intTypePromotion=1

Luận văn: Biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị giao thông vận tải Hà Nội - TRACIMEXCO Hà Nội

Chia sẻ: Kim Kim | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

0
51
lượt xem
8
download

Luận văn: Biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị giao thông vận tải Hà Nội - TRACIMEXCO Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị giao thông vận tải Hà Nội - TRACIMEXCO Hà Nội

  1. Luận văn: Biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị giao thông vận tải Hà Nội - TRACIMEXCO Hà Nội
  2. Biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị giao thông vận tải ở Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu t giao thông vận tải Hà Nội - TRACIMEXCO Hà Nội Đề tài đợc kết cấu gồm ba phần: Chơng 1: Vai trò, nội dung và nhân tố ảnh hởng đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong nền kinh tế thị trờng. Chơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu vật t , máy móc, thiết bị giao thông vận tải ở Công ty TRACIMEXCO Hà Nội. Chơng 3: Phơng hớng và biện pháphoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị giao thông vận tải ở Công ty TRACIMEXCO Hà Nội. Chương 1 VAI TRÒ, NỘI DUNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
  3. I. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẤT NỚC. 1. Tính tất yếu khách quan của thơng mại Quốc tế. Mỗi một quốc gia không thể sản xuất ra tất cả những thứ mà quốc gia đó cần. Nhng nhu cầu tiêu dùng lại rất đa dạng và phong phú, nếu một quốc gia không mở cửa, giao lu buôn bán với các nớc khác trên thế giới thì nó không thể nào đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cũng không thể phát triển đợc nền kinh tế cũng nh mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội…Nhận biết đợc điều này, ông cha ta từ ngàn xa đã biết mở cửa, buôn bán hàng hoá với các nớc ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Truyền thống tốt đẹp đó ngày nay đã đợc Đảng và Nhà nớc ta kế thừa và phát huy, phát triển cho phù hợp với tình hình kinh tế mới của đất nớc. Thơng mại quốc tế là mối quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa một quốc gia với các quốc gia khác, là một bộ phận của quan hệ kinh tế quốc tế của một nớc với các nớc khác trên thế giới. Sự trao đổi đó là một hình thức của mỗi quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế của những hoạt động sản xuất hàng hoá riêng biệt. Nói đến thơng mại quốc tế có nghĩa là nói đến lĩnh vực phân phối lu thông hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài. Lĩnh vực này thuộc hai khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng, chắp nối sản xuất và tiêu dùng của nớc ta với sản xuất và tiêu dùng nớc ngoài, nếu làm tốt sẽ ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và đời sống. Nừu xem xét quá trình tái sản xuất theo nghĩa liên tục không ngừng và theo ý nghĩa kinh tế mở cửa thì hai khâu phân phối và lu thông hàng hoá, dịch vụ là những khâu không thể thiếu đợc cuả quá trình tái sản xuất. Thơng mại xuất hiện đợc sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa các nớc, các khu vực. Vì điều kiện sản xuất rất khác nhau giữa các nớc cho nên mỗi nớc dựa vào điều kiện thuận lợi của nớc mình chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng cụ thể phù hợp với điều kiện tài nguyên thiên nhiên và nhân lực của mình, xuất khẩu sản phẩm hàng hoá đó và nhập khẩu từ những nớc khác các hàng hoá mà họ chuyên sản xuất (chuyên môn hoá). Điều kiện để có thơng mại quốc tế là trao đổi và chuyên môn hoá sản xuất trên cơ sở lợi thế so sánh. Trong thời gian hiện nay thơng mại Quốc tế lại càng trở nên quan trọng bởi vì nó luôn tác động đến phân công lao động Quốc tế và chuyên môn hoá sâu để có thể đạt đợc hiệu quả kinh tế cao trong nhiều ngành công nghiệp hiện đại. Chuyên môn hoá quy mô lớn làm cho chi phí sản xuất giảm và hiệu quả kinh tế theo quy mô sẽ đợc thực hiện. Mặt khác sự khác nhau về sở thích và nhu cầu của ngời dân ở các quốc gia khác nhau
  4. cũng là một nguyên nhân để có buôn bán quốc tế, ngay cả trong trờng hợp hiệu quả tuyệt đối ở hai nơi sản xuất giống hệt nhau cũng có thể diễn ra sự trao đổi buôn bán do sở thích khác nhau. Thơng mại Quốc tế làm tăng khả năng thơng mại của mỗi quốc gia. Mỗi nớc chỉ có thể sản xuất ra một vài thứ dùng cái đó để đổi lấy những cai khác. Mỗi nớc có các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên nh đất đai, khoáng sản, rừng cây, sông biển… khác nhau, có nguồn lực vê lao động khác nhau, có nguồn vốn khác nhau nh: Các nớc có lực lợng sản xuất phát triển, có kỹ thuật công nghệ tiên tiến sản xuất ra nhiều mặt hàng khác nhau và có chất lợng tốt hơn. Sự khác biệt về lợi thế và nguồn lực đã làm cho chi phí để sản xuất ra mỗi sản phẩm có sự khác nhau giữa nớc này với nớc khác. Do đó trao đổi hàng hoá trong thơng mại Quốc tế làm cho mỗi nớc có nhiều loại hàng hoá hơn, có thể sống khá giả hơn, thịnh vợng hơn. Thơng mại Quốc tế góp phần mở rộng thị trờng của mỗi quốc gia. Mỗi nớc có thể sản xuất nhiều sản phẩm hơn, có thể sử dụng công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao, có thể phát huy tính kinh tế về quy mô để giảm giá thành của mỗi đơn vị sản phẩm, để hạ giá bán trên thị trờng trong nớc và quốc tế, tức là thúc đẩy khả năng phát triển sản xuất trong nớc. Thông qua Thơng mại Quốc tế một nơcơ sở có thể mua hàng hoá từ nớc khác với mức giá thấp hơn so với chi phí sản xuất loại hàng hoá đó ở trong nớc với chất lợng sản phẩm tốt hơn. Nhng sự cạnh tranh của sản phẩm, chất lợng cao và giá rẻ nhiều khi là một thách thứcđối với sản xuất trong nớc và có thể gây ra những khó khan cho một tầng lớp dân c đặc biệt là ngành hàng nhập ngoại có giá rẻ và chất lợng cao hơn. ngoài ra, thông qua quan hệ Thơng mại Quốc tế cũng du nhập vào trong nớc những nền văn hoá phong tục tập quán, truyền thống của các quốc gia khác nhau. Chính vì vậy chính phủ các nớc đều có chính sách đối với quan hệ kinh tế Quốc tế nói chung và Thơng mại Quốc tế nói riêng. Thơng mại Quốc tế trong kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các chủ thể kinh doanh Thơng mại Quốc tế. Chính sự cạnh tranh này làm cho chất lợng nền kinh tế trong nớc đợc nâng cao, việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới đợc thờng xuyên và có ý thức, đồng thời đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải đợc đào tạo nghiêm túc. Thơng mại Quốc tế đa đến việc xoá bỏ nhanh chóng các chủ thể kinh doanh hàng hoá lạc hậu. Nó góp phần làm thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nớc và mỗi địa phơng thông qua đòi hỏi hợp lý của các chủ thể tham gia kinh doanh thơng mại Quốc tế trong quá trình thực hiện. Ngoài ra Thơng mại Quốc tế dẫn đến sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất với các nhà khoa học một cách thiết thực và có hiệu quả từ phía các nhà sản xuất, nó khai thông nguồn chất xám trong và ngoài nớc.
