intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

Chia sẻ: Sdgsxf Sdgsxf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:107

0
50
lượt xem
11
download

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trình bày bảo hiểm Việt Nam và những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và những thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Đưa ra một số giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nhằm vượt qua thách thức.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG --------------- NGUYỄN THỊ HOA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM Chuyên ngành : KTTG & QHKTQT Mã số : 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Như Tiến Hà Nội, 2010
  2. 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Kể từ khi Việt Nam chƣa chính thức mở cửa thị trƣờng bảo hiểm thì các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài đã chuẩn bị sẵn cho mình kế hoạch để chờ đến thời khắc mở cửa chính thức. Vì vậy, ngay sau khi Việt Nam mở cửa thị trƣờng bảo hiểm, hàng loạt doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài đã ồ ạt vào Việt Nam. Điều đáng lƣu ý là những doanh nghiệp này không chỉ “tấn công” vào thị trƣờng, mà còn tấn công cả các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc. Từ đây một môi trƣờng cạnh tranh sôi động, nhƣng cũng khắc nghiệt đang diễn ra, các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài đang khẳng định đƣợc nhiều lợi thế vƣợt trội so với các doanh nghiệp trong nƣớc. Trƣớc năm 1993 ở Việt Nam chỉ tồn tại duy nhất Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) vừa tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc. Sau năm 1993, thực hiện chính sách mở cửa thị trƣờng, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mới cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng phục vụ khách hàng, song vẫn còn rất non yếu. Vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để có thể cạnh tranh với các hãng bảo hiểm lớn, có kinh nghiệm lâu năm và tiền lực tài chính vững mạnh trên thế giới? Xuất phát từ bối cảnh các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn non trẻ, việc đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam, phân tích những thách thức mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt, cũng nhƣ cơ hội có thể tiếp nhận để từ đó tìm ra đƣợc một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam vƣợt qua thách thức là một yêu cầu tất yếu về mặt lý luận và thực tiễn. Đó là lý do
  3. 2 vì sao vấn đề này đƣợc tác giả lựa chọn làm đề tài của Luận văn Thạc sỹ kinh tế. 2. Tình hình nghiên cứu: Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính đóng vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đây là một lĩnh vực tuy không mới đối với thế giới, song với một thị trƣờng còn non trẻ và đang rất ngỡ ngàng trƣớc tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ Việt Nam thì bảo hiểm vẫn là một lĩnh vực mới và khá hấp dẫn. Cho đến nay, đã có nhiều ngƣời nghiên cứu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm song những đề tài này tập trung đi sâu vào từng nghiệp vụ kinh doanh cụ thể. Có thể nói đề tài Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề mở, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn, bao quát hơn để tìm ra giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chủ động hội nhập. 3. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích và đánh giá một cách khách quan thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam, luận văn sẽ tổng hợp những thách thức và cơ hội của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Liệu đứng trƣớc những trở ngại và khó khăn trong khi tiềm lực còn chƣa đủ mạnh thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để tồn tại và phát triển? Chính vì vậy trong Luận văn này, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể hơn để phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua.
  4. 3 - Tìm hiểu những thách thức và cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trƣớc cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt nam, tìm ra cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam để đƣa ra đƣợc những giải pháp phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: - Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam. - Hoạt động bảo hiểm đƣợc đề cập ở đây là bảo hiểm mang tính thƣơng mại, chứ không phải bảo hiểm mang tính xã hội nhƣ bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm y tế bắt buộc đang đƣợc thực hiện tại Việt Nam. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau: - Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp - Phƣơng pháp thống kê - Phƣơng pháp so sánh 7. Kết cấu của luận văn: Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận gồm 3 chƣơng sau:
  5. 4 Chƣơng I: Bảo hiểm Việt Nam và những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm Chƣơng II: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam và những thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam Chƣơng III: Một số giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nhằm vƣợt qua thách thức Đề tài đƣợc tiến hành trong điều kiện công tác thống kê của toàn ngành chƣa hoàn thiện, việc trao đổi và cập nhật thông tin giữa các cơ quan quản lý bảo hiểm, hiệp hội bảo hiểm còn nhiều hạn chế, bởi vậy luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự thông cảm và nhiệt tình đóng góp của thầy, cô và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau Đại học, các thầy, cô là giảng viên cho lớp Cao học 14 trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng, Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền bá những kiến thức quý báu, sâu rộng giúp tôi có nền tảng khoa học khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Tôi xin gửi lời cảm ơn và tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới PGS.TS Nguyễn Nhƣ Tiến, ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
  6. 5 CHƢƠNG 1: BẢO HIỂM VIỆT NAM VÀ NHỮNG CAM KẾT HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM 1.1 Vài nét về thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam 1.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 bảo hiểm đã xuất hiện ở Việt Nam nhƣng dƣới hình thức đại lý bảo hiểm của nƣớc ngoài. Hầu hết những luật lệ, quy định về bảo hiểm trong giai đoạn này là của Pháp. Đến năm 1964, do yêu cầu cấp bách trong việc thực hiện các biện pháp cấp thiết để đảm bảo an toàn cho con ngƣời, tài sản, và các phƣơng tiện vận tải trong hoàn cảnh chiến tranh, ngày 17/12/1964 Chính phủ quyết định thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (nay là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam). Với hơn 40 năm hình thành và phát triển, có thể nói thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn nhƣ sau:  Giai đoạn 1965 - 1986 Trong giai đoạn này, trên thị trƣờng chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm của Nhà nƣớc hoạt động, đó là Công ty bảo hiểm Việt Nam. Bên cạnh chức năng độc quyền là cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho thị trƣờng nội địa, Công ty bảo hiểm Việt Nam còn giữ vai trò quản lý Nhà nƣớc và điều hành hoạt động của thị trƣờng bảo hiểm trong nƣớc. Sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này hết sức nghèo nàn. Tuy có đủ 3 loại hình bảo hiểm là bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con ngƣời nhƣng số lƣợng nghiệp vụ và sản phẩm không nhiều.  Giai đoạn 1987 – 1994
  7. 6 Cùng với tác động của công cuộc đổi mới kinh tế, Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) cũng chuyển hƣớng hoạt động của mình cho phù hợp hơn với cơ chế thị trƣờng. Tuy nhiên, trong thời gian này, Bảo Việt vẫn nắm giữ vai trò độc quyền trên thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam. Số lƣợng nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này khoảng trên 30 loại hình. Năm 1989, Bảo Việt đƣợc Nhà nƣớc chuyển đổi thành Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam với các công ty bảo hiểm trực thuộc ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng.  Giai đoạn 1994 đến nay Vào năm 1994, khi Chính phủ quyết định mở cửa thị trƣờng bảo hiểm bằng việc cho phép các công ty bảo hiểm khác đƣợc ra đời, vai trò độc quyền của Bảo Việt chấm dứt. Theo đánh của Bộ Tài chính thì vào thời điểm đó , Bảo Việt mới chỉ đáp ứng đƣợc từ 10-15% nhu cầu thị trƣờng. Sau năm 1994, một loạt công ty bảo hiểm trong nƣớc đƣợc thành lập. Các khách hàng chủ yếu của thị trƣờng bảo hiểm trong giai đoạn này vẫn là các doanh nghiệp quốc doanh lớn nhƣ Tổng Công ty hàng không Việt Nam, Petro Việt Nam, Tổng Công ty than.... Bên cạnh đó, hệ thống các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và nƣớc ngoài cũng là những khách hàng quan trọng của thị trƣờng bảo hiểm. Theo các quy định của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm và luật đầu tƣ nƣớc ngoài, tất cả các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài đều phải tiến hành bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự tại các công ty bảo hiểm đƣợc phép hoạt động ở Việt Nam. Trƣớc đó, chƣa có các chế tài bắt buộc nên có rất ít các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài mua bảo hiểm ở Việt Nam. Các quy định này đã làm cho thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam sôi động hơn. Thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã thực sự đƣợc hình thành và có bƣớc phát triển nhanh chóng. Theo ƣớc tính, tốc độ tăng trƣởng bình quân của thị trƣờng này là 30-40%/năm.
  8. 7 Năm 1996, lần đầu tiên Bộ Tài Chính cho phép Bảo Việt đƣợc bán các sản phẩm nhân thọ. Đây là một bƣớc lớn thể hiện nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc đa dạng hoá các sản phẩm trên thị trƣờng bảo hiểm, cũng nhƣ trong việc tối đa hoá tiềm năng của thị trƣờng này. Nếu nhƣ doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chỉ chiếm 10% tổng phí bảo hiểm trên cả thị trƣờng vào năm 1998, thì đến năm 2008, tỷ trọng đã là 48%. Trong giai đoạn tiếp theo, thị trƣờng bảo hiểm nhân thọ sẽ vẫn là nhân tố chủ đạo cho mục tiêu tăng trƣởng vƣợt bậc của thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam. Ngày 9/7/1999, Thủ tƣớng Chính phủ đã quyết định thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Mục đích của Hiệp hội là “đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, liên kết, hỗ trợ, hợp tác, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển lành mạnh trong thị trƣởng bảo hiểm Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam”. Tuy nhiên sau khi chính thức đi vào hoạt động, vai trò của Hiệp hội mới chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế. Tình trạng không tôn trọng cam kết trong Hiệp hội vẫn thƣờng xuyên xảy ra, điều này làm cho liên kết giữa các doanh nghiệp trong Hiệp hội càng trở nên yếu ớt.[13] Tháng 12 năm 2000, Quốc hội đã phê chuẩn Luật Kinh doanh bảo hiểm và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2001. Vậy là sau 40 năm ra đời và hoạt động, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có văn bản pháp lý cao nhất của riêng mình và đây cũng chính là việc tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với thị trƣờng bảo hiểm khu vực và thế giới. Nhƣ vậy, với một chặng đƣờng phát triển tƣơng đối ngắn, thời gian hoạt động theo cơ chế thị trƣờng chƣa dài nhƣng thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã có bƣớc phát triển về chất và lƣợng, với một hệ thống khung pháp lý khá hoàn thiện, tốc độ tăng trƣởng mạnh mẽ của thị trƣờng sản phẩm cả về số lƣợng sản phẩm và doanh thu phí, có thể nói thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã
  9. 8 có những bƣớc phát triển đáng ngạc nhiên, bƣớc vào giai đoạn phát triển mới – hội nhập kinh tế quốc tế. 1.1.2 Môi trƣờng pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Phát triển thị trƣờng dịch vụ tài chính nói chung và thị trƣờng bảo hiểm nói riêng luôn là một trong những ƣu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Để có đƣợc một thị trƣờng bảo hiểm phát triển lành mạnh, việc hình thành khung pháp lý điều tiết thị trƣờng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm qua, Chính phủ luôn quan tâm và khuyến khích phát triển thị trƣờng bảo hiểm, thể hiện qua việc tạo ra một hành lang pháp lý dần đƣợc hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành hoạt động kinh doanh và phát triển. Sau một thời gian dài không phân định rõ chức năng quản lý Nhà nƣớc và kinh doanh bảo hiểm trên thị trƣờng, việc Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam có thể nói đã thiết lập đƣợc khung pháp lý cơ bản đầu tiên để điều tiết quá trình vận hành thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam. Tuy nhiên, khung pháp lý điều chỉnh thị trƣờng này chỉ thực sự phát triển với việc lần đầu tiên Luật Kinh doanh bảo hiểm đƣợc Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 9/12/2000. Đặc biệt, Chính phủ còn xây dựng “Chiến lƣợc phát triển thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” thể hiện qua Quyết định số 175/2003/QĐ- TTg ngày 29/8/2003. Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển của toàn ngành bảo hiểm trong những năm tiếp theo an toàn, hiệu quả và sẵn sàng hội nhập. Để thực hiện chiến lƣợc này, hàng loạt văn bản, chế độ mới đã đƣợc khẩn trƣơng xây dựng và ban hành theo đúng kế hoạch đã đề ra. Cùng với việc xây dựng cơ chế chính sách mới, việc tiếp tục hoàn thiện những văn bản đã ban hành nhằm cải thiện môi trƣờng kinh doanh, tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo các nguyên tắc
  10. 9 và chuẩn mực quốc tế cũng đƣợc quan tâm, thể hiện qua việc ban hành các văn bản sau: - Nghị định 45/2007/NĐ-CP, Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 (thay thế Nghị định số 42/2001/NĐ-CP, Nghị định số 43/2001/NĐ-CP). - Thông tƣ 155/2007/TT-BTC, Thông tƣ 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 (thay thế Thông tƣ 98/2004/TT-BTC, Thông tƣ 99/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004). - Quyết định 96/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 23/11/2007 Ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị. - Quyết định 23/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 9/4/2007 Ban hành Quy tắc biểu phí BHBB TNDS chủ xe cơ giới. - Quyết định 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. - Nghị định 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 về chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới. - Nghị định 118/2003/NĐ-CP ngày 13/10/2003 về xử phạt hành chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 45/2007/NĐ-CP, Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007, Thông tƣ 155/2007/TT-BTC, Thông tƣ 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 đã tạo ra đƣợc rào cản kỹ thuật để sàng lọc các Doanh nghiệp bảo hiểm muốn đƣợc thành lập và hoạt động nhƣ tăng vốn pháp định từ 70 tỷ đồng lên 300 tỷ đồng đối với doanh nghiệp phi nhân thọ, 140 tỷ đồng lên 600 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhân thọ, tổ chức nƣớc ngoài đứng ra thành lập doanh nghiệp bảo hiểm phải có trên 10 năm hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tổng tài sản trên 2 tỷ USD, quy định về năng lực quản lý và chuyên môn cho các chức danh Chủ tịch và ủy viên Hội đồng quản trị, Giám đốc và Phó Giám đốc Chi nhánh, điều kiện mở thêm chi nhánh và phòng kinh doanh.
  11. 10 Tiến tới năm 2010 sửa đổi Luật kinh doanh bảo hiểm phù hợp với tiêu chuẩn, chuẩn mực quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi khách hàng ngày một tốt hơn. [1] Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu mới phát sinh trong thực tiễn, tránh thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản, Bộ Tài chính đã ban hành các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm xây dựng, lắp đặt áp dụng đối với các công trình sử dụng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc. Có thể thấy rằng, công tác xây dựng chế độ chính sách trong lĩnh vực bảo hiểm đã đi đúng hƣớng, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của thị trƣờng. Cơ chế chính sách đã từng bƣớc đƣợc công khai, minh bạch hoá tạo ra một môi trƣờng pháp lý phù hợp nhằm phát triển một thị trƣờng bảo hiểm toàn diện, an toàn, lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cƣ, đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân đƣợc thụ hƣởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nƣớc và nƣớc ngoài cho đầu tƣ phát triển kinh tế – xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm; đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. 1.1.3 Quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Từ tháng 6/1992, Bộ Tài chính đã tách chức năng quản lý Nhà nƣớc và chức năng kinh doanh của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam và thành lập một Phòng quản lý Nhà nƣớc về kinh doanh bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng, tham mƣu cho Bộ Tài chính trong công tác quản lý Nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đến năm 2003, do sự phát triển nhanh chóng của thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam trong cơ chế mở cửa, Phòng quản lý bảo hiểm đã đƣợc tách ra trở thành Vụ bảo hiểm. Nhƣ vậy, việc quản lý về bảo hiểm đã đƣợc chuyên môn hoá với tầm quản lý vĩ mô cao hơn rất nhiều so với trƣớc đây. Từ đây, thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã có điều kiện để phát triển
  12. 11 mạnh. Vụ bảo hiểm là cơ quan quản lý trực tiếp của Nhà nƣớc về lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; tiếp nhận cấp, thu hồi giấy phép kinh doanh bảo hiểm.... Vụ quản lý bảo hiểm chính là cơ quan giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm; phê chuẩn, ban hành, xác nhận hoàn tất thủ tục đăng ký quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng của các nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể. Nhận thức rõ sự cần thiết khách quan của việc duy trì một thị trƣờng bảo hiểm phát triển lành mạnh, an toàn và bền vững, trong thời gian qua Bộ Tài chính đã chú trọng công tác quản lý, giám sát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cả về số lƣợng và chất lƣợng, cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Mạnh dạn đổi mới phƣơng thức quản lý trên cơ sở hạn chế sự can thiệp hành chính vào hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp giữa kiểm tra tại chỗ và giám sát từ xa, sử dụng các công cụ phân tích tài chính – kinh doanh, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động và phần mềm quản lý, đồng thời nâng cao tính tự giác và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Cơ quan chức năng không tuỳ tiện can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trừ các vấn đề quyết định đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Quan hệ giữa các cơ quan quản lý và doanh nghiệp dựa trên tinh thần hợp tác và xây dựng. Thông qua các hoạt động của mình, cơ quan quản lý bảo hiểm đã kịp thời phát hiện kiên quyết xử lý và chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc nhƣ cạnh tranh không lành mạnh, trục lợi không tuân thủ các yêu cầu tài chính... làm ảnh hƣởng đến quyền lợi chính đáng của ngƣời tham gia bảo hiểm. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền, hƣớng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nhiều chủ trƣơng, chính sách lớn của Đảng và Nhà nƣớc tiếp tục đƣợc quan tâm, thực hiện có kết quả và hƣớng đến nhiều đối tƣợng khác nhau, thông qua nhiều hình thức thiết thực, phong phú, sinh động nhƣ báo chí, đài phát thanh, hội thảo....Qua đó, góp phần xử lý kịp thời các yêu cầu mới phát sinh, đảm bảo thị trƣờng phát triển ổn định và nâng cao nhận thức của ngƣời
  13. 12 dân về kinh doanh bảo hiểm và quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đặc biệt, đƣợc sự đồng ý của Chính phủ và Bộ Tài chính, ngày 9/7/1999, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã đƣợc thành lập với chức năng đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của các doanh nghiệp bảo hiểm trƣớc các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và công chúng. Việc thành lập Hiệp hội đã góp phần hỗ trợ cho công tác quản lý Nhà nƣớc đƣợc hiệu quả hơn. 1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam 1.2.1 Cơ cấu và quy mô thị trƣờng bảo hiểm Trong những năm vừa qua, thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã có những bƣớc phát triển nhanh chóng cả về chất và lƣợng, đánh dấu bƣớc phát triển căn bản từ một thị trƣờng độc quyền nhà nƣớc sang một thị trƣờng khá hoàn chỉnh theo cơ chế thị trƣờng với sự tham gia của đủ mọi thành phần kinh tế (nhà nƣớc, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nƣớc ngoài) hoạt động trong khu vực kinh doanh bảo hiểm. Năm 2008, thị trƣờng có thêm 9 doanh nghiệp đƣợc cấp phép mới, nâng tổng số doanh nghiệp lên 49 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm 2 doanh nghiệp Nhà nƣớc, 23 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh và 20 doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.[2]
  14. 13 BẢNG 1.1: SỐ LƢỢNG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM THEO KHỐI DOANH NGHIỆP NĂM 2008 Loại hình doanh Nhà Cổ Liên 100% vốn Tổng nghiệp nƣớc phần doanh nƣớc ngoài cộng Bảo hiểm phi nhân thọ 2 15 3 7 27 Bảo hiểm nhân thọ 1 1 9 11 Tái bảo hiểm 1 1 Môi giới bảo hiểm 6 4 10 Tổng cộng 2 23 4 20 49 Nguồn: Bộ Tài Chính, Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008 [2] Bên cạnh đó, sự góp mặt của 42 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trƣờng đầu tƣ và tăng lòng tin của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam. Thị trƣờng bảo hiểm tiếp tục duy trì tốc độ tăng trƣởng cao so với tăng trƣởng GDP, doanh thu toàn ngành đạt 27.668 tỷ đồng, tăng 15,45% so với năm 2007 trong đó doanh thu phí bảo hiểm đạt 21.253 tỷ đồng, doanh thu đầu tƣ đạt 6.799 tỷ đồng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò, vị trí của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc tiếp tục đƣợc củng cố và tăng cƣờng, chiếm 64,97% tổng doanh thu phí bảo hiểm.
  15. 14 BẢNG 1.2: DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM VÀ THỊ PHẦN THEO KHỐI DOANH NGHIỆP NĂM 2007 - 2008 Toàn thị Phi nhân thọ Nhân thọ Các chỉ tiêu Đơn vị trƣờng 2007 2008 2007 2008 2007 2008 Doanh thu phí Tỷ đồng 8.213 10.950 9.437 10.303 17.650 21.253 bảo hiểm Tốc độ tăng trƣởng % 28,27 33,33 11,09 9,18 18,47 20,41 Tỷ trọng/tổng phí % 43,53 53,47 51,52 48,48 100 100 Tỷ trọng phí/GDP % 0,72 0,90 0,82 0,85 1,54 1,75 Nguồn: Bộ Tài Chính, Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008 [2] 1.2.2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm Phi nhân thọ đạt doanh thu 10.950 tỷ VND tăng 33,33% so với năm 2007. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm tiếp tục tập trung vào các doanh nghiệp lớn hoạt động trên thị trƣờng, dẫn đầu là Bảo hiểm Bảo Việt 3.320 tỷ VND, tiếp đó là PVI 2.020 tỷ VND, Bảo Minh 1.884 tỷ VND, PJICO 1.060 tỷ VND, PTI 443 tỷ VND. Chiếm tỷ trọng lớn là nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới 3.182 tỷ VND, bảo hiểm tài sản kỹ thuật 2.024 tỷ VND, bảo hiểm con ngƣời 1.597 tỷ VND, bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu 1.266 tỷ VND, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển 972 tỷ VND. Toàn thị trƣờng đã giải quyết bồi thƣờng 4.511 tỷ VND, tỷ lệ bồi thƣờng 41,5%. Các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thƣờng cao là bảo hiểm xe cơ giới 1.830 tỷ VND (chiếm 58%), bảo hiểm con ngƣời 724 tỷ VND (chiếm 45,3%), bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu 583 tỷ VND (chiếm 46%), bảo hiểm tài sản thiệt hại 695 tỷ VND (chiếm 34,3%). Các doanh nghiệp có tỷ lệ bồi thƣờng cao là Bảo Minh 50,5%, Bảo Việt 48%, PVI 43,4%. Tỷ lệ bồi thƣờng
  16. 15 trên nếu so với phí đƣợc hƣởng (50% phí thực thu trong năm) là cao, có nhiều nghiệp vụ và doanh nghiệp bảo hiểm ở mức đáng báo động. Chính vì vậy, năm 2008 có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có kết quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm là con số âm phải sử dụng đến sự phòng giao động lớn. Lãi có đƣợc từ kết quả kinh doanh nói chung chủ yếu thu đƣợc từ lãi đầu tƣ trong đó có tiền gửi ngân hàng.[5] Sau quá trình thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Chiến lƣợc phát triển thị trƣờng bảo hiểm, năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất cũng đƣợc cải thiện. Kết quả là mức phí bảo hiểm giữ lại của toàn thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ tăng 39,2% so với năm 2007 lên mức 7.334 tỷ đồng. Bên cạnh điểm sáng về tăng trƣởng doanh thu, tình hình cạnh tranh phi kỹ thuật trên thị trƣờng vẫn tiếp tục diễn ra rất quyết liệt, trong khi đó chi phí khai thác dịch vụ gia tăng mạnh, tình hình tổn thất diễn biến xấu. Tình trạng hạ phí bảo hiểm nhằm tạo lợi thế cạnh tranh diễn ra phổ biến ở nhiều loại hình nghiệp vụ nhƣ bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thân tàu, hàng hoá vận chuyển đƣờng biển....không chỉ tạo ra môi trƣờng cạnh tranh không lành mạnh, mà còn ảnh hƣởng tới sự an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Tình hình quản trị doanh nghiệp nhìn chung còn nhiều bất cập. Số lƣợng các doanh nghiệp bảo hiểm gia tăng nhanh chóng trong thời gian vừa qua đã làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực bảo hiểm, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao. Việc quản lý và quản trị rủi ro/chi phí đang thực sự là vấn đề nghiêm trọng trong hệ thống của mỗi doanh nghiệp. Mặc dù nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, đã hết sức chú trọng vấn đề này, nhƣng để cải thiện tình hình cần phải có thời gian.
  17. 16 Tình hình tổn thất tiếp tục theo chiều hƣớng gia tăng ở hầu hết các loại hình nghiệp vụ: cháy, kỹ thuật, thân tàu, hàng hoá. Đặc biệt, trận mƣa lũ lịch sử tại Hà Nội đầu tháng 11/2008 đã gây thiệt hại nặng nề cả về kinh tế nói chung và đối với ngành bảo hiểm nói riêng. Số tiền bồi thƣờng cho các tổn thất về tài sản (chủ yếu là xe ô tô) của sự cố lụt lội này đã lên tới 70 – 80 tỷ VND.[10] Trong khi đó, xu hƣớng các dịch vụ “xấu” không đáp ứng đƣợc điều kiện chuyển tái ra nƣớc ngoài, đƣợc chuyển tái cho thị trƣờng trong nƣớc, hoặc các doanh nghiệp trong nƣớc chia sẻ dịch vụ với điều kiện bảo hiểm và giá không thuận lợi hơn so với chuyển tái ra nƣớc ngoài ngày càng trở nên phổ biến. Trong năm 2008 thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ có thêm 5 doanh nghiệp mới đƣợc cấp giấy phép và đi vào hoạt động: Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI), Công ty cổ phần Bảo hiểm Hùng Vƣơng (HVI), Công ty bảo hiểm Fubon, Công ty Bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC), Công ty Bảo hiểm Mitsui Sumitomo. Nhƣ vậy tổng số doanh nghiệp hoạt động trên thị trƣờng phi nhân thọ Việt Nam đã lên tới 27 công ty.[10] 1.2.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Đầu năm 2008 vật giá leo thang, giá lƣơng thực thực phẩm tăng gấp 1,5 đến 2 lần làm cho đời sống ngƣời lao động khó khăn hơn. Giữa năm 2008 tiền gửi tiết kiệm có lãi suất tăng đột biến tới 18%. Tình hình trên dẫn đến bảo hiểm nhân thọ gặp khó khăn lớn. Khách hàng đang tham gia bảo hiểm chấm dứt hợp đồng trƣớc hạn, rút tiền gửi ngân hàng khiến cho giá trị hoàn trả tăng. Nguồn khách hàng tiềm năng giảm nên số lƣợng hợp đồng mới khai thác đƣợc không nhiều. Tuy nhiên với sự cố gắng của các doanh nghiệp bảo hiểm quyết tâm vƣợt qua thách thức đƣa ra nhiều sản phẩm mới, hấp dẫn phù hợp với nhu cầu khách hàng nên đã đạt đƣợc doanh thu 10.339 tỷ đồng, tăng 9,3%
  18. 17 so với năm 2007. Dẫn đầu là Prudential 4.270 tỷ đồng, Bảo Việt 3.425 tỷ đồng, Manulife 1.081 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm năm đầu đạt 2.059 tỷ đồng tăng 13,88%, chủ yếu do các sản phẩm đƣợc thiết kế với số tiền bảo hiểm lớn, thời gian bảo vệ dài hơn khiến cho phí bảo hiểm lớn hơn. Dẫn đầu là Prudential 708 tỷ đồng, Bảo Việt 512 tỷ đồng, Manulife 226 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm một lần đạt không nhiều 15 tỷ đồng trong đó ACE Life đạt 7 tỷ đồng và AIG đạt 5 tỷ đồng.[10] Tổng số hợp đồng bảo hiểm khai thác mới trong kỳ là 552.304 giảm 13,71% so với năm 2007. Tổng số hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực trong kỳ là 594.485, tăng 26,17%, trong đó hợp đồng hủy bỏ trƣớc hạn là 508.652 tăng 26,78% so với năm 2007. Đặc biệt số lƣợng hợp đồng hủy bỏ năm thứ nhất là 99.998 hợp đồng tăng 8,83% so với năm 2007. Tổng số hợp đồng có hiệu lực đến cuối kỳ là 3.850.676 tăng 1,1%. Doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều hợp đồng tính theo sản phẩm chính là Prudential 1.566.031, Bảo Việt 1.561.768, Manulife 252.849. Tổng số trả tiền bảo hiểm là 4.572 tỷ đồng tăng 29,5% so với 2007. Chi trả quyền lợi bảo hiểm 2.539 tỷ đồng tăng 17,4%, trong đó Bảo Việt 1.381 tỷ đồng, Prudential 833 tỷ đồng, Manulife 135 tỷ đồng. Chi trả giá trị hoàn lại 2.033 tỷ đồng tăng 48,6% so với năm 2008, trong đó Prudential là 760 tỷ đồng, Bảo Việt 580 tỷ đồng, Manulife 451 tỷ đồng. Số lƣợng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm trƣớc hạn do những khó khăn kinh tế tăng lên trong năm 2008 khiến cho giá trị hoàn lại tăng cao. Số lƣợng đại lý bảo hiểm (là cá nhân kinh doanh có hợp đồng đại lý với các DNBH) tính đến cuối kỳ là 72.079 ngƣời tăng 2,29%, trong đó Prudential 25.594 ngƣời, Bảo Việt 15.535 ngƣời, AIG 8.998 ngƣời, Dai-ichi 8.389 ngƣời. Số lƣợng đại lý tuyển dụng đào tạo trong năm là 61.935 ngƣời trong đó Prudential là 24.452 ngƣời, AIG 9.680 ngƣời, Dai-ichi 8.510 ngƣời,
  19. 18 Manulife 6.198 ngƣời. Điều này chứng tỏ đại lý bỏ việc nhiều do tình hình khai thác khó khăn nên doanh nghiệp bảo hiểm phải tuyển dụng bổ sung. [4] Trong tháng 6/2008 có thêm một công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nƣớc ngoài đƣợc cấp phép là Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hàn Quốc, thành viên của tập đoàn Han Wha, một trong những tập đoàn kinh tế hàng đầu của Hàn Quốc. Đây cũng là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hàn Quốc tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tƣ 60 triệu USD. Cũng trong năm 2008, một công ty bảo hiểm nhân thọ khác của Hàn Quốc là Samsung Life cũng đã khai trƣơng văn phòng mới tại Hà Nội. Samsung Life là thành viên của tập đoàn Samsung với doanh thu năm 2007 lên đến 27,6 tỷ USD, chiếm 28% thị phần tại thị trƣờng Hàn Quốc. [10] 1.2.4 Hoạt động tái bảo hiểm Hoạt động tái bảo hiểm đã xuất hiện từ trƣớc năm 1995, nhƣng trong thời gian này, hoạt động tái bảo hiểm tập trung chủ yếu vào chức năng bảo vệ kinh doanh bảo hiểm gốc và xử lý những hợp đồng đã hết hiệu lực nhƣng trách nhiệm vẫn còn kéo dài. Chỉ đến năm 1995, với sự ra đời của Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare), thị trƣờng tái bảo hiểm trong nƣớc mới bắt đầu đƣợc hình thành mà bƣớc đầu là tái bảo hiểm bắt buộc cho Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam. Trong vòng hơn 10 năm qua, hoạt động tái bảo hiểm ngày một phát triển và thu đƣợc những kết quả hết sức khả quan. Đặc biệt, năm 2008, tổng phí bảo hiểm giữ lại tại thị trƣờng trong nƣớc tăng 19,67% từ 15.347 tỷ đồng năm 2007 lên 18.747 tỷ đồng năm 2008. Trong đó hoạt động tái bảo hiểm ra thị trƣờng nƣớc ngoài đƣợc thực hiện chủ yếu đối với hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ với tỷ trọng là 95,8% tổng số phí nhƣợng tái. Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm có rủi ro lớn nhƣ bảo hiểm tài sản và thiệt hại; bảo hiểm hàng không, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu; bảo hiểm cháy, nổ, các doanh nghiệp thực hiện tái bảo hiểm với tỷ
  20. 19 trọng lớn để phân tán rủi ro (tỷ lệ giữ lại thấp hơn năm 2007). Đối với các nghiệp vụ có rủi ro thấp nhƣ bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tai nạn và sức khỏe con ngƣời, các doanh nghiệp hầu nhƣ không nhƣợng tái ra nƣớc ngoài trong khi tốc độ tăng trƣởng doanh thu của các nghiệp vụ này trong năm 2008 là rất cao. BẢNG 1.3: HOẠT ĐỘNG TÁI BẢO HIỂM NĂM 2007 – 2008 (Đơn vị: Tỷ đồng) Chỉ tiêu 2007 2008 Tổng phí bảo hiểm gốc 17.648 21.253 Phi nhân thọ 8.211 10.950 Nhân thọ 9.437 10.303 Nhƣợng tái bảo hiểm ròng ra nƣớc ngoài 1.995 2.505 Phi nhân thọ 1.922 2.400 Nhân thọ 73 105 Tổng phí bảo hiểm giữ lại 15.653 18.747 Phi nhân thọ 6.289 8.549 Nhân thọ 9.364 10.198 Nguồn: Nguồn: Bộ Tài Chính, Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008[2] Có đƣợc kết quả khả quan là do xuất phát từ năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất của các doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc cải thiện đã làm tăng mạnh doanh thu phí bảo hiểm, tăng năng lực giữ lại của thị trƣờng. Hoạt động tái bảo hiểm trong nƣớc của các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã có nhiều đóng góp tích cực đến thị trƣờng bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế nói chung, không những làm tăng mức phí bảo hiểm giữ lại của thị trƣờng trong nƣớc, hạn chế tình trạng chuyển ngoại tệ ra nƣớc ngoài thông qua việc tái bảo hiểm

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản