8 thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm được giao phó, góp phần xây dựng cộng  đồng, phát triển kinh tế ­ xã hội, thiết lập quan hệ hàng xóm láng giềng.        Từ  “đạo đức” còn được sử  dụng để  đánh giá tình cảm, thái độ, hành vi  của con người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội của mỗi thời kỳ lịch   sử. Những người sống theo chuẩn mực xã hội, gương mẫu, tự giác thực hiện  các chuẩn mực xã hội, được nhiều người quý mến thì coi là người có đạo  đức.       Quan niệm đạo đức xét từ phương diện khoa học, trước hết phải kể đến  định nghĩa của Từ điển Triết học: “Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và  hành vi của con người, quy định những nghĩa vụ của người này đối với người  khác và đối với xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, trong một xã  hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Những hình thức kết cấu xã hội và  cơ sở kinh tế biến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo...”              Giáo   trình   Đạo   đức   học   của   Học   viện   chính   trị   quốc   gia   Hồ   Chí  Minh(2000) định nghĩa: “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp  những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách cư xử  của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực  hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư  luận xã   hội”[16,26].       Trong công trình khoa học có tên  Phát triển giáo dục, phát triển con người   phục vụ phát triển xã hội ­ kinh tế, Nxb. khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, tác  giả Phạm Minh Hạc lý giải khái niệm đạo đức theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp: Đạo đức là luân lý, những quy định, những chuẩn mực  ứng  xử trong quan hệ của con người. Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan  hệ  con người đã mở  rộng và đạo đức bao gồm những qui định, chuẩn mực 
  9. 9 ứng xử  của con người với con người, với công việc, với bản thân, với thiên  nhiên và môi trường sống. Theo nghĩa rộng: Khái niệm đạo đức có liên quan chặt chẽ với phạm trù chính  trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ  bản của nhân cách, phản  ánh bộ mặt của nhân cách đã được xã hội hóa. Đạo đức biểu hiện ở đời sống   tinh thần lành mạnh, trong sáng,  ở  hành động góp phần giải quyết hợp lí, có  hiệu quả  những mâu thuẫn của cuộc sống. Khi thừa nhận đạo đức là một   hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng   lớp, giai cấp trong xã hội cũng phải phản ánh ý thức chính trị của họ đối với  vấn đề đang tồn tại[13, 9].          Chủ  tịch Hồ  Chí Minh quan niệm: “Đạo đức là sự  thống nhất trong tư  tưởng và phong cách. Người có đạo đức là người biết kính yêu nhân dân,   khiêm tốn, thật thà, thắng thắn, có thái độ  cầu thị, làm việc chí công vô tư,   không kiêu ngạo, không dấu dốt.  Ở người, đạo đức đóng vai trò như  lẽ sống  thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo hành động, lối sống”[3,46].       Với Hồ  Chí Minh, đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách   mạng,  là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người quan niệm đạo  đức tạo ra sức mạnh, nhân tố  quyết định sự  thắng lợi của mỗi công việc:  “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm  lấy đức làm gốc của Hồ  Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức,  coi nhẹ  mặt tài. Người cho rằng: “Có tài mà không có đức là người vô dụng   nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Cho nên, đức là gốc,  nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.       Theo Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt   Nam trong thời đại mới là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con  
  10. 10 người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; tinh  thần quốc tế trong sáng.         Qua sự phân tích một số  quan niệm về đạo đức nêu trên, có thể  đi đến  một quan niệm khái quát về đạo đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức   xã hội, là hệ thống những qui tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh   giá hành vi, cách  ứng xử  của con người trong quan hệ với nhau và với quan   hệ  xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và   sức mạnh của dư luận xã hội.        1.1.2. Khái niệm giáo dục đạo đức        Giáo dục là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi và  biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ  của cả  người dạy và người  học theo hướng tích cực. Nghĩa là, hoàn thiện nhân cách của cả  thầy và trò  bằng những tác động có ý thức từ  bên ngoài, đáp  ứng các yêu cầu tồn tại và  phát triển trong xã hội loài người. Giáo dục theo nghĩa chung nhất, đó là hoạt   động nhằm tác động một cách có hệ  thống đến sự  phát triển tinh thần, thể  chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những  phẩm chất và năng lực có được như  yêu cầu đề  ra. Hoạt động này nhằm  hướng tới con người thông qua một hệ  thống các biện pháp tác động nhằm   truyền thụ  những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi  dưỡng tư  tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát  triển  năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn  bị  cho đối tượng lựa chọn nghề  nghiệp phù hợp với khả  năng, điều kiện và  hoàn cảnh bản thân. Giáo dục đạo đức là quá trình tác động của nhà trường, gia đình và xã hội   đến học sinh, nhằm mục đích hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm niềm   tin đạo đức và quan trọng nhất là hình thành thói quen, hành vi đạo đức trong 
  11. 11 đời sống xã hội, giúp nhân cách con người phát triển đúng về  mặt đạo đức,  tạo cơ sở để họ có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong mối   quan hệ của cá nhân đối với bản thân, với người khác và xã hội. Kết quả của  quá trình giáo dục đạo đức là con người có được các phẩm chất tốt đẹp, bền  vững, có bản lĩnh đạo đức để ứng xử đúng trong các mối quan hệ xã hội.        Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch,   có hệ thống của người làm công tác giáo dục đến người được giáo dục nhằm  đạt được mục đích cung cấp, bồi dưỡng cho họ  những phẩm chất đạo đức  phù hợp với yêu cầu của xã hội.            Giáo dục đạo đức cho học sinh là hình thành những tri thức như: Khái   niệm đạo đức, các phạm trù đạo đức, các chuẩn mực giá trị  đạo đức…Đó là  cơ sở, là nguồn gốc để học sinh có được những chuẩn mực đạo đức, giúp họ  nhận ra chân giá trị của các giá trị đạo đức, thấy được tính nhân bản, nhân văn   trong đời sống xã hội do đạo đức mang lại, hình thành trong mỗi học sinh tình  cảm đạo đức, biến tri thức đạo đức thành thói quen, tình cảm đạo đức. Tình  cảm đạo đức ngấm ngầm trong mỗi học sinh như là máu với thịt, hòa quyện  chặt chẽ  với nhau để  khi bật ra thì đã thành một hành vi thói quen đạo đức.   Giáo dục đạo đức còn là lĩnh vực hoạt động đặc thù của nhà trường, trong đó   đội ngũ giáo viên nói riêng và nhà trường nói chung, tác động qua lại với học   sinh, để giúp họ có được tri thức và tình cảm đạo đức phù hợp với những yêu  cầu xã hội. Đây là một trong những nội dung quan trọng h àng đầu của mục  tiêu giáo dục.       Như vậy, giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, kế  hoạch  của nhà giáo nhằm trang bị cho học sinh phẩm chất đạo đức, hình thành niềm  tin, tình cảm, thói quen, hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của  xã hội.
  12. 12        1.2. Vị trí, vai trò của học sinh THPT đối với sự phát triển đất nước          Theo quan điểm của các nhà kinh điển mác xít, học sinh có vai trò, vị trí  quan trọng trong sự phát triển của xã hội: “Tương lai của giai cấp công nhân  và do đó tương lai của nhân loại hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ  công nhân đang lớn lên” [11,118].         Chủ tịch Hồ Chí Minh là người cộng sản Việt Nam đầu tiên sớm nhận  thức đúng vị  trí, vai trò của thế  hệ  trẻ  đối với sự  nghiệp cách mạng và phát  triển đất nước.  Bác khẳng định: “Thanh niên là chủ nhân tương lai của nước  nhà” [21,375]. “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các  thanh niên”[21,18]. Trong những lần dự Đại hội Đoàn toàn quốc, Đại hội Hội  sinh viên, khai giảng năm học mới của trường Đại học nhân dân hay là gửi   thư  cho thanh niên sinh viên Hồ  Chí Minh đều căn dặn: Thanh niên sinh viên   phải đoàn kết chặt chẽ, luôn trau dồi đạo đức, rèn luyện thể lực, học lý luận   kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động; học để  phụng sự  tổ  quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh.        Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác ­ Lênin cũng như Chủ tịch   Hồ  Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, vị trí của thanh niên học sinh trong đời  sống xã hội, trong sự  nghiệp cách mạng dưới sự  lãnh đạo của Đảng Cộng  sản. Đồng thời, các ông cũng nhắc nhở  những người cộng sản là muốn cho   thanh niên hoàn thành được sứ  mệnh vẻ  vang của mình, thì Đảng Cộng sản   phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện họ. Trong đó, vấn đề  giáo dục   đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu của công tác giáo dục.        Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh, trong  cương lĩnh hoạt động của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công tác  thanh niên học sinh là một trong những nhân tố  có ý nghĩa quyết định đến sự  thành bại của “cách mạng”. Bởi vậy, việc đoàn kết, tập hợp thanh niên nhằm  
  13. 13 phát huy vị  thế, vai trò của thanh niên trong thực tiễn cách mạng Việt Nam   luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú ý. Nghị quyết Trung ương 4, khoá   VII của Đảng ta khẳng định: Vấn đề  thanh niên phải đặt  ở  vị  trí trung tâm  trong chiến lược phát huy nhân tố  và nguồn lực con người… Sự  nghiệp đổi  mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế  kỷ  XXI có vị  trí xứng   đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước   theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng  thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên [21,51].       Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định nhiệm vụ chung của toàn xã   hội đối với thế  hệ  trẻ  là: “Chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển  toàn diện về  chính trị, tư  tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề  nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai   trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [8,126]. Hội nghị  Ban chấp hành Trung  ương Đảng lần thứ  7 (khoá X) đã ban hành   Nghị  quyết số  25­NQ/TW “Về  tăng cường sự  lãnh đạo của Đảng đối với  công tác thanh niên thời kỳ  đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đã   khẳng định vai trò, vị trí của thanh niên sinh viên: thanh niên là tường cột của   nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây   dựng và bảo vệ  Tổ  quốc, một trong những nhân tố  quyết định sự  thành bại  của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và  xây dựng chủ  nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt vào  ở  vị  trí trung tâm chiến   lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển  thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự   ổn định và phát   triển vững bền của đất nước. Học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng sẽ  là thế  hệ  tương lai sự  nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là lực lượng tiêu biểu của xã hội đang 
  14. 14 vươn lên khẳng định mình. Khi nói đến vị  trí, vai trò của học sinh THPT cần  nói đến vai trò xung kích trong học tập, phát huy trí tuệ  tài năng và tính tích  cực của họ, góp phần mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.        Tuy nhiên, học sinh THPT cũng là lực lượng trẻ  còn thiếu kinh nghiệm   sống và bản lĩnh, thiếu hiểu biết về  chính trị  nên dễ  bị  các thế  lực xấu lôi   kéo, kích động dẫn đến mất định hướng. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cũng  như  toàn xã hội cần phải quan tâm giáo dục đạo đức để  các em trở  thành  những công dân tốt, những người có ích cho xã hội.  1.3. Vai trò, nội dung của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trong giai  đoạn hiện nay 1.3.1. Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự  hình thành, phát triển nhân   cách cho học sinh trung học phổ thông 1.3.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT           Giáo dục đạo đức có vai trò rất quan trọng đối với sự  hình thành, phát   triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông. Muốn giáo dục đạo đức đạt  hiệu quả  thì chúng ta phải biết đặc điểm, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung  học phổ thông.         Học sinh trung học phổ thông thuộc lứa tuổi thanh niên. Trong tâm lí học,  lứa tuổi thanh niên được định nghĩa là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy  thì cho đến bước vào tuổi trưởng thành .         Theo quy định của Luật Giáo dục Việt Nam thì học sinh trung học phổ  thông có độ tuổi từ 15 đến 19, theo học từ lớp 10 đến lớp 12, nằm ở giai đoạn  đầu của tuổi thanh niên. Lứa tuổi này có những đặc điểm sau:                 Một là, học sinh trung học phổ thông bước vào thời kỳ  đạt được sự  trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát  triển bình thường, hài hòa, cân đối. Cơ thể của thanh niên đã đạt tới mức phát  
  15. 15 triển của người trường thành, nhưng sự  phát triển còn kém so với người lớn.   Lứa tuổi này có thể làm những việc nặng của người trưởng thành, hoạt động  trí tuệ có thể phát triển  ở mức cao. Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não   tăng lên rõ rệt, có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn.   Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh. Ở  độ tuổi này, học sinh dễ bị kích thích và biểu hiện của nó giống như  độ tuổi  thiếu niên. Tuy nhiên, tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân  sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà còn do cách sống của cá nhân.         Nhìn chung,  ở tuổi này học sinh trung học phổ thông có sức khỏe và sức  chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên. Thể chất của học sinh trung học phổ thông  đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ nhất. Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này  có  ảnh hưởng đến sự  phát triển tâm lý và nhân cách, đồng thời nó còn  ảnh  hưởng tới việc lựa chọn ngành nghề trong tương lai của học sinh.         Trong gia đình, học sinh trung học phổ  thông đã có nhiều quyền lợi và  trách nhiệm như người trưởng thành, cha mẹ bắt đầu trao đổi về một số việc   quan trọng trong gia đình. Học sinh cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm  của bản thân đối với gia đình, bắt đầu quan tâm chú ý đến nề  nếp, lối sinh  hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình. Có thể nói rằng học sinh trong   độ  tuổi này vừa học tập vừa lao động.  Ở  nhà trường, học tập vẫn là hoạt  động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ  thì phức tạp và cao hơn hẳn so với   tuổi thiếu niên, đòi hỏi học sinh tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách   vận dụng tri thức một cách sáng tạo. Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt  quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh  tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho học  sinh[2,77].
  16. 16        Hai là, xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông quyền   công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như  người lớn. Tất cả  học sinh đã có suy nghĩ về  việc chọn nghề. Khi tham gia vào hoạt động xã  hội, học sinh phổ  thông được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau,  quan hệ xã hội được mở rộng, có dịp hòa nhập vào cuộc sống đa dạng, phức  tạp của xã hội, giúp học sinh tích lũy vốn kinh  nghiệm sống để chuẩn bị cho  cuộc sống tự lập sau này.       Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là giai đoạn quan trọng trong việc  phát triển trí tuệ. Do cơ thể học sinh phát triển hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ thần   kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự  phát triển các năng lực của học  sinh. Cảm giác và tri giác của học sinh đã đạt tới mức độ  của người trưởng   thành. Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ. Khả năng quan sát   một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển  ở  học sinh phổ  thông. Tuy   nhiên, sự quan sát ở lứa tuổi này thường phân tán, chưa tập trung cao vào một   nhiệm vụ  nhất định, trong khi quan sát một số  đối tượng vẫn còn mang tính  đại khá, phiến diện, thiếu khoa học. Đây cũng là lứa tuổi có những hạn chế nhất định. Thứ nhất, tâm lý không  thích nghe, không thích bàn luận đến các vấn đề  chính trị  mà thiên về những   vấn đề  tình bạn, tình yêu, văn hóa, nghệ  thuật, do đó chính trị  ít được quan  tâm. Thứ  hai, vì chưa trải qua các hoạt động thực tiễn trong sản xuất, chiến  đấu, kinh nghiệm sống, vốn sống chưa đủ nên dễ mơ hồ về chính trị. Sự chưa  từng trải này nguy hiểm ở chỗ là dễ bị các thế lực chính trị xấu lôi cuốn thông   qua các hình thức hoạt động khác... Do có sức sống dồi dào, có nguyện vọng muốn được thử sức mình nhưng  lại chưa đủ kinh nghiệm sống và không phải mọi mục tiêu đặt ra đều được ý   thức rõ ràng, cho nên đôi khi trong thâm tâm học sinh không thấy thỏa mãn, họ 
  17. 17 dễ thay đổi mục tiêu đã đề ra. Họ thường quan tâm tới bản thân và nhân cách   của mình nên càng đề  cao mình quá mức, và trong mọi hoạt động họ  đều  muốn thử sức, muốn bộc lộ khả năng của mình và nhiều khi không phân biệt   hoạt động đó là xấu, là tốt thế  nào. Những đặc điểm này dẫn đến dễ  ngả  nghiêng trước những bước ngoặt, trước những vấn đề  phức tạp của cuộc   sống, dẫn đến những hành động bộc phát trái với pháp luật, trái với đạo đức,  với những tiêu chuẩn hành vi đã được xã hội chấp nhận, nhất là trong lối  sống, nếp sống. Bác Hồ  đã nêu rõ trong bức thư  gửi thanh niên: Nói tóm lại:   ưu điểm của thanh  niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong; khuyết   điểm   là:   ham   chuộng   hình  thức,   thiếu   thực   tế,   bệnh   cá   nhân,   bệnh   "anh   hùng".              Nhìn chung, tư duy của học sinh trung học phổ thông phát triển mạnh,  hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn. Học sinh có khả năng phán đoán   và giải quyết vấn đề  rất nhanh. Tuy nhiên, bên cạnh đó một số  học sinh vẫn  còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản than,  còn kết luận vội vàng theo cảm tính. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn, giúp   đỡ học sinh tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và  tự rút ra kết luận cuối cùng. Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển  tâm sinh lý của học sinh trung học phổ  thông, thầy cô giáo chọn lựa và sử  dụng phương pháp giáo dục đạo đức phù hợp giúp học sinh phát triển hoàn  thiện nhân cách.      1.3.1.2. Sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trong giai   đoạn hiện nay       Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy   tắc, chuẩn mục đạo đức hướng dẫn con người điều chỉnh hành vi trong quan  
  18. 18 hệ  giữa con người với con người, giữa con người với xã hội nhằm đạt cái   “chân, thiện, mỹ”. Trong điều kiện nước ta, việc tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện  đại hóa đã và đang dẫn đến những tác động vừa tích cực, vừa tiêu cực.        Mặt tích cực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thúc đẩy sự phát triển  của lực lượng sản xuất, giải quyết tình trạng công nghệ  lạc hậu như  hiện   nay dẫn đến năng xuất lao động tăng, làm cho tổng sản phẩm xã hội tăng lên   và do vậy có điều kiện nâng cao phúc lợi cho nhân dân. Hơn nữa, chính sự  phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự  mở  rộng lao động xã hội, góp   phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm, tăng năng lực sản xuất, làm cho   nền kinh tế hàng hóa phát triển, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc   tế và tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại. Sự phát triển kinh tế do quá trình   công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại sẽ là nhân tố quan trọng đảm bảo sự  ổn định chính trị, tạo điều kiện cho kinh tế  phát triển. Nó làm cho mối quan   hệ  giữa các ngành, các lĩnh vực và các vùng tăng lên. Những thành tựu trong   quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ góp phần quan trọng nâng cao đời  sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện cho việc mở mang dân  trí, nâng cao nhận thức, phát triển văn hóa, cũng cố truyền thống yêu nước và  lòng tự hào dân tộc, tăng thêm niềm tin vào chế độ xã hội. Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác dụng to lớn trên nhiều lĩnh  vực đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hóa tư tưởng đến an ninh quốc phòng . Tuy nhiên, thực tế  cho thấy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng  phá vỡ cân bằng giữa xã hội và tự nhiên, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ  xã hội. Chúng ta đều biết hành vi của con người tuân theo hệ thống quy tắc xã hội  đặt ra. Có những người tuân thủ  nó do nhập tâm, do ý thức được các giá trị 
  19. 19 đạo đức, các chuẩn mực xã hội. Có người tuân thủ vì xung quanh họ có những   cơ chế “kiểm soát xã hội” mạnh mẽ như gia đình, họ hàn g, hàng xóm, luật lệ.  Thế nhưng khi xã hội chuyển biến dồn dập, quá trình công nghiệp hóa, hiện   đạo hóa, đô thị hóa nhanh chóng làm cho hệ thống quy tắc bị phá vỡ. Lúc đó,  phải trái, trắng đen không còn rạch ròi. Trong hoàn cảnh như  vậy, con người  dễ  thờ   ơ  trước cái thiện, dửng dưng trước cái ác. Chính điều đó đã tạo điều  kiện cho cái ác, cái bất lương phát triển. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ  đã làm cho tình trạng tham nhũng , buôn lậu lừa đảo trong sản xuất, kinh   doanh ngày càng có đà sinh sôi, nảy nở. Chính tâm lí sống gấp, sống hưởng  thụ đã làm cho nhiều người sa vào các tệ nạn xã hội. Thậm chí một bô phận  không nhỏ  bị  tha hóa bởi đồng tiền, vì những hưởng thụ  vật chất mà hành   động mù quáng. Ngày nay, khi những tiến bộ  khoa học công nghệ  đã đạt tới mức vượt ra  ngoài sự  tưởng tượng của không ít người thì cùng với điều đó, sự  biến động   của xã hội cũng mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức không có vận hội nào mà  không đi kèm nguy cơ. Có thể thấy rõ bên cạnh giá trị văn minh to lớn mà con   người được hưởng, những hiểm họa cũng đang rình rập thường trực đối với  con người và nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia nghèo đói, chậm phát triển.   Nhiều nhà nghiên cứu đã thận trọng cho rằng,: chỉ  riêng sự  tăng trưởng và   phát triển kinh tế , chỉ riêng công nghiệp hóa, hiện đại hóa bộ mặt xã hội , thì   đời sống xã hội chưa chắc được đảm bảo trở  nên lành mạnh hơn, văn minh   hơn. Song nếu không tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoặc  nếu người ta thờ ơ với nó thì chắc chắn xã hội không thể đạt tới sự phát triển  và tiến bộ. Cho nên vấn đề đặt ra là công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải thực   hiệ  một cách đồng bộ  với việc giải quyết các vấn đề  xã hội. Nói cách khác,  
  20. 20 xã hội muốn có hạnh phúc thì công bằng xã hội phải là bạn đồng hành với sự  tiến triển của văn minh. Đường lối phát triển đất nước của Đảng ta đã xác định mục tiêu vì con  người, vì công bằng xã hội, vì độc lập dân tộc. Có điều phải làm sao cho   những mục tiêu trên không chỉ  duy trì  ở  khẩu hiệu mà còn phải biến thành   chính sách, cơ  chế, chỉ  tiêu... nghĩa là các biện pháp cụ  thể  lồng ghép các kế  hoạch phát triển. Mặt khác phải làm cho toàn dân khi xưa sẵn sàng hi sinh tất  cả  vì độc lập dân tộc thì ngày nay từng nhà, từng người hãnh diện chọn lối  sống giản dị, tiết kiệm, công bằng, chan hòa với cộng đồng. Làm sao cho toàn  dân, toàn xã hội ý thức về  độc lập và bản sắc dân tộc không chỉ  bằng khẩu   hiệu mà trong lựa chọn cụ  thể  cách ăn mặc, học hành tới vui chơi giải trí.   Làm sao để từng người biết đau lòng trước những hoàn cảnh khó khăn, hoạn  nạn, phẫn nộ  với những hành vi sai trái. Làm sao để  tất cả  mọi người, mọi   tầng lớp ý thức được rằng: Phát triển không chỉ  nhằm vào đời sống vật chất   cao mà để mọi người sống trong sự chan hòa, yêu thương nhau. Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển đất nước,  chúng ta cần nhận thức được rằng: giá trị và giá trị đạo đức luôn là vấn đề có  ý nghĩa đối với bất kì xã hội nào, thời đại nào. Chẳng phải ngẫu nhiên mà cái  nhìn đạo đức là cái nhìn của toàn xã hội. Trong nền văn minh hiện đại, việc  đánh giá trình độ tiến bộ  của các hiện tượng xã hội, trên thực tế vẫn rất cần  sự  tham  gia của các tiêu chuẩn đạo đức. Có thể  nói rằng, quá trình công   nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ đem lại những nhân tố mới cho việc làm sâu sắc  thêm, phong phú thêm những giá trị truyền thống, đồng thời cũng gây ra những  xáo trộn, những thay đổi trong lối sống, những quan niệm chuẩn mực đạo đức  xã hội. Vấn đề là làm sao để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại  
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2