  5. Tóm lại, Thơng mại Quốc tế là tất yếu khách quan tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất trong nền sản xuất của mỗi quốc gia cũng nh trên toàn thế giới. 2. Vai trò của nhập khẩu hàng hoá nói chung và nhập khẩu máy móc, thiết bị nói riêng trong nền kinh tế nớc ta hiện nay. Xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó không phải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nớc, ổn định và từng bớc nâng cao mức sống của nhân dân. Do đó xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ đem lại những hiệu quả đột biến rất cao, hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đơng đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể tham gia nhập khẩu không dễ dàng khống chế đợc. Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thơng. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nớc. Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nớc không sản xuất đợc, hoặc sản xuất không đáp ứng đợc nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là để nhập về hàng hoá mà nếu sản xuất trong nớc sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu đợc thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển nền kinh tế trong nớc, trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố sản xuất: Công cụ lao động, đối tợng lao động và lao động đóng vai trò quan trọng nhất. * Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay của nớc ta vai trò quan trọng của nhập khẩu đợc thể hiện ở các khía cạnh sau: - Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng từng bớc công nghiệp hoá đất nớc. - Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối và ổn định. - Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho ngời lao động. - Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trờng thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nớc ngoài. Nhập khẩu tăng khả năng tiêu dùng, đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, qui cách, cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nớc. Nhập khẩu tăng cờng sự chuyển giao công nghệ,
  6. tạo ra sự phát triển vợt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm đợc chi phí và thời gian. Đồng thời nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại tức là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuất trong nớc phải không ngừng vơn lên, thúc đẩy sản xuất trong nớc. * Ngày nay, nhập khẩu có những chức năng sau: - Tạo vốn và kỹ thuật từ bên ngoài cho quá trình tái sản xuất trong nớc. - Thay đổi cơ cấu vật chất của sản phẩm có lợi cho quá trình sản xuất - Tăng hiệu quả của nền kinh tế thông qua lợi thế so sánh và tiếp thu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới. * Tính hiệu quả kinh tế của hoạt động nhập khẩu đợc thể hiện ở chỗ: - Tốc độ tăng trởng của nền kinh tế, nâng cao thu nhập bình quân. - Sử dụng tốt mọi khả năng, tiềm năng sản xuất. - Ổn định giá cả chống lạm phát. Nhà nớc ta khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng trong nớc không sản xuất đợc. Trong tình hình đó, các doanh nghiệp tronn nớc muốn tồn tại và phát triển đợc phải quan tâm hơn tới chất lợng và hạ giá thành sản phẩm. Hàng hoá nhập khẩu không những mở rộng khả năng sản xuất tiêu dùng trong nớc mà còn góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống tinh thần, nâng cao tầm hiểu biết của nhân dân về sự phát triển không ngừng của thế giới. Việt Nam là một nớc nghèo và thiếu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị nhằm mục đích công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Theo số liệu của Bộ Thơng mại, xuất khẩu của Việt Nam hiện nay có thể bù đắp đợc 70 - 80% chỉ tiêu nhập khẩu. Trong tổng kim ngạch nhl hiện nay thì có đến 80 - 90% là nhập khẩu t kiệu sản xuất, nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng chỉ chiếm một tỉ lệ không đáng kể. Tuy nhiên, để phát huy đợc hết vai trò của hoạt động nhập khẩu thì điều đó còn phụ thuộc rất nhiều vào đờng lối, quan điểm của Đảng. Ở nớc ta trong cơ chế quan liêu, bao cấp tự cung, tự cấp, quan hệ chỉ bó hẹp trong phạm vi một vài nớc xã hội chủ nghĩa hoạt động nhập khẩu chỉ dựa trên các khoản viện trợ và mua bán theo nghị định th là chính, sự quản lý quá cứng nhắccủa Nhà nớc đã làm mất đi tính linh hoạt uyển chuyển và tính hiệu quả của hoạt động nhập khẩu, không phát huy đợc vai trò của hoạt động nhập khẩu trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, chủ thể của hoạt động nhập khẩu là những doanh nghiệp Nhà nớc, độc quyền, thụ động, cơ cấu cồng kềnh, trình độ cán bộ hạn chế, do vậy việc nhập khẩu đã mang lại hiệu quả không cao, đặc biệt là nhập khẩu các máy móc thiết bị. Tất nhiên những cái cũ không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại sẽ bị diệt vong và thay vào đó những cái mới tiến bộ hơn, đó là nền kinh tế thị trờng với cơ chế mở. Đấy
  7. chính là một bớc ngoặt lớn cho nền kinh tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy chỉ mới một thời gian ngắn nhng hoạt động nhập khẩu đã phát huy đợc vai trò quan trọng của nó, nhập khẩu đã tạo ra thị trờng trong nớc sôi động, tràn ngập hàng hoá với đủ các qui cách, chất lợng, chủng loại, mẫu mã đa dạng và phong phú, đáp ứng đợc phần nào nhu cầu tiêu dùng trong nớc. Bên cạnh đó nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, sự phá sản và sự cố gắng vơn lên của các doanh nghiệp đủ các thành phần kinh tế, giúp nền kinh tế nớc ta lúc đầu còn bỡ ngỡ đã dần tạo thế chủ động bớc vào thị trờng thế giới. Thực tế thời gian qua đã chứng minh sự u việt của nền kinh tế thị trờng cũng nh khẳng định lại vai trò của nhập khẩu trong cơ chế mới. Xuất nhập khẩu hàng hoá là một vấn đề hết sức quan trọng trong Thơng mại Quốc tế, đó là sự phát triển tất yếu của sản xuất và lu thông hàng hoá để tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất, cùng với xuất khẩu, nhập khẩu có một vai trò không nhỏ trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nớc. Thơng mại Quốc tế chỉ ra và xác định rõ cho một nớc biết đâu là lợi thế của mình, chỉ ra hớng đi đúng đắn nên đầu t vào đâu và lĩnh vực nào là có lợi nhất. Nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại sẽ là nhân tố giúp chúng ta giải quyết những vớng mắc mà các nớc nghèo thờng gặp phải. Phơng châm đó là vay mợn công nghệ nớc ngoài trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Từng bớc một chúng ta sẽ học tập và tìm cách cải tiến những máy móc thiết bị kỹ thuật đã có vào sản xuất với hiêụ quả cao hơn. Thực hiện nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ sẽ tạo cơ sở để tận dụng nguồn lao động d thừa trong nớc, nâng cao trình độ kỹ năng của ngời lao động. Mặt khác hàng hoá sản xuất ra từ máy móc thiết bị nhập khẩu có chất lợng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn. Đó là một kích thích lớn đối với sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nớc, đòi hỏi họ phải phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, phân công lao động có hiệu quả, tạo ra động lực cho sự phát triển của nền kinh tế trong nớc. Nh vậy nhập khẩu là cầu nối tiêu dùng và sản xuất của ta với thế giới. Bên cạnh đó việc nhập khẩumáy móc thiết bị công nghệ cần thiết cho nền kinh tế có thể đem đến cho chúng ta cơ hội phát triển những ngành tiềm năng, là động lực ban đầu để nâng cao xuất khẩu hàng hoá với chất lợng cao, mẫu mã phong phú, dần dần hội nhập vào thị trờng quốc tế. 3. Các chính sách nhập khẩu ở nớc ta hiện nay. Nhận thức đợc vai trò quan trọng của nhập khẩu, Đảng và Nhà nớc ta rất quan tâm đến đổi mới các chính sách nhập khẩu sao cho phù hợp với tình hình hiện tại. với mục tiêu đó, quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta đối với hoạt động nhập khẩu nói riêng và các hoạt động ngoại thơng, kinh tế đối ngoại nói chung là: - Quán triệt bài học kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh thời đại trong hoạt động. - Mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế và hoạt động dới sự quản lý thống nhất của Nhà nớc.
  8. - Coi trọng hiệu quả kinh tế xã hội trong hoạt động nhập khẩu tức là không chỉ chạy theo mục đích lợi nhuận mà bất chấp, bỏ qua những lợi ích xã hội mà ngợc lại phải kết hợp một cách hài hoà các lợi ích. Ví dụ nh thu lợi nhuận nhng cũng phải tạo ra công ăn việc làm, nâng cao uy tín và địa vị của đất nớc trên thơng trờng quốc tế. Những quan điểm này đợc cụ thể hoá trong các nguyên tắc cơ bản của chính sách nhập khẩu sau: a. Sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm, đem lại hiệu quả kinh tế cao: Thực hiện nguyên tắc này có nghĩa là đòi hỏi các cơ quan quản lý cũng nh mỗi doanh nghiệp phải: - Xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật của đất nớc. - Sử dụng vốn tiết kiệm, dành ngoại tệ nhập vật t, thiết bị sản xuất và đời sống, khuyến khích sản xuất trong nớc thay thế hàng xuất khẩu. - Nghiên cứu thị trờng để nhập đợc hàng hoá thích hợp với giá cả có lợi, nhanh chóng phát huy tác dụng, đẩy mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. b. Nhập khẩu thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại: c. Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển, tăng nhanh xuất khẩu. Đây chính là những nguyên tắc cơ bản của chính sách nhập khẩu mà Đảng và Nhà nớc ta đề ra. Đây cũng đợc hiểu nh là cách xử sự hay đúng hơn là những quy tắc thực hiện trong hoạt động nhập khẩu sao cho phù hợp với lợi ích của xã hội cũng nh của các doanh nghiệp. * Chính sách nhập khẩu của Việt Nam trong những năm tới: Căn cứ vào mục tiêu của chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nớc ta đến năm 2000 và những nguyên tác cơ bản của chính sách nhập khẩu. Chính sách nhập khẩu của nớc ta trong những năm tới là: - Nhập khẩu chủ yếu là vật t phục vụ cho sản xuất (xăng dầu, phân bón, sắt thép, bông, dụng cụ phụ tùng), hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nớc cha sản xuất đợc hoặc sản xuất cha đáp ứng đợc nhu cầu. Hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ. - Nhập khẩu thiết bị toàn bộ, dây chuyền sản xuất máy móc tiên tiến, hiện đại, đổi mới công nghệ. Ưu tiên nhập khẩu kỹ thuật, công nghệ để chế biến hàng xuất khẩu. 4. Tổng quát về tình hình nhập khẩu của nớc ta trong những năm qua. Mở rộng thơng mại quốc tế và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác là vận dụng một trong những bài học kinh nghiệm quí báu rút ra từ thực tiễn nớc ta trong những năm qua. Tại đại hội VI Ban chấp hành Trung ơngĐảng đã nhấn mạnh "Nhiệm vụ ổn định và
  9. phát triển kinh tế trong chặng đờng đầu tiên cũng nh sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghiệp hoá XHCN của nớc ta tiến hành nhanh hay chậm, đều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại". Nền sản xuất xã hội nớc ta hớng ra ngoài và đợc các nớc bầu bạn quốc tế hớng vào nớc ta vừa làm kinh tế, vừa hỗ trợ giúp đỡ thì ta sẽ có điều kiện cân đối đợc xuất nhập khẩu, tiến lên có "xuất siêu" và nh vậy là có đợc tích luỹ cho sản xuất mở rộng. Kinh tế quốc dân vững mạnh thì uy tín chính trị cao và có điều kiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loaị. Trong điều kiện của thế giới hiện đại khi quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới trở nên sâu rộng hơn bao giờ hết và khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã phát triển đến một trình độ cao, trở thành một yếu tố không thể thiếu đợc cho sự phát triển của nền kinh tế, cho phép có thể phân chia các giai đoạn của quá trình sản xuất thành những khâu khác nhau và phân bố ở những vị trí cách nhau hợp lý thì không một nớc nàocó thể đóng cửa nền kinh tế, tự mình thực hiện một chính sách biệt lập tách khỏi mối quan hệ cũng co lợi với thế giới bên ngoài. Nhận thức đợc điều đó, Đảng và Nhà nớc ta đã có những hớng đi mới trong đờng lối chính sách của mình. Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế đối ngoại đối với nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc cũng nh phát triển khoa học kỹ thuật và công nghiệp. Cho đến nay, tuy cha lâu và cũng cha phải là nhiều song chúng ta cũng thấy đợc những kết quả đáng mừng từ chính sách mở rộng thơng mại, giao lu kinh tế với bên ngoài. Nớc ta đang từng bớc chuyển mình với nhịp độ sản xuất mới bằng những công nghệ, khoa học tiên tiến, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm ngày một tăng. Bảng 1: Kim ngạch XNK Việt Nam từ năm 1991 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Nă m Chỉ tiêu Xuất khẩu 2.087 2.581 2.989 3.600 5.300 7.800 Nhập khẩu 2.338 2.541 2.879 4.500 7.500 8.150 Cán cân XNK -251 40 -890 -900 -2.200 -950 Tổng kim ngạch 4.425 5.122 5.868 8.100 18.800 15.350 Chú thích: Qua bảng trên ta thấy kim ngạch XNK nói chung và nhập khẩu nói riêng tăng nhanh bình quân trên 20% môic năm thời kỳ từ 1994 tới nay. Cũng trong thời kỳ này tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng chiếm trung bình 16%, nhập máy móc thiết bị giảm, nhng tỉ trọng nguyên vật liệu vẫn còn quá lớn, trung bình là 60% đặc biệt là xăng dầu, và vật liệu xây dựng thị trờng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam vẫn là các nớc châu Á
  10. - Thái Bình Dơng. Cho đến nay tuy vẫn là nớc "nhập siêu" nhng chênh lệch xuất nhập khẩu ngày càng đợc thu hẹp. 5. Các hình thức nhập khẩu ở nớc ta hiện nay: Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ đợc tiến hành ở các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp nhng trong thực tế, do tác động của điều kiện kinh doanh và sự năng động sáng tạo của ngời kinh doanh mà đã tạo ra nhiều hình thức nhập khẩu đa dạng khác nhau. Có thể kể ra ở đây một vài hình thức nhập khẩu thông dụng đang đợc áp dụng tại các doanh nghiệp nớc ta hiện nay. a. Nhập khẩu t doanh: Hoạt động nhập khẩu t doanh là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghi ệp xuất nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trờng trong và ngoài nớc, tính toán chi phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có lãi, đúng phơng hớng, chính sách, luật pháp quốc gia cũng nh quốc tế. b. Nhập khẩu đổi hàng: - Nhập khẩu đổi hàng: Nhập khẩu đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủi yếu của buôn bán đối lu. nó là một hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán không dùng tiền mà là hàng hoá, ở đây, mục đích của nhập hàng không phải chỉ để thu lãi từ hoạt động nhập mà còn nhằm để xuất đợc hàng, thu lãi từ hoạt động xuất. c. Nhập uỷ thác: - Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp trong nớc có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhng không có quyền tham gia quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thơng tiến hành nhập hàng theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nớc ngoài để làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của been uỷ thác và đợc hởng một phần thù lao gọi là phí uỷ thác. d. Nhập khẩu liên doanh: - Nhập khẩu liên doanh: là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp trong đó có ít nhấtmột doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp, nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trơng biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hớng có lợi nhất cho cả hai bên cùng chia lãi hay cùng chịu lỗ. e. Nhập khẩu tái xuất: - Nhập khẩu tái xuất: là hoạt động nhập hàng nhng không phải để tiêu thụ trong nớc mà để xuất khẩu sang một nớc thứ ba nào đó nhằm thoả mãn nhu cầu và thu lợi nhuận. Những hàng nhập khẩu này không đợc qua chế biến ở nớc tái xuất. Vậy kinh doanh theo
  11. phơng thức tạm nhập tái xuất là mua hàng của một nớc (nớc xuất khẩu ) để bán cho một nớc khác (nớc nhập khẩu ) nhằm mục đích kiếm lời, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam trong một thời gian nhất định rồi tái xuất mà không qua gia công chế biến. Trên đây là các hình thức nhập khẩu phổ biến ở nớc ta, căn cứ vào tình hình của mỗi doanh nghiệp mà các doanh nghiệp lựa chọn hình thức phù hợp. II. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU Nhập khẩu là việc mua hàng hoá của nớc ngoài nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống. Song việc mua hàng ở đây có những nét riêng phức tạp hơn mua bán trong nớc: nh giao dịch với những ngời có quốc tịch khác nhau, thị trờng rộng lớn khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các quốc gia khác nhau, phải tuân thủ các tập quán, thông lệ quốc tế cũng nh của địa phơng. Hoạt động nhập khẩu đợc tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ nhiều khâu từ điều tra nghiên cứu thị trờng nớc ngoài, lựa chọn hàng hoá nhập khẩu, đối tác, tiến hành giao dịch đàm phán, ký két hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải đợc nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ lỡng và đặt trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt đợc những lợi thế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả cao nhất. Nh vậy cho dù nhập khẩu hình thức nào đi nữa thì các bớc tiến hành nhập khẩu ở các doanh nghiệp xuất khẩu đều bao gồm các trình tự sau: 1. Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu, lựa chọn bạn hàng giao dịch. Nghiên cứu thị trờng bao gồm những bớc sau: a. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu: Mục đích của nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu để tiến hành nhập đúng chủng loại mà thị trờng trong nớc cần, kinh doanh có hiệu quả, đạt đợc mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc nhận biết các mặt hàng nhập khẩu trớc hết căn cứ vào nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc về số lợng, chất lợng, tính thời vụ, thị hiếu cũng nh tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng hoá cần nhập khẩu nh: công cụ, đặc tính quy cách, phẩm chất mẫu mã, giá cả, điều kiện mua bán, khả năng sản xuất, các dịch vụ kèm theo v.v… Để lựa chọn đợc mặt hàng kinh doanh, một nhân tố nữa phải đợc tính đến, đó là tỷ suất ngoại tệ của các mặt hàng. trong nhập khẩu, tỷ suất ngoại tệ là tổng số tiền bản tệ có thể thu đợc khi chỉ ra một đơn vị ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu tỷ suất ngoại tệ mặt hàng đó (VND/USD) lớn hơn tỷ giá hối đoái trên thị trờng thì việc chọn mặt hàng nhập khẩu là hiệu quả. Ngoài ra, việc lựa chọn hàng hoá nhập khẩu còn phải dựa vào kinh ngiệm của ngời nghiên cứu thị trờng để dự đoán xu hớng biến động của giá cả thị trờng trong nớc cũng nh ngoài nớc, khả năng thơng lợng để đạt tới điều kiện mua bán u thế hơn.
  12. b. Nghiên cứu dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng: Dung lợng thị trờng là khối lợng hàng hoá đợc giao dịch trên một phạm vi thị trờng nhất định, trong một thời gian nhất định (thờng là một năm). Nghiên cứu dung lợng thị trờng phải xác định nhu cầu thật của khách hàng và khả năng cung cấp của nhà sản xuất. Nghiên cứu thị trờng nhằm hiểu rõ hơn về quy luật vận động của thị trờng, đợc thể hiện qua sự biến động của nhu cầu và khả năng sản xuất hàng hoá. Từ đó, ngời nhập khẩu có thể giải quyết hàng loạt vấn đề có liên quan đến thị trờng. Đối với ngời nhập khẩu tìm hiểu dung lợng thị trờng là rất quan trọng. Dung lợng thị trờng không cố định, nó thay đổi tuỳ theo tình hình do tác động tổng hợp của nhiều nhân tố trong thời gian nhất định. Các nhân tố ảnh hởng đến dung lợng thị trờng có thể chia làm 3 nhóm, căn cứ vào thời gian ảnh hởng của chúng với thị trờng. * Các nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến động có tính chu kỳ: Đó là sự vận động của tình hình kinh tế các nớc trên thế giới đặc biệt là các t bản chủ nghĩa và tính chất thời vụ trong sản xuất, lu thông và phân phối hàng hoá. Sự vận động của nền kinh tế t bản chủ nghĩa là nhân tố quan trọng ảnh hởng tói tất cả các thị trờng, đặc biệt là thị trờng t liệu sản xuất. Sự ảnh hởng này có thể phạm vi thế giới hoặc khu vực. Khi nền kinh tế t bản chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng thì dung lợng thị trờng bị co hẹp còn ngợc lại thì dung lợng thị trờng mở rộng. Nh đã nói ở trên một nhân tố nữa làm dung lợng thị trờng thay đổi có tính chất vhu kỳ là tính thời vụ của sản xuất. Nhân tố này ảnh hởng tới dung lợng thị trờng hàng hoá trong khâu sản xuất và lu thông hàng hoá ở phạm vi, mức độ khác nhau. * Các nhân tố ảnh hởng lâu dài đến dung lợng thị trờng: Các nhân tố thuộc nhóm này tơng đối nhiều dới đây là một số nhân tố cơ bản: - Tiến bộ khoa học kỹ thuật: Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sản xuất và nhu cầu về hàng hoá cũng đợc mở rộng, có nghĩa là dung lợng thị trờng cũng thay đổi. Đặc biệt đối với máy móc thiết bị, nhu cầu nhập khẩu ở các nớc kém phát triển không ngừng tăng lên, làm ảnh hởng tới dung lợng thị trờng. - Các chính sách của Nhà nớc và tập đoàn lũng đoạn (Tập đoàn sản xuất lớn) . - Thị hiếu tập quán của ngời tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế. * Các nhân tố ảnh hởng tạm thời đến dung lợng thị trờng: bao gồm các hiện tợng đầu cơ gây ra những đột biến về cung và cầu, các yếu tố tự nhiên nh thiên tai, động đất, bão lũ, hạn hán… Các yếu tố về chính trị xã hội nh đình công v.v… Trên đây là những nhân tố ảnh hởng đến sự biến động của dung lợng thị trờng. Khi nghiên cứu phải thấy rõ nhân tố nào có ý nghĩa quyết định đến xu hớng vận động của thị trờng trong giai đoạn hiện nay và tơng lai. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh
  13. xuất nhập khẩu hàng hoá, giúp cho nhà kinh doanh xuất nhậpddeef ra các quyết định kịp thời, nhanh chóng đạt hiệu quả cao nhất. c. Lựa chọn đối tợng giao dịch trong Thơng mại Quốc tế, bạn hàng hay khách hàng là những ngời hoặc những tổ chức có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay khoa học kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay khoa học kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp hàng hoá. Lựa chọn đối tợng giao dịch bao gồm vẫn đề lựa chọn nớc để giao dịch và lựa chọn thơng giao dịch. - Khi chọn nớc để nhập khẩu hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu trong nớc chúng ta cần phải nghiên cứu tình hình sản xuất của nớc đó, khả năng và chất lợng hàng xuất khẩu, chính sách và tập quán thơng mại của nớc đó. - Chọn thơng nhân để giao, trong điều kiện cho phép, hiệu quả nhất là nên chọn những ngời xuất nhập khẩu trực tiếp. Nội dung cần thiết để nghiên cứu lựa chọn thơng nhân bao gồm: quan điểm kinh doanh của thơng nhân đó, lĩnh vực kinh doanh của họ, khả năng vốn và cơ sở vật chất, uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ. d. Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu: Giá cả biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện một cách tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Giá cả luôn luôn gắn liền với thị trờng và là một yếu tố cấu thành thị trờng. Trong buôn bán quốc tế, giá cả lại càng phức tạp càng phức tạp do việc mua bán diễn ra giữa các khu vực khác nhau, trong một thời gian dài và các chính sách thuế khác nhau. Nghiên cứu giá cả thị trờng là một bộ phận của nghiên cứu thị trờng và bao gồm công việc nh: nghiên cứu mức giá từng mặt hàng tại từng điểm trên thị trờng, xu hớng biến động và các nhân tố ảnh hởng tới nó, các loại giá. Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với loại hàng hoá nhất định trên thị trờng thế giới và là giá của những giao dịch thơng mại thông thờng, không kèm theo một điều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Xu hớng biến động giá cả các loại hàng hoá trên thị trờng thế giới rất phức tạp nhng nói chung có tính tạm thời. Giá cả trên thị trờng thế giới luôn biến động do các nguyên nhân sau: + Nhân tố chu kỳ: là sự vận động có quy luật của nền kinh tế, là nhân tố cơ bản ảnh hởng đến sự biến động giá cả của tất cả các loại hàng hoá. + Nhân tố lũng đoạn: Làm xuất hiện nhiều mức giá của cùng một loại hàng trên các thị trờng khác nhau thậm chí trên cùng một thị trờng.
  14. + Nhân tố cạnh tranh: Làm cho giá cả biến động theo xu hớng khác nhau tuỳ thuộc đối tợng tham gia cạnh tranh là ngời mua hay ngời bán. + Nhân tố cung cầu: ảnh hởng trực tiếp tới giá cả hàng hoá. + Nhân tố thời vụ: Giá cả biến động theo từng mùa vụ. Ngoài ra còn các nhân tố ảnh hởng tới sự biến động của giá cả hàng hoá nh lạm phát, các chính sách của Nhà nớc, tình hình chính trị xã hội. Qua trên khi định giá nhập khẩu cho một loại hàng hoá, chúng ta cần phải tham khảo giá xuất khẩu mặt hàng đó đi các thị trờng khác, cớc phí vận tải… và với mức giá đó cộng với các chi phí có liên quan liệu có phù hợp với thị trờng trong nớc hay không. Tóm lại qua nghiên cứu những nhân tố trên đây cho phép chúng ta biết rõ về thị trờng và quy luật vận động của nó. Điều cần lu ý trong quá trình nghiên cứu thị trờng và phân tích thông tin thị trờng chúng ta nên lựa chọn cho mình thị trờng trọng điểm và lựa chọn kinh doanh mặt hàng có hiệu quả nhất. Đồng thời chúng ta sắp xếp thứ tự u tiên cho từng thị trờng đối với từng mặt hàng cụ thể để sau này chúng ta có lựa chọn đối tác giao dịch phù hợp với mình và lựa chọn mặt hàng kinh doanh đảm bảo thực hiện đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. 2. Đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hoá a. Đặt hàng và hỏi hàng trong thơng mại quốc tế: - Đặt hàng là lời đề nghị của nhà nhập khẩu gửi cho nhà xuất khẩu biểu thị mu ốn mua hàng hoá hoặc dịch vụ nhất định theo những điều kiện nhất định về giá cả, thời gian giao hàng, phơng thức thanh toán. - Chào hàng là lời đề nghị của nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhập khẩu thể hiện ý định mu ốn bán theo những điều kiện nhất định về giá cả, thời gian giao hàng và phơng thức thanh toán. Đây là các lời đề nghị ký kết hợp đồng, hai bên cha có gì ràng buộc với nhau. b. Đàm phán và ký kết hợp đồng Sau khi nhận đợc thủ tục chào hàng hay đặt hàng và có sự trả lời từ phía bên kia, hai bên tổ chức đàm phán, thơng lợng để đi đến một thoả thuận chung về điều mua bán và tiến hành ký kết hợp đồng. b1. Đàm phán: là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các nhà kinh doanh để đi đến thống nhất ký hợp đồng. Trong Thơng mại Quốc tế thờng có 3 hình thức đàm phán sau: - Đàm phán qua th tín - Đàm phán qua điện thoại. - Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp.
  15. Mỗi hình thức đàm phán đều có u nhợc điểm nhất định, tuỳ từng trờng hợp cụ thể mà lựa chọn hình thức đàm phán cho phù hợp. Chẳng hạn trong trờng hợp nhập khẩu máy móc thiết bị đòi hỏi phải có kinh nghiệm về kỹ thuật và nên áp dụng hình thức đàm phán trực tiếp là tốt nhất. b2. Các bớc đàm phán trong nhập khẩu bao gồm: - Hỏi giá - Chào hàng (phát giá) - Hoàn giá (mặc cả) - Chấp nhận - Xác nhận b3. Hợp đồng kinh tế về nhập khẩu hàng hoá (hau hợp đồng nhập khẩu) Hợp đồng kỹ thuật ngoại thơng là sự thoả thuận của đơng sự có quốc tịch khác nhau trong đó một bên gọi là bên bán (hay bên xuất khẩu ) có nghĩa vụ phải chuyển vào quyền sở hữu của bên kia gọi là bên mua (hay bên nhập khẩu) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá. Bên mua có trách nhiệm trả tiền và nhận hàng. Hình thức hợp đồng bằng văn bản là một hình thức bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu ở nớc ta. Các điều khoản trong hợp đồng do bên mua và bên bán thoả thuận chi tiết, mặc dù trớc đó đơn đặt hàng và chào hàng, nhng vẫn phải thiết lập văn bản hợp đồng sao cho có cơ sở pháp lý cụ thể để tạo điều kiện cho các hoạt động trao đổi hàng hoá từ quốc gia nàysang quốc gia khác và làm căn cứ cho việc xác định lỗi (trách nhiệm) khi có tranh chấp xảy ra. * Hợp đồng kinh tế ngoại thơng có vai trò rất quan trọng vì: + Đây là bằng chứng để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia ký kết. + Đây là bằng chứng để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng. + Hợp đồng kinh tế ngoại thơng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống kê, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng. * Đặc điểm của hợp đồng kinh tế ngoại thơng: + Chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thơng là các pháp nhân có quốc tịch khác nhau. + Hàng đợc chuyển từ nớc này sang nớc khác + Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại lệ đối với một trong hai bên ký kết hợp đồng. * Trong buôn bán quốc tế có thể có nhiều phơng thức ký kết hợp đồng khác nhau:
  16. + Hai bên cũng ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản) + Ngời mua xác nhận (bằng văn bản) là ngời mua đã đồng ý với các điều kiện và điều khoản của một chủ chào hàng tự do nếu ngời mua viết dùng thủ tục cần thiết và trong thời hạn hiệu lực của th chào hàng. + Ngời bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của ngời mua trong thời hạn hiệu lực của đơn đặt hàng. + Trao đổi bằng th xác nhận đạt đợc những điều thoả thuận trong đơn đặt hàng trớc đây của hai bên (nêu rõ những điều kiện đã đợc thoả thuận). Hợp đồng chỉ có thể coi nh đã ký kết chỉ trong trờng hợp các bên đã ký vào hợp đồng. Các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật và có đủ thẩm quyền. * Nội dung của hợp đồng mua bán ngoại thơng bao gồm những diều khoản chính sau: + Tên hàng + Số lợng và cách xác định. Đặc biệt lu ý tới từng loại hàng, để xác định số lợng cho chuẩn xác (thành phần, mức hao hụt tự nhiên…) + Qui cách, phẩm chất và cách xác định. + Đóng gói, bao bì mã ký hiệu phải phù hợp với hàng hoá. + Thời hạn, phơng tiện và địa điểm giao hàng. + Giá cả, giá trị, điều kiện giao hàng. + Phơng thức thanh toán và chứng từ thanh toán. + Bảo hiểm. + Phạt và bồi thờng thiệt hại + Tranh chấp và giải quyết tranh chấp. + Bảo hành, khiếu nại. + Kiểm tra và giám định hàng hoá, xuất khẩu + Trờng hợp bất khả kháng. + Các điều khoản khác. c. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Việc tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm các bớc sau: c1. Xin giấy phép nhập khẩu: Xin giấy phép nhập khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các khâu tiếp theo trong quá trình nhập khẩu hàng hoá, nếu hàng hoá có trong nghị định th
  17. thì không cần phải xin phép. Hiện nay, việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu đợc qui định nh sau: - Bộ thơng mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu từng chuyến hàng mậu dịch. - Tổng cục Hải quan cấp giấy phép hàng phi mậu dịch. * Hồ sơ xin cấp giấy phép bao gồm: + Đơn xin phép + Phiếu hạn ngạch + Bản sao hợp đồng đã ký kết với nớc ngoài hoặc bản sao L/C Mỗi giấy phép chỉ cấp cho một chủ hàng kinh doanh để xuất nhập khẩu một hoặc một số mặt hàng với một nớc nhất định, chuyên trở bằng phơng thức vận tải và giao nhận tại một địa điểm nhất định. c2. Mở L/C: Nừu là phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ, bên mua phải làm thủ tục mở L/C khi bên bán yêu cầu. L/C là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho ngời xuất khẩu nếu họ trình đợc bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C. Các đặc điểm của L/C xin trình bày thêm ở phần thanh toán. c3. Thuê tầu chỏ hàng (Hoặc uỷ thác thuê tàu) Trong trờng hợp nhập khẩu FOB chúng ta phải tiến hành thuê tàu dựa vào các căn cứ sau đây: + Những điều khoản của hợp đồng + Đặc điểm của hàng hoá mua bán + Điều kiện vận tải. Tuỳ vào khối lợng và đặc điểm hàng hoá cần chuyên chở mà lựa chọn thuê tàu cho phù hợp, đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng. Chẳng hạn đối với hàng hoá có khối lợng nhỏ thờng thuê tàu chợ, hàng có khối lợng lớn, phức tạp phải thuê tầu chuyến. Hiện nay do điều kiện về tàu của chúng ta rất hạn chế và việc thuê tàu nớc ngoài đối với doanh nghiệp Việt Nam không dễ lắm nên chúng ta thờng nhập khẩu theo điều kiện CIF. c4. Mua bảo hiểm: Chuyên chở hàng hoá bằng đờng biển thờng gặp rủi ro và tổn thất. Bởi vậy, trong kinh doanh Thơng mại Quốc tế, bảo hiểm đờng biển là loại hình bảo hiểm phổ biến nhất. Các đơn vị kinh doanh khi mua bảo hiểm phải làm một hợp đồng bảo hiểm với Công ty bảo hiểm. Tuỳ thuộc vào đặc điểm và tính chất của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà mua bảo hiểm chuyến hay bảo hiểm bao(một khoảng thời gian nhất định). c5. Làm thủ tục hải quan
  18. Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để nhập khẩu hay xuất khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một công cụ quản lý hành vi mua - bán theo pháp luật của Nhà nớc để ngăn chặn buôn lậu: Việc làm thủ tục hải quan bao gồm 3 bớc chủ yếu sau: + Khai báo hải quan: chủ hàng phải kê khai chi tiết về hàng hoá lên tờ khai hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ (giấy phép xuất nhập khẩu, hợp đồng mua bá n… ) + Xuất trình hàng hoá: Hàng hoá phải đợc xếp trật tự, thuận tiện cho việc kiểm soát. Hải quan đối chiếu hàng hoá trong tờ khai với thực tế để quyết định có cho hàng qua biên giới hay không. + Thực hiện các qui định của hải quan: Sau khi kiểm tra giấy tờ, hàng hoá, hải quan quyết định có cho hàng hoá qua biên giới hay không, hoặc cho qua với các điều kiện mà chủ hàng phải thực hiện nghiêm chỉnh. Nếu vi phạm các quyết định của hải quan sẽ bị xử phạt tuỳ theo mức độ nặng nhẹ. c6. Nhận hàng nhập khẩu: Theo nghị định 200/CP ngày 31/12/93 của Nhà nớc thì mọi việc giao nhận hàng hoá đều phải uỷ thác qua cảng. Khi hàng về, cảng báo cho chủ hàng biết và chủ hàng sẽ làm các thủ tục nhận hàng. c7. Kiểm tra hàng hoá. Sau khi nhận hàng, bên nhập khẩu làm thủ tục kiểm tra qui cách phẩm chất hàng nhập. Thông thờng hai bên lựa chọn một cơ quan giám định chẳng hạn nh Vinacotrol. c8. Thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Nghiệp vụ thanh toán là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán quốc tế, là nghiệp vụ quan trọng và cuối cùng trong việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Trong kinh doanh Thơng mại Quốc tế hiện nay có rất nhiều phơng thức thanh toán khác nhau nh: phơng thức nhờ thu, phơng thức chuyển tiền, phơng thức tín dụng chứng từ và phơng thức chuyển tiền đợc sử dụng phổ biến nhất. * Phơng thức tín dụng hứng từ (thanh toán bằng th tín dụng L/C: Letter ò credit) Phơng thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngâ hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (ngời nhập khẩu) trả tiền cho ngời thứ 3 hoặc bất cứ ngời nào theo lệnh của ngời thứ 3 đó (ngời hởng lợi) hoặc sẽ trả, chấp nhận, mua hối phiếu do ngời hởng lợi phát hành hoặc cho phép một ngân hàng khác trả tiền, chấp nhận, hay mua hối phiếu khi xuất trình đầy đủ các bộ chứng từ đã qui định và mọi điều kiện đặt ra đều đợc thực hiện đầy đủ. * Phơng thức chuyển tiền
  19. Là phơng thức trong đó ngời mua (ngời nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho ngời xuất khẩu (ngời hởng lợi) tại một địa điểm nhất định. III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRỜNG . Sự biến động của tất cả các sự vật hiện tợng đều có những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hoạt động nhập khẩu cũng vậy, luôn luôn thay đổi tuỳ theo diễn biến của rình hình do tác động tổng hợp của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định. 1. Chế độ, chính sách, luật pháp trong nớc cũng nh quốc tế Đây là yếu tố mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu buộc phải nắm chắc và tuân theo một cách vô điều kiện bởi vì nó có thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền ở mỗi nớc, sự thống nhất của quốc tế, nó bảo vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã hội cũng nh lợi ích chung của nớc trên thơng trờng quốc tế. Hoạt động nhập khẩu đợc tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, bởi vậy nó chịu sự tác động của chính sách, chế độ luật pháp ở các quốc gia đó, đồng thời hoạt động nhập khẩu cũng phải tuân theo những qui định, luật pháp quốc tế chung. Luật pháp quốc tế buộc các nớc vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt động nhập khẩu, do đó tạo nên sự tin tởng cũng nh hiệu quả cao trong hoạt động này. 2. Ảnh hởng của tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu: Nhân tố này quyết định việc mặt hàng, bạn hàng, phơng án kinh doanh, quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà tới tất cả các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung. Sự biến đổi lớn trong tỉ trọng xuất khẩu và nhập khẩu, chẳng hạn, khi tỉ giá hối đoái của đồng tiền thuận lợi cho việc nhập khẩu thì nó lại bất lợi cho việc xuất khẩu và ngợc lại. Tơng tự tỉ suất ngoại tệ thay đổi giữa các mặt hàng cũng nh phơng án kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu. 3. Ảnh hởng của biến động thị trờng trong nớc và ngoài nớc Có thể hình dung hoạt động nhập khẩu nh là một chiếc cầu nối thông thơng giữa thị trờng hai nớc, tạo ra sự phù hợp, gắn bó cũng nh phản ánh sự tác động qua lại giữa chúng, phản ánh sự biến động của mỗi thị trờng. Cụ thể nh sự tồn đọng hàng hoá, giá cả, giảm nhu cầu về một mặt ở thị trờng trong nớc sẽ làm ngay lập tức lợng hàng nhập khẩu. Cũng nh vậy, thị trờng ngoài nớc quyết định tới sự thoả mãn các nhu cầu trên thị trờng trong nớc, sự biến động củ nó về khả năng cung cấp, về sản phẩm mới về sự đa dạng của hàng hoá dịch vụ cũng đợc phản ánh qua chiếc cầu nhập khẩu để tác động vào thị trờng nội địa. 4. Ảnh hởng của nền sản xuất trong nớc cũng nh của các doanh nghi ệp kinh doanh thơng mại trong và ngoài nớc.
  20. Sự phát triển của nền sản xuất, của những doanh nghiệp sản xuất trong nớc tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, do vậy làm giảm nhu cầu hàng nhập khẩu và nếu nh sản xuất kém phát triển, không thể sản xuất đợc những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật sản xuất cao thì nhu cầu về hàng nhập khẩu tăng lên, do đó ảnh hởng tới hoạt động nhập khẩu. Ngợc lại sự phát triển của nền sản xuất ở nớc ngoài làm tăng khả năng của sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm mới, hấp dẫn phù hợp với nhu cầu, hiện đại, do vậy thúc đẩy hoạt động nhập khẩu. Tuy nhiên không phải là lúc nào sản xuất ở trong nớc phát triển thì hoạt động nhập khẩu bị thu hẹp mà nhiều khi để tranh sự độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh hoạt động nhập khẩu lại đợc khuyến khích phát triển. Trái lại để bảo vệ sản xuất trong nớc khi nền sản xuất nớc ngoài phát triển thì hoạt động nhập khẩu có thể bị thu hẹp và kiểm soát chặt chẽ. Cũng nh sản xuất, sự phát triển của hoạt động thơng mại trong và ngoài nớc của các doanh nghiệp thơng mại quyết định đến sự chu chuyển, lu thông hàng hoá trong nền kinh tế hay giữa các nền kinh tế các nớc khác, bởi vậy tạo thuận lợi cho đẩy nhanh công tác nhập khẩu. Mặt khác, do chủ thể của hoạt động nhập khẩu chính là những doanh nghi ệp kinh doanh xuất nhập khẩu nên sự phát triển của những doanh nghiệp này đồng nghĩa với sự thực hiện một cách có hiệu quả các hoạt động nhập khẩu. Trong một nớc mà các doanh nghiệp không đợc tự do phát triển, bị sự can thiệp quá sâu của Nhà nớc thì hoạt động nhập khẩu cũng không thể phát huy đợc, không thể vơn mạnh ra nớc ngoài tạo ra sự tụt hậu của nền kinh tế. 5. Ảnh hởng của hệ thống giao thông vận tải - liên lạc Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời với công việc vận chuyển và thông tin liên lạc, vì nhờ có thông tin liên lạc hoạt động mà các nớc cách xa nhau vẫn thông tin đợc với nhau để thoả thuận tiến hành hợp đồng một cách kịp thời. Do đó việc nghiên cứu áp dụng những phơng tiện thông tin liên lạc vào giao thông vận tải là một nhân tố quyết định rất lớn đến sự phát triển của hoạt động nhập khẩu. Thực tế cho thấy rằng sự phát triển của hệ thống thông tin nh FAX, TELEX, DHL, VMS… đã đơn giản hoá các khâu công việc của hoạt động nhập khẩu rất nhiều, giảm bớt hàng loạt chi phí, nhanh gọn kịp thời, chính xác. Việc hiện đại hoá các phơng tiện vận chuyển bốc rỡ bảo quản… cũng đã góp phần làm cho quá trình nhập khẩu đợc nhanh chóng an toàn và hiệu quả. 6. Ảnh hởng của hệ thống tài chính, ngân hàng Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh và hiện đại, có liên quan chặt chẽ tới các hoạt động của doanh nghi ệp trong nền kinh tế dù lớn hay nhỏ ở bất cứ thành phần kinh tế nào bởi vai trò quan trọng của nó trong việc quản lý, cung cấp vốn, thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác. Hoạt động nhập khẩu ngày nay sẽ không đợc thực hiện nếu nh không có hệ thống ngân hàng. Dựa trên các mối quan

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản