intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

Chia sẻ: Huỳnh Thị Thùy Dương | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:89

0
128
lượt xem
38
download

Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam" có kết cấu nội dung gồm 3 chương, nội dung luận văn giới thiệu đến các bạn những nội dung tổng quan về Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam, thực trạng hoạt động của hệ thống kênh phân phối của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam, một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm Bảo hiểm tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

  1. 1 MỤC LỤC
  2. 2 DANH MỤC BẢNG BIỂU
  3. 3 LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế  Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế  đang là một  hiện tượng kinh tế của châu Á với mức tăng trưởng tương đối cao trong  những năm vừa qua. Trong xu thế  hội nhập quốc tế, Việt Nam  đã tận  dụng tốt những lợi thế của nước nhà kết hợp với những cơ  hội và thách  thức để vươn lên vị trí cao hơn trong nền kinh tế thế giới. Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kết khi trở  thành thành viên thứ  150 của tổ  chức Thương mại quốc tế  WTO. Nền   kinh tế  Việt Nam tiếp tục mở cửa và hội nhập quốc tế  với mức độ  sâu  rộng hơn với nhiều cơ  hội và thách thức cho sự  nghiệp phát triển nền  kinh tế xã hội nói chung, trong đó có ngành bảo hiểm nói riêng. Năm 2007 tăng trưởng GDP đạt 8.5%, đầu tư  trực tiếp từ  nước  ngoài tương đương 20.3% tỉ USD, đầu tư  toàn xã hội đạt 40% GDP, vốn  ODA đạt 5.4 tỉ USD xuất khẩu đạt 48 tỉ USD. Các ngành công nghiệp vận   tải biển và đóng tàu, hàng không dân dụng, dệt may, giày da có những  bước phát triển đột phá. Thị  trường tài chính tiền tệ  tiếp tục phát triển   theo xu thế  ổn định sau một thời gian phát triển nóng như: tín dụng ngân   hàng, chứng khoán, quỹ  đầu tư, bảo hiểm. Đây là những tiền đề  cơ  bản  tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển, đặc  biệt là lĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ. Tốc độ  tăng trưởng trong năm  vừa qua của lĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ  là 20%, mức tăng cao nhất  trong vòng 5 năm qua. Tuy nhiên, trong những điều kiện đó, để phát triển,  mỗi Công ty Bảo hiểm đang hoạt động trên thị  trường, phải tìm cách để  mang sản phẩm Bảo hiểm của mình tới tay khách hàng. Điều này không  hề  đơn giản khi mà kiến thức và hiểu biết của người dân Việt Nam và  ngay cả những doanh nghiệp hoạt động trong nước về Bảo hiểm vẫn còn  không nhiều. Chính lý do đó, như  bất kỳ  một doanh nghiệp hoạt động  trong các lĩnh vực trên thị trường, doanh nghiệp Bảo hiểm phải có một hệ  thống kênh phân phối phù hợp với sản phẩm mà mình cung cấp.
  4. 4 Kênh phân phối là các yếu tố  con người và phương tiện vật chất   nhằm trao đổi thông tin và chuyển giao sản phẩm từ doanh nghiệp, người   bán sang người mua. Nhờ có hệ thống kênh phân phối, người mua có thể  mua được sản phẩm còn người bán bán được sản phẩm của mình. Khái niệm hệ  thống kênh phân phối sản phẩm không chỉ  áp dụng   trong phân phối các sản phẩm hữu hình mà cả  trong các sản phẩm vô  hình, trong đó có sản phẩm Bảo hiểm. Nhưng đối với các sản phẩm hữu   hình, hệ  thống phân phối bao gồm các phương tiện vật chất có thể  rất  lớn và khá tốn kém như kho chứa hàng, phòng trưng bày, phương tiện chở  hàng… Còn đối với sản phẩm vô hình, hệ thống kênh phân phối đơn giản  hơn do ít đòi hỏi phương tiện vật chất, mà chủ yếu là yếu tố con người.   Tuy nhiên, để  có được một kênh phân phối sản phẩm vô hình có hiệu   quả, linh hoạt, gọn nhẹ  và thích  ứng được  với sản phẩm lại là điều  không hề  đơn giản, đòi hỏi doanh nghiệp phải chú trọng   ngay từ  khâu  xây dựng đến quản lý hoạt động, không ngừng hoàn thiện và phát triển. Chính vì những lý do trên nên sau quá trình thực tập tại Công ty Bảo   hiểm dầu khí  Hà Nội, trực thuộc Tổng công ty cổ  phần Bảo hiểm dầu   khí Việt Nam em đã chọn đề tài “ Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối   sản phẩm Bảo hiểm tại Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt   Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình.  Mục tiêu nghiên cứu đề tài. ­ Tìm hiểu về thực trạng hoạt động hệ thống kênh phân phối  sản phẩm Bảo hiểm của doanh nghiệp. ­ Phân tích một số đặc điểm của Tổng công ty cổ  phần Bảo  hiểm dầu khí Việt Nam có  ảnh hưởng tới hoạt động kênh  phân phối. ­ Đưa ra một số đánh giá về kết quả hoạt động của hệ thống   kênh phân phối.
  5. 5 ­ Nêu ra một số  giải pháp nhằm hoàn thiện hệ  thống kênh  phân phối của doanh nghiệp.  Đối tượng nghiên cứu. ­ Hoạt động, kết quả hoạt động của các thành viên kênh phân  phối. ­ Hoạt động xây dựng, quản lý và bổ  sung thành viên kênh  phân phối.  Phạm vi nghiên cứu. ­ Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam.  Kết cấu của chuyên đề. Khoá luận gồm có 3 chương. ­ Chương thứ nhất: tổng quan về Tổng công ty cổ phần Bảo   hiểm dầu khí Việt Nam. ­ Chương thứ  hai: thực trạng hoạt động của hệ  thống kênh  phân phối của Tổng công ty cổ  phần Bảo hiểm dầu khí  Việt Nam. ­ Chương thứ  ba: một số  giải pháp và kiến nghị  hoàn thiện  kênh phân phối sản phẩm Bảo hiểm tại Tổng công ty cổ  phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam.
  6. 6 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN  BẢO HIỂM DẦU KHÍ VIỆT NAM. 1.1. Sự hình thành và phát triển. 1.1.1. Khái quát chung về tổng công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí  Việt Nam. Tên đầy đủ: _ Tiếng Viêt:  Tổng Công ty cổ  phần Bảo hiểm Dầu khí Việt  Nam _ Tiếng Anh:  PetroVietnam Insurance Joint stock Corporation. _ Tên viết tắt:  PVI _ Tên giao dịch: Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam Hình thức pháp lý: Tổng công ty cổ phần. Trụ sở chính: _ Địa chỉ: 154 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội. Ngày thành lập: _ Ngày 23 tháng 01 năm 1996. _ Ngày 12 tháng 03 năm 2007 chuyển đổi thành Tổng công ty Bảo  hiểm Dầu khí.
  7. 7 Ngành nghề kinh doanh:  _ Kinh doanh bảo hiểm gốc( Bảo hiểm phi nhân thọ) _ Kinh doanh tái bảo hiểm  _ Giám định tổn thất. _ Hoạt động đầu tư. _ Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. 1. Các giai đoạn hình thành và phát triển. Tổng công ty cổ  phần Bảo hiểm dầu khí   Việt Nam ( PVI) được   thành lập theo quyết định số  42 GP/ KDBH ngày 12/03/2007 của Bộ  tài  chính trên cơ  sở  chuyển đổi Công ty Bảo hiểm dầu khí từ  Công ty nhà  nước­ thành viên tập đoàn dầu khí Việt Nam thành Tổng công ty cổ phần   với cổ  đông chi phối là Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam( tỷ  lệ  góp  vốn chiếm 76% vốn điều lệ), có phạm vi hoạt động trên toàn lãnh thổ  Việt Nam và nước ngoài. Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty Bảo hiểm  dầu khí  đã trưởng thành và phát triển mạnh mẽ về quy mô cũng như tiềm  lực tài chính. Cùng với sự  lớn mạnh của Tập đoàn dầu khí, PVI cũng thực hiện  những bước tiến dài và vững chắc, chiếm lĩnh thị  trường, xác lập vị  trí  cao, là một trong ba nhà bảo hiểm hàng đầu Việt Nam. Các chỉ  tiêu tài  chính của PVI luôn được duy trì tăng trưởng mạnh và ổn định trong từng  năm từ năm 2001 đến nay. Đặc biệt, năm 2006, PVI đã có bước phát triển   vượt bậc khi mức doanh thu thực hiện đạt 1301 tỉ đồng, tăng 70% so với   năm 2005, lợi nhuận trước thuế  đạt 62 tỉ  đồng, nộp ngân sách nhà nước   102 tỉ đồng. Với năng lực tài chính và kinh nghiệm trên 10 năm cấp đơn bảo  hiểm cho các công trình dầu khí và các công trình dự án trọng điểm quốc  gia, PVI đã hoàn toàn chiếm được niềm tin của khách hàng và hoàn toàn  xứng đáng với niềm tin  ấy khi cung cấp sản phẩm bảo hiểm chất lượng   tốt, độ an toàn cao với mức phí cạnh tranh. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam  
  8. 8 đã đánh giá PVI là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ  thứ  2 Việt Nam  với   thị   phần   tuyệt   đối   trong   lĩnh   vực   bảo   hiểm   năng   lượng(   chiếm   97,49%   thị   trường),   dẫn   đầu   trong   lĩnh   vực   bảo   hiểm   tài   sản­kỹ  thuật( 868 tỷ đồng, chiếm 45,77% thị trường) và bảo hiểm thân tàu, trách  nhiệm dân sự chủ tàu( 225 tỷ đồng, chiếm 37,35% thị trường). Với những   nỗ lực hoàn thiện không ngừng PVI đã tạo dựng được cho mình vị thế cao  trên thị trường trong nước và chỗ đứng nhất định trên thị trường quốc tế,   đã và đang thu xếp bảo hiểm cho các tài sản, công trình xây dựng lớn   trong và ngoài nước. Một số mốc phát triển chính: _ 23/01/1996: Thành lập Công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam. _ Năm 1998:  Doanh thu đạt trên 100 tỷ đồng. _ Năm 2001: Doanh thu đạt gần 200 tỷ đồng. Công ty được thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì những thành  tích xuất sắc giai đoạn 1998­ 2000. _ Năm 2002:  Doanh thu đạt xấp xỉ 500 tỷ đồng; Công ty được thủ  tướng Chính phủ  tặng cờ  thi đua “Đơn vị  dẫn  đầu phong trào thi đua” _ Năm 2004: Doanh thu đạt 610 tỷ đồng; Công ty được chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng ba. _ Năm 2005:  Doanh thu đạt trên 782 tỷ đông;  Công ty nhận được “ Giải thưởng Sao Vàng đất Việt”/ _ Năm 2006:  Doanh thu đạt trên 1300 tỷ đồng;  Tiến hành cổ phần hoá Công ty Bảo hiểm dầu khí . _ Năm 2007:  Hoàn thành cổ phần hoá­ Tổng công ty Bảo hiểm  dầu khí Việt Nam hoạt động từ 20/03/2007. Trong 5 năm đầu thành lập từ  năm 1996­ 2001, PVI đã duy trì và   củng cố  hoạt động của mình với tổng doanh thu 514 tỷ  đồng, nộp ngân  sách nhà nước trên 48 tỷ đồng và  30 tỷ đồng lợi nhuận. Trong giai đoạn  
  9. 9 này Công ty đẩy mạnh việc gây dựng cơ sở  vật chất đặc biệt là đào tạo  đội ngũ nhân viên có trình độ  chuyên môn cao, am hiểu mọi lĩnh vực về  kinh doanh bảo hiểm. Năm 2001, thị  trường bảo hiểm cũng chịu những tác động từ  hàng  loạt các biến động lớn do thiên tai, khủng bố, khủng hoảng kinh tế  khu  vực. Tuy nhiên, trong giai đoạn này PVI lại khăng định được vị  trí của  mình trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam ; doanh thu đạt  187 tỷ đồng tăng 167% so với năm 2000; được các nhà bảo hiểm và môi  giới quốc tế nhìn nhận với vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm năng  lượng Việt Nam. Năm 2002, PVI chính thức xây dựng và áp dụng hệ  thống quản lý  chất lượng ISO 9000:2000. Từ năm 2005, PVI có những bước trưởng thành quan trọng về cung  cấp dịch vụ  bảo hiểm cho các dự  án dầu khí lớn tại nước ngoài và tăng  cường nhận tái bảo hiểm từ  Triều Tiên, Trung Quốc… Từ  đó thành lập   các chi nhánh khu vực và phát triển mạng lưới đại lý chuyên nghiệp trên  khắp các tỉnh thành trong cả nước. Kết hợp với  thực hiện ISO kiểm soát   chặt chẽ  quy trình cấp đơn bảo hiểm và kiểm soát nội bộ  đảm bảo chất  lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Năm 2006, PVI đã đánh dấu chặng đường 10 năm hình thành và phát   triển bằng sự  kiện đạt doanh thu 1000 tỷ  đồng vào ngày 26/9/2006 cùng  với việc vốn và tài sản được nâng lên đáng kể. Đây là năm quan trọng  trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu Bảo hiểm dầu khí Việt  Nam và là năm thứ 6 liên tiếp hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế hoạch do  Tập đoàn giao với tổng doanh thu đạt 1300 tỷ  đồng, nộp ngân sách nhà  nước  102 tỷ   đồng, lợi  nhuận  đạt trên 62 tỷ   đồng…Tháng 9/2006, Bộ  Công nghiệp và Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có quyết định cổ  phần hoá PVI với mục tiêu tăng cường năng lực cạnh tranh và xây dựng  PVI trở thành một Tổng công ty cổ  phần mạnh trong định chế  Tài chính­  
  10. 10 Bảo hiểm của tập đoàn. Ngày 12/4/2007 là ngày Tổng công ty cổ  phần  Bảo hiểm dầu khí Việt Nam chính thức ra mắt, đánh dấu sự chuyển mình  cho những thành công rực rỡ tiếp theo. Đến cuối năm 2007, PVI nâng vốn lên 1000 tỷ  đồng và kế  hoạch  lên 2000 tỷ đồng vào năm 2010. Thông qua việc tăng vốn, phương án kinh   doanh 2007­2009 sẽ  là tăng cường sức mạnh tài chính, chủ  động đầu tư  vào các dự án của Ngành dầu khí cũng như các dự án lớn có khả năng sinh  lợi cao và xây dựng Tổng công ty cổ  phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam  theo mô hình công ty mẹ công ty con. Chiến lược phát triển PVI đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025  trở  thành Tổng công ty Tài chính­ Bảo hiểm hàng đầu thông qua việc   chiếm lĩnh thị trường trong nước, phát triển ra thị trường quốc tế đối với   mảng kinh doanh bảo hiểm và triển khai các hoạt động đầu tư Tài chính. Các danh hiệu đã đạt được trong hơn 10 năm hoạt động: Sau 10 năm hoạt động và được đánh giá cao, PVI đã đạt được rất  nhiều danh hiệu quan trọng mà các tổ chức trong và ngoài ngành trao tặng. _ “ Giải thưởng Sao vàng đất Việt năm 2007” tôn vinh các doanh  nghiệp   có   thương   hiệu   đi   đầu   trong   hội   nhập   quốc   tế.   PVI   là   doanh   nghiệp duy nhất trong lĩnh vực bảo hiểm được trao tặng giải thưởng. _ “ Cúp vàng Thương hiệu và Nhãn hiệu” _ “ Cúp vàng Doanh nhân Tâm tài” _ “ Giải thưởng Doanh nhân ASEAN” tôn vinh các Doanh nghiệp,  Doanh nhân tiêu biểu thủ đô các nước khu vực Đông Nam Á. _ “ Giải Ngôi sao kinh doanh” do Ban tổ chức Hội nghị kinh tế đối  ngoại( Bộ Ngoại Giao) trao giải. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Sơ đồ cơ cấu tổ chức. Sơ đồ 1.1  Cơ cấu tổ chức PVI.
  11. 11 ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG BAN KIỂM SOÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Các công ty lien doanh &  PVI tham gia cổ đông BAN TỔNG GIÁM  ĐỐC TRỤ SỞ CÔNG TY VĂN PHÒNG II CÁC CÔNG TY  THÀNH VIÊN KHỐI KD  KHỐI  KHỐI KD  PVI Hà Nội PVI TP Hồ  BẢO HIỂM QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Chí Minh PVI Duyên  PVI Vũng  Ban Bảo  Ban Kế  Ban KD  Hải Tàu hiểm năng  hoạch  chứng  lượng &PT KD khoán PVI Thăng  PVI Đồng  Ban tài  Long Nai chính kế  Ban Bảo  Ban dòng  toán hiểm hàng  tiền PVI Đông  PVI Tây  hải Ban tổ  Bắc Nam chức nhân  sự Ban Bảo  Ban đầu  PVI Bắc  PVI Nam  hiểm kỹ  Ban tổng  tư Trung Bộ Trung Bộ thuật hợp pháp  chế PVI Đông  PVI Đà  Ban tin  Đô Nẵng Ban bảo  học thông  Ban CBTL  hiểm dự  tin PVI  án FINANCE PVI Nam  PVI Khánh  Văn phòng Sông Hồng Hoà Ban Tái  Ban đào  PVI Bình  PVI Sông  Bảo hiểm  tạo& Nghiên  Dương Tiền cứu SP mới Ban Quản  PVI Bắc  PVI Sài Gòn lý rủi ro­  Sông Hồng bồi thường
  12. 12 Chức năng nhiệm vụ. Mô hình tổ  chức trong PVI đó là mô hình trực tuyến chức năng.  Trong đó Ban giám đốc chịu trách nhiệm giám sát, điều hành mọi hoạt   động tại trụ sở công ty, văn phòng II, và các công ty thành viên. Tại trụ sở  Tổng công ty được chia ra làm 3 mảng cơ bản hoạt động, đó là khối kinh  doanh bảo hiểm, khối kinh doanh tài chính, và khối quản lý.  Khối kinh doanh bảo hiểm: với các phòng ban chuyên về  từng loại  sản phẩm bảo hiểm, kinh doanh  độc lập với nhau. Khối kinh doanh tài   chính hoạt động trong lĩnh vực đầu tư các khoản tiền từ phí bảo hiểm, từ  vốn kinh doanh tự có. Khối quản lý: không trực tiếp kinh doanh nhưng có  một vị trí quan trọng, thực hiện các công việc quản lý chung trong công ty,  hỗ  trợ  hoạt động quản trị  doanh nghiệp, cũng như  các hoạt động kinh   doanh bảo hiểm và tài chính.  3 mảng hoạt động này hoạt động dưới sự  điều hành trực tiếp của ban giám đốc đồng thời có quan hệ  với bộ  phân   còn lại. Đặc biệt, 2 bộ phận kinh doanh tài chính và bộ  phận kinh doanh   bảo hiểm có quan hệ  mật thiết với Khối quản lý, điều hành những hoạt  động chung trong Tổng công ty. Các Công ty thành viên có mạng lưới trên toàn quốc, hoạt động kinh  doanh độc lập, nhưng dưới sự  điều hành và giám sát của Tổng công ty,  thực hiện những kế hoạch mà Tổng công ty đề ra. Với   khối   kinh   doanh   bảo   hiểm   tại   Tổng   công   ty,   có   những   chi  nhánh trực thuộc tổng công ty, là những văn phòng khu vực hay chi nhánh   địa   phương,   với   mục   đich   mở   rộng   thị   trường   và   địa   bàn   hoạt   động.  Những chi nhánh này sẽ  chịu sự  điều hành, giám sát, và hướng dẫn trực  tiếp từ các phòng ban của khối. Với các công ty thành viên, họ cũng có những chi nhánh, văn phòng  trực thuộc công ty của mình. Những chi nhánh này chịu sự  điều hành,  giám sát và hướng dẫn trực tiếp từ công ty thành viên.
  13. 13 Bên cạnh đó, vì là Tổng công ty cổ  phần, số  cổ  đông tham gia góp  vốn trên 11 nên trong cơ  cấu tổ  chức của PVI bao gồm một Ban kiểm   soát, có nhiệm vụ  giám sát mọi hoạt động của hội đồng quản trị, Ban   tổng giám đốc cũng như chịu trách nhiệm với những báo cáo tài chính của   Tổng công ty. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua những năm vừa qua. Tình hình tài chính. Một đặc điểm quan trọng với một công ty hoạt động trong lĩnh vực  bảo hiểm, đặc biệt là Bảo hiểm phi nhân thọ là phải có tiềm lực tài chính  vững mạnh, có nguồn vốn và quỹ  dự  phòng đủ  lớn để  có thể  đền bù   được những thiệt hại có thể xảy ra với những tài sản mà doanh nghiệp đó  bảo hiểm. Qua quá trình hoạt động hơn 10 năm, PVI đã có những bước tiến  vượt bậc trong hoạt động kinh doanh cũng như  khả  năng tăng vốn thể  hiện qua một vài thông số cơ bản sau đây. Bảng 1.1 Cơ cấu nguồn vốn  PVI  2003­ 2007. Đơn vị: Triệu đồng. Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Nguồn vốn 368,250 395,175 462,385 1,195,284 4,496,174 Vốn chủ sở  114,262 133,834 155,066 718,215 1,754,121 hữu Vốn kinh  58,746 63,961 69,773 447,285 890,000 doanh Bảng 1.2  Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn. Đơn vị: Triệu  đồng. 2004/2003 2005/2004 2006/2005 2007/2006 Giá  % Giá trị % Giá trị % Giá trị %
  14. 14 trị Nguồn vốn 26,925 107 67,210 117 732,899 258 3,300,890 376 Vốn chủ sở  19,572 117 21,232 116 563,149 463 1,035,906 244 hữu  Vốn KD 5,215 109 5,812 109 377,512 641 442,715 199 Nhận thấy trong 5 năm trở  lại đây nói riêng và qua 10 năm hoạt  động nói chung, quy mô vốn của PVI đều tăng qua các năm. Đặc biệt 2  năm gần đây, 2006, 2007, tốc độ  tăng vốn, đặc biệt là tăng vốn chủ  sở  hữu của PVI   rất nhanh với tốc độ  tăng trưởng gấp 2 đến 4 lần năm   trước. Nguồn vốn tăng, là do vốn chủ sở hữu tăng lên. Điều này được lý  giải bởi quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp diễn ra trong 2 năm vừa qua.  Vốn chủ  sở  hữu năm 2006 tăng 463% so với năm 2005, năm 2007 tăng   244% so với 2006. Đến tháng 4/2007 PVI đã hoàn thành quá trình cổ phần   hoá của mình, tháng 8/2007, PVI chính thức niêm yết cổ phiếu trên Trung  tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội. Theo báo cáo cuối năm 2007 quy mô   vốn của Tổng công ty là 3,300,890 triệu đồng, và giá trị cổ phiếu của PVI   trên thị trường được đánh giá là cao nhất so với những công ty bảo hiểm  đang hoạt động trong ngành. Qua đó cho thấy, được tiềm lực tài chính  mạnh mẽ mà PVI đang có, cũng như đánh giá cao của các nhà đầu tư cho  khả năng phát triển của PVI. Kết quả hoạt động kinh doanh.
  15. 15 Bảng 1.3  Báo cáo kết quả kinh doanh của PVI giai đoạn 2003­2007. Đơn vị: Triệu đồng. Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Doanh   thu   thuần  145.269 171.859 186.498 306.759 502.317 hoạt   động   KD   Bảo  hiểm  Tổng   chi   phí   trực  85.778 110.003 98.910 178.439 217.246 tiếp KD Bảo hiểm Lợi   nhuận   gộp   từ  59.491 61.856 87.588 128.320 285.070 hoạt   động   KD   Bảo  hiểm  Chi phí bán hàng 25.298 32.176 47.295 86.350 160.618 Chi   phí   Quản   lý  15.654 15.929 24.000 35.570 77.262 doanh nghiệp Lợi   nhuận   thuần   từ  18.540 13.751 16.293 6.400 47.191 KD Bảo hiểm Lợi nhuận hoạt động  20.475 21.463 28.825 53.789 284.243 tài chính Lợi nhuận hoạt động  36 3 8 21 4510 khác. Lợi nhuận kế toán 39.051 35.217 40.126 60.210 249.782 Thuế thu nhập doanh  16.408 10.778 11.235 16.173 0
  16. 16 nghiệp Lợi nhuận sau thuế 22.643 24.439 28.891 44.038 249.782 Biểu đồ 1.1 Lợi nhuận 2003­2007. 300000 250000 200000 150000 Lợi nhuận 100000 50000 0 2003 2004 2005 2006 2007
  17. 17 Nhìn bảng báo cáo kết quả  kinh doanh giai  đoạn 2003­2007 cho  thấy, trong 5 năm liên tiếp, doanh thu từ  hoạt động kinh doanh của PVI   đều tăng, cùng với đó trong 5 năm, chỉ  có duy nhất năm 2004 lợi nhuận   của PVI giảm so với năm trước.  Lợi nhuận năm 2004 bằng 90.3% so với  năm 2003. Lợi nhuận giảm do trong năm này, nền kinh tế  có nhiều biến  động, thiên tai bão lũ xảy ra, hậu quả  là PVI phải bồi thường cho nhiều  đơn bảo hiểm đã cấp, làm giảm lợi nhuận từ  hoạt động kinh doanh bảo  hiểm. Tuy nhiên sang đến năm 2005, lợi nhuận lại tăng lên và tăng cao   hơn so với năm 2003, lợi nhuận nhuận năm 2005 bằng 102.7% so với năm  2003. Năm 2007 là năm nhảy vọt với mức lợi nhuận lên tới hơn 200 tỉ  đồng bằng 414.8% so với năm 2006. Có thể nói đây là đà tăng tương xứng  với sự  tăng trưởng về  quy mô tổng vốn và vốn chủ  sở  hữu trong 2 năm  trở lại đây của PVI. Bảng 1.4 Tình hình nộp ngân sách, đóng góp cho nhà nước của  PVI. Đơn vị: Triệu đồng. Năm Nộp   ngân  Chênh lệch năm trước sách Giá trị % 200 55,882 _ _ 4 200 60,581 4699 8.4 5 200 105,393 44812 73.9 6 200 Miễn thuế _ _ 7 Cùng với lợi nhuận tăng, mức đóng góp cho ngân sách nhà nước  cũng tăng  qua các năm. Đặc biệt là năm 2006 mức đóng góp là hơn 105 tỷ 
  18. 18 tăng 73.9% so với năm trước. Tuy nhiên sang đến năm 2007 do là doanh  nghiệp thực hiện cổ  phần hoá nên PVI sẽ  được miễn, giảm   thuế  thu   nhập doanh nghiệp trong 2 năm. 1.4. Những đặc điểm của PVI ảnh hưởng tới hoạt động kênh phân  phối. 1.4.1. Đặc điểm của sản phẩm. Sản phẩm bảo hiểm là cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đối  với bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có   các sự  kiện bảo hiểm xảy ra. Xét trên góc độ  quản trị  kinh doanh sản  phẩm bảo hiểm đơn giản là sản phẩm mà các doanh nghiệp bảo hiểm  cung cấp cho thị trường. Với đặc tính là một loại hình dịch vụ, việc cung  cấp phân phối sản phẩm bảo hiểm đến được với khách hàng gặp không ít   trở ngại. Sản phẩm bảo hiểm mang tính vô hình làm cho khách hàng khó  nhận thấy sự  khác nhau giữa các sản phẩm của các doanh nghiệp bảo  hiểm khác, làm cho việc giới thiệu chào bán sản phẩm trở  nên khó khăn   hơn. Thứ  hai, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không thể  tách rời, việc  tạo ra sản phẩm dịch vụ  bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng. Tính không  thể  tách rời và không thể  cất trữ  được đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm   phải chú trọng đến lượng thời gian dành cho bán hàng cá nhân và cần  nâng cao năng lực của các bộ  phận cung cấp dịch vụ. Thứ  ba là   tính  không đồng nhất, dịch vụ bảo hiểm được thực hiện bởi con người, do đó  không phải lúc nào cũng nhất quán về cách thức thực hiện và chất lượng  của   sản   phẩm,   khi   mua   và   sử   dụng   sản   phẩm   này,   người   tiêu   dùng  thường căn cứ vào thái độ của nhân viên hoặc đại lý cung cấp dịch vụ đó  để đánh giá về sản phẩm. Do vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm   sự  không  ổn định về  chất lượng, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn chú  trọng đến công tác tuyển chọn, đào tạo và khuyến khích những người  trực tiếp bán hàng. Đặc tính thứ tư là tính không được bảo hộ bản quyền:   các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh có thể bán một cách hợp pháp các 
  19. 19 sản phẩm bảo hiểm là bản sao của các hợp đồng bảo hiểm của các doanh   nghiệp khác. Vì vậy để nâng cao tính cạnh tranh với sản phẩm của mình,   doanh nghiệp cần gia tăng các dịch vụ bổ sung nhưn nâng cao chất lượng  các dịch vụ đi kèm.  Ngoài những đặc tính chung của một sản phẩm dịch vụ, sản phẩm   bảo hiểm còn mang những đặc tính rất đặc biệt. Thứ nhất: sản phẩm bảo   hiểm là sản phẩm không mong đợi,bảo hiểm bảo đảm sự  đền bù thiệt   hại khi có rủi ro xảy ra nhưng không ai mong muốn có những thiệt hại   này, chính bởi đặc điểm  này làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm  trở  nên vô cùng khó khăn. Thứ  hai: đây là sản phẩm của “chu trình kinh   doanh đảo ngược”. Với phần lớn doanh nghiệp, giá cả sản phẩm dựa trên  tình hình kinh doanh thực tế, trong khi đó, giá của sản phẩm bảo hiểm lại  được xác định dựa trên số  liệu ước tính chi phí phát sinh trong tương lai.  Thứ ba: sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”, nếu như  trong các lĩnh vực kinh doanh khác, hiệu quả  kinh doanh có thể  xác định   được khá chính xác ngay tại thời điểm sản phẩm được tiêu thụ  thì trong  lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, hiệu quả  kinh doanh khó có thể  xác định   được ngay tại thời điểm sản phẩm được bán. Với những đặc điểm chung   của sản phẩm dịch vụ  và những đặc điểm riêng có của sản phẩm bảo  hiểm,   đòi  hỏi   việc  phân  phối  sản  phẩm  phải  được  thực  hiện  chuyên  nghiệp và thành thạo. Những thành viên trong kênh phân phối phải có kinh  nghiệm để đánh giá chính xác chi phí, giá cả sản phẩm, đồng thời phải có   được cách thức phục vụ tốt để làm hài lòng cũng như tạo được uy tín với   khách hàng. Hoạt động trong ngành bảo hiểm hơn 10 năm với phương châm “   Trung thành, tận tuỵ với khách hàng”, PVI được đánh giá là nhà bảo hiểm  giàu kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ. Những sản  phẩm mà công ty hiện đang cung cấp: Bảo hiểm năng lượng,
  20. 20 Bảo hiểm  hàng hoá   vận chuyển   đường bộ,  đường biển,  đường   sông, đường sắt, đường hàng không. Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu đối với tàu biển.   tàu phà sông biển. Bảo hiểm xây dựng lắp đặt. Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại. Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh. Bảo hiểm trách nhiệm chung. Bảo hiểm sức khoẻ chung. Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người. Bảo hiểm xe cơ giới. Bảo hiểm bắt buộc. Bảo hiểm chi phí y tế và vận chuyển cấp cứu. Bảo hiểm khác. Tái bảo hiểm.  Sản phẩm Bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc điểm khác biệt so  với những loại sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ  là  loại hình bảo hiểm rủi ro, là điều khách hàng không hề mong muốn. Khi  mua sản phẩm Bảo hiểm này, khách hàng ko nhận được bất cứ  khoản  sinh lời nào trong tương lai giống như  sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ,  khách hàng chỉ  nhận được sự  an tâm trong quá trình hoạt động của mình  vì sẽ được đền bù thiệt hại nếu xảy ra rủi ro với những sản phẩm mà họ  đã mua. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được vấn đề  hạn chế  và đề  phòng rủi ro, chính vì vậy, các doanh nghiệp Bảo hiểm hoạt động trong  lĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ thường gặp khó khăn hơn trong việc phân  phối sản phẩm, đó là khó khăn chung của toàn ngành và PVI cũng không  thể đứng ngoài. Tại PVI với những sản phẩm như bảo hiểm năng lượng, bảo hiểm   tài sản kỹ  thuật, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, do đặc thù là đối tượng  

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản