intTypePromotion=1

Luận văn: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY

Chia sẻ: Carol123 Carol123 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:107

0
254
lượt xem
73
download

Luận văn: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngƣời Tày (còn có tên gọi khác là Thổ, cùng nhóm địa phƣơng với Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí) là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, có số dân vào khoảng 1,5 triệu ngƣời - số dân lớn thứ 2 sau ngƣời Kinh. Địa vực cƣ trú của ngƣời Tày thƣờng tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc nhƣ Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn...Đây là một trong những dân tộc có bản sắc văn hoá riêng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ngôn ngữ của ngƣời Tày nói chung và...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY

  1. 1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM --------------------------- HÀ HUYỀN NGA ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ----------------------------- HÀ HUYỀN NGA ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHẠM HÙNG VIỆT THÁI NGUYÊN – 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  3. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, người thân. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Phạm Hùng Việt, người thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, phòng Sau Đại học, Thư viện, của trường ĐHSP Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS Tạ Văn Thông, nhà nghiên cứu Văn hoá Dân gian Hoàng Triều Ân,, đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong qúa trình nghiên cứu. Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp, đã động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập. Thái Nguyên, ngày 21 tháng 9 năm 2009 Tác giả Hà Huyền Nga Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  4. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài……………………………………………………. 1. 1 Lịch sử vấn đề………………………………………………………. 2 2. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu………………………….. 7 3. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….. 8 4. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………… 5. 8 Đóng góp của luận văn……………………………………………... 6. 9 Bố cục luận văn…………………………………………………….. 7. 9 PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí thuyết………………………………... 10 Tục ngữ trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học…………… 10 1.1. Quan niệm của Nguyễn VănTu và Đái Xuân Ninh………………… 10 1.1.1. Quan niệm của Cù Đình Tú………………………………………… 11 1.1.2. Quan niệm của Nguyễn Đức Dân…………………………………... 11 1.1.3. Quan niệm của Đỗ Hữu Châu………………………………………. 12 1.1.4. Quan niệm của Hoàng Văn Hành…………………………………... 13 1.1.5. Tục ngữ trong sự phân biệt với thành ngữ và ca dao…………… 14 1.2. Phân biệt tục ngữ với thành ngữ……………………………………. 14 1.2.1. Phân biệt tục ngữ với ca dao………………………………………... 17 1.2.2. Tục ngữ dân tộc Tày……………………………………………… 19 1.3. Tục ngữ Tày trong môi trƣờng tự nhiên, lịch sử, văn hoá……… 19 1.3.1. Tục ngữ Tày và ngôn ngữ Tày……………………………………… 24 1.3.2 Một số quy ƣớc khi sử dụng ngôn liệu tục ngữ Tày…………….. 27 1.4. Tiểu kết chƣơng 1…………………………………………………. 27 Chương 2: Cấu trúc hình thức của tục ngữ dân tộc Tày 29 Vần, nhịp, của câu tục ngữ dân tộc Tày …………………………. 29 2.1. Vần và đặc điểm của vần trong tục ngữ Tày………………………. 2.1.1. 29 Nhịp và đặc điểm của nhịp trong tục ngữ Tày……………………… 33 2.1.2. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. Cấu trúc câu tục ngữ dân tộc Tày………………………………... 38 2.2. Tính chất, đặc điểm của cấu trúc câu tục ngữ Tày………………….. 38 2.2.1. Các kiểu cấu trúc câu tục ngữ Tày………………………………….. 41 2.2.2. Những phƣơng thức xây dựng hình tƣợng trong cấu trúc hì nh 44 2.3. thức của tục ngữ Tày…………………………………………….. Cấu trúc so sánh…………………………………………………… 2.3.1. 44 Cấu trúc ẩn dụ ……………………………………………………… 50 2.3.2. Cấu trúc ngoa dụ …………………………………………………… 55 2.3.3. Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………. 58 Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày 60 Tính đơn nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày………………………… 60 3.1. Tục ngữ Tày tổng kết kinh nghiệm làm ăn, lao động sản xuất…….. 3.1.1. 61 Tục ngữ Tày tổng kết kinh nghiệm dự đoán thời tiết, thời gian……. 68 3.1.2. Tính hàm nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày ………………………... 73 3.2 Kinh nghiệm chọn con dâu, con rể…………………………………. 3.2.1. 74 Các mối quan hệ trong gia đình…………………………………….. 77 3.2.2. Biểu trƣng động vật trong tục ngữ Tày ………………………….. 85 3.3. Biểu trƣng trong tục ngữ……………………………………………. 85 3.3.1. Động vật và nghĩa biểu trƣng của động vật trong tục ngữ Tày…….. 3.3.2. 86 Tiểu kết chƣơng 3…………………………………………………. 92 KẾT LUẬN 94 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Ngƣời Tày (còn có tên gọi khác là Thổ, cùng nhóm địa phƣơ ng với Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí) là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, có số dân vào khoảng 1,5 triệu ngƣời - số dân lớn thứ 2 sau ngƣời Kinh. Địa vực cƣ trú của ngƣời Tày thƣờng tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc nhƣ Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái N guyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn...Đây là một trong những dân tộc có bản sắc văn hoá riêng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ngôn ngữ của ngƣời Tày nói chung và tục ngữ nói riêng là một phần quan trọng trong nền văn hoá này. Vì vậy việc nghiên cứu tục ngữ dân tộc Tày trƣớc hết là để hiểu rõ hơn về văn hoá Tày, góp phần giới thiệu và tôn vinh nền văn hoá của dân tộc Tày. 1.2. Tục ngữ Tày có thể coi là bộ bách khoa thƣ về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của cộng đồng dân tộc Tày, là bộ phận quan trọng của nền văn hoá Tày. Vì thế tục ngữ Tày nói riêng cũng nhƣ tục ngữ nói chung đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là các ngành khoa học xã hội nhƣ: văn hoá, dân tộc học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ học...Cho đến nay việc nghiên tục ngữ đã đạt đƣợc nhiều thành tựu lớn. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về tục ngữ của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Tày còn ít. Cụ thể, chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu tục ngữ Tày ở góc độ ngon ngữ học về phƣơng diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Vì vậy có thể cho rằng, việc tìm hiểu về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày là góp phần khai thác vốn văn hoá của dân tộc Tày ở một bình diện mới, làm rõ thêm nét đặc sắc của nền văn hoá dân tộc Tày. 1.3. Là ngƣời con của dân tộc Tày, đang sinh sống và làm việc nơi mảnh đất mà đa phần là ngƣời Tày đang sinh sống và học tập, tác giả luận văn thiết tha với tiếng nói và văn hoá của dân tộc mình, muốn bày tỏ tình yêu dân tộc và tiếng mẹ đẻ của mình bằng việc tìm hiểu, nghiên cứu về tục ngữ Tày, nơi chứa đựng nhiều giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá tộc ngƣời. Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng hi vọng rằng, kết quả nghiên cứu về tục ngữ Tày sẽ giúp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1
  7. cho giáo viên và học sinh ở các tỉnh miền núi hiểu rõ hơn về ngôn ngữ của dân tộc Tày, đồng thời có thể vận dụng, học tập cách tƣ duy, cách diễn đạt mang bản sắc riêng của ngƣời Tày. Trên đây là những lí do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài "Cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày" 2. Lịch sử vấn đề 2.1.Việc sƣu tầm, biên soạn, nghiên cứu tục ngữ nói chung Ở nƣớc ta, trƣớc thế kỉ XIX, các tác phẩm văn học chữ Hán và chữ Nôm đã có ít nhiều dấu vết của các tƣ tƣởng dân gian vốn là nội dung của các câu tục ngữ. Nguyễn Trãi là một trong những ngƣời đầu tiên sử dụng một cách phổ biến tục ngữ dân gian vào sáng tác của mình. Bài thơ số 21 trong tập " Bảo kính cảnh giới" là một bài thơ tiêu biểu: "Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, xấu tốt đều thì rắp khuôn... ở đấng thấp thì nên dáng thấp, đen gần mực, đỏ gần son ". Mấy chục năm sau đó phải kể đến các sáng tác chữ Nôm nhƣ "Hồng Đức quốc âm thi tập" của Lê Thánh Tông (TK XV), "Bạch vân quốc ngữ thi tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm (TKXVI), "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, hay "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu...(TKXVIII,XIX). Trong các tác tác phẩm này, các tác giả đã sử dụng khá nhiều câu tục ngữ. Trong điều kiện chƣa phát hiện đƣợc một công trình sƣu tầm tục ngữ nào thì các sáng tác của các tác giả kể trên đƣợc các nhà nghiên cứu tục ngữ đặc biệt coi trọng. Từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về tục ngữ nhƣ: cuốn "Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn" xuất bản năm 1897 của Huỳnh Tịnh Của, "Tục ngữ và cách ngôn" (1920) của Hàn Thái Dƣơng, "An Nam tục ngữ" (1933) của Vũ Nhƣ Lâm và Nguyễn Đa Gia, "Phong giao, cao dao, phƣơng ngôn, tục ngữ" (1936) của Nguyễn Văn Chiểu, "Ngạn ngữ phong dao" (1941) của Nguyễn Can Mộng...Bên cạnh đó còn có những cuốn tục ngữ Việt Nam dịch sang tiếng Pháp của ngƣời Pháp nhƣ: Bài viết "Croyanceset dictosn populaires de la vallée Nguon Sơn, Quang Binh" (Tín ngưỡng và tục ngữ dân gian ở thung lũng Nguồn Sơn, Quảng Binh) của linh mục L.Cadiere, hay sƣu tập "Pro verbes nanamites" (tục ngữ An Nam) của V. Barbier [14; 18]. Nhìn chung nội dung của các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2
  8. công trình trên chủ yếu sƣu tầm tổng hợp gồm cả ca dao, phong dao, thành ngữ, bƣớc đầu đã có cả sự phân tích và bình luận. Cùng thời kì này phải kể đến công trình "Tục ngữ phong dao" của Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản năm 1928 đã tổng hợp và giới thiệu 6.500 câu tục ngữ và thành ngữ. Cho đến nay công trình này vẫn đƣợc đáng giá rất cao trong việc sƣu tầm tục ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là một công trình sƣu tầm, chƣa có sự nghiên cứu sâu về tục ngữ. Sau Cách mạng tháng tám (1945), có sự xuất hiện khá nhiều các công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam. Cuốn "Tục ngữ và dân ca " của tác giả Vũ Ngọc Phan, xuất bản lần đầu vào năm 1956, sau đó tái bản và bổ sung vào năm 1971, 1972. Công trình này đã biên soạn và trình bày tách biệt phần tục ngữ và ca dao, đây là điểm mới so với các cách trình bày trƣớc đây. Ở cuốn sách này, tác giả Vũ Ngọc Phan đã cố gắng đi đến việc đƣa ra những tiêu chí để phân biệt giữa thành ngữ với tục ngữ, ông đã viết nhƣ sau: " Tục ngữ là một câu, tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiêm...,còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn" 47; 31]. Có thế thấy đây là những nhận định khá mới mẻ so với những công trình trƣớc đó, tuy những nhận định này còn mang tính khái quát, chƣa cụ thể. Vì thế, các nhà ngôn ngữ học trong quá trình nghiên cứu về tục ngữ đã chú trọng đi sâu tìm hiểu, đƣa ra những tiêu chí phân định giữa thành ngữ và tục ngữ (phần này sẽ đƣợc phân tích rõ hơn ở chƣơng 1 của luận văn). Cuốn "Tục ngữ Việt Nam" của nhóm tác giả (Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri), là công trình nghiên cứu công phu về tục ngữ Việt Nam. Ở công trình này, tác giả đã đƣa ra quan điểm nghiểm nghiên cứu về tục ngữ trên hai bình diện, đó là nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, tức là nghiên cứ u tục ngữ với tƣ cách là một hiện tƣợng ý thức xã hội và nghiên cứu tục ngữ ở bình diện là một hiện tƣợng ngôn ngữ, tức nghiên cứu tục ngữ với tƣ cách là một đơn vị thông báo có tính nghệ thuật. Từ đó tác giả khẳng định kho tàng tục ngữ Việt Nam "là một văn liệu quí giá do nhân dân lao động sáng tạo và tích luỹ từ hàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3
  9. nghìn năm nay, trong đó kết tinh được những đặc điểm cơ bản nhất của lối nói dân gian, lối nói dân tộc" [16; 41] Những năm 90 trở về đây, xuất hiện nhiều cuốn tục ngữ của các tác giả nhƣ: Mã Giang Lân, Châu Nhiên Khanh, hay nhóm tác giả Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An... Các công trình của các tác giả này chủ yếu là sƣu tầm, biên soạn, tổng hợp và giới thiệu các đơn vị tục ngữ Việt Nam. Bên cạnh đó, có sự xuất hiện rất nhiều bài viết, luận văn, luận án nghiên cứu về tục ngữ Việt về nhiều bình diện khác nhau, rất phong phú và đa dạng, đạt đƣợc nhiều thành tựu rất đáng kể. Đây chính là cơ sở lí luận, là nguồn tƣ liệu quí giá, là tiền đề khoa học cho việc nghiên cƣú tục ngữ các dân tộc khác trên đất nƣớc Việt Nam, trong đó có tục ngữ dân tộc Tày. 2.2. Việc sƣu tầm, nghiên cứu tục ngữ dân tộc Tày Tục ngữ Tày đã thể hiện đƣợc lối nói của ngƣời dân Tày, đây là lối nói có hình ảnh, có hình tƣợng, gắn liền với tƣ duy của ngƣời Tày và là văn hoá của ngƣời Tày. Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến giá trị của tục ngữ Tày. Đầu tiên phải kể đến cuốn "Tục ngữ Tày - Nùng" (1972), (nhiều tác giả) đã liệt kê đƣợc một số các đơn vị tục ngữ Tày - Nùng đáng kể. Đến năm 1984, các tác giả Hà Văn Thƣ, Nguyễn Văn Lô, viết cuốn "Văn hoá Tày - N ùng". Trong công trình này, các tác giả đã sƣu tầm, tổng hợp và giới thiệu 34 câu tục ngữ về ứng xử của ngƣời Tày với môi trƣờng tự nhiên và xã hội. Trong cuốn "Văn hoá dân gian Cao Bằng" (1993), nhóm nghiên cứu, Hội văn nghệ Cao Bằng, ở trang 13 bài viết về "Bình diện Folklore vùng Cao Bằng " tác giả Hoàng Triều Ân có đề cập đến tục ngữ Tày với mục đích giới thiệu chung và dẫn 06 câu tục ngữ Tày về các khía cạnh khác nhau. Nói về bài học đạo lí làm ngƣời có câu "Giú ngay kin bấu lẹo, gổt ghẹo kin bấu đo" (Ngay thẳng ăn chẳng hết, dối trá ăn chẳng no); "Tua nẩu ấu tằng khương " (Một con cá ƣơn thối cả giỏ), hay những nhận xét sơ khai của vật lí học về sự dẫn nhiệt "Toong kheo tèo tằng bản" (Lót lá xanh chạy quanh làng bản), nhận thức rõ về sức lao động của hai bàn tay "Cúa tin mừng nặm bó, cúa vỏ mẻ nặm noòng" (Của bàn tay nƣớc nguồn, của bố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4
  10. mẹ nƣớc lũ). Năm 1996, tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết viết cuốn " Từ điển thành ngữ- tục ngữ dân tộc Tày", Nxb Văn hoá Dân tộc. Có thể thấy rằng, cuốn sách này là nguồn tƣ liệu vô cùng quý giá, giúp cho ngƣời nghiên cứu muốn nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày. Vì đây là cuốn từ điển nên tác giả chủ yếu tổng hợp đƣa ra cách giải nghĩa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Tày với số lƣợng các đơn vị tục ngữ Tày khá phong phú. Cuốn "Địa chí Cao Bằng" (2000), Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nxb Chính trị Quốc gia, ở chƣơng V phần văn học dân gian (trang 593) có trích 29 câu tục ngữ Tày trong mảng văn học dân gian Tày. Cuốn "Văn hoá dân gian Tày" (2002), Hoàng Ngọc La (chủ biên), Sở Văn hóa thông tin Thái Nguyên, có nhắc đến tục ngữ Tày với một thể loại trung gian nằm trong hệ thống văn học dân gian của dân tộc Tày. Mới đây nhất là cuốn "Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việ t Nam" tập 1 xuất bản năm 2007 và tập 2, xuất bản năm (2008), Viện Nghiên cứu văn hóa, NXB khoa học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã tổng hợp đƣợc số lƣợng rất phong phú về tục ngữ các dân tộc nói chung trong đó có khoảng hơn 2.000 câu tục ngữ Tày. Đây thực sự là nguồn tƣ liệu vô cùng quý giá, và mới mẻ giúp cho ngƣời nghiên cứu có nhiều điều kiện để đi sâu nghiên cứu mọi mặt của tục ngữ Tày. Luận văn tốt ngiệp của thạc sĩ Hà Ngọc Tân về đề tài” Văn hóa ứng xử của người Tày qua tục ngữ về quan hệ gia đình xã hội, (2007, Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên) đã có những nghiên cứu khá sâu về tục ngữ Tày, nhƣng do mục đích của luận văn nên công trình chỉ đi sâu nghiên cứu về văn hóa ứng xử của ngƣời Tày trong quan hệ gia đình và xã hội. Điểm lại quá trình nghiên cứu, sƣu tầm tục ngữ Tày từ những năm 70 của thế kỉ trƣớc trở về đây, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý sau: Một là: Tục ngữ Tày với tƣ cách là đơn vị của ngôn ngữ Tày, là một loại hình trong kho tàng văn chƣơng truyền khẩu của ngƣời Tày. Đã từ lâu, tục ngữ Tày đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian. Đã có những công trình nghiên cứu về tục ngữ Tày đƣợc công bố. Đây là tài sản có giá trị của một cộng đồng dân tộc, là nguồn tƣ liệu vô cùng quý hiếm, rất hữu ích cho việc nghiên cứu tiếp theo về tục ngữ Tày. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
  11. Hai là: Những công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung sƣu tầm, giới thiệu về các đơn vị tục ngữ Tày, trong đó đã có công trình nghiên cứu tục ngữ Tày về khía cạnh văn hoá ứng xử của ngƣời Tày trong quan hệ gia đình và xã hội. Tuy nhiên, hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu tục ngữ Tày về phƣơng diện ngôn ngữ. Ba là: Dù đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm, nhƣng bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày vẫn chƣa đƣợc chú ý một cách thích đáng. Tìm hiểu, nghiên cứu về cấu tạo và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày chính là để khám phá và giới thiệu về tục ngữ dân tộc Tày một cách toàn diện hơn, để mọi ngƣời thấy rõ tục ngữ Tày là nơi tinh tuý, đúc kết kinh nghiệm và khả năng sáng tạo trong tƣ duy của ngƣời Tày, đồng thời thấy đƣợc tài năng của các tác giả dân gian trong quá trình sáng tác kho tàng văn hoá phi vật thể này. Chính vì thế đề tài “Cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày” không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc thiểu số mà còn có ý nghĩa thiết thực cho việc giới thiệu và góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển kho tàng về văn hoá vô giá của ngƣời Tày. 3. Mục đích, đối tƣợng, tƣ liệu, phạm vi nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn đƣợc thực hiện nhằm đạt tới mục đích sau: Tìm hiểu tục ngữ Tày và mô tả các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày để làm sáng tỏ đặc trƣng ngôn ngữ độc đáo của dân tộc Tày, góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy vốn ngôn ngữ của dân tộc Tày và làm đa dạng, phong phú hơn cho văn hóa các dân tộc thiểu số trên đất nƣớc Việt Nam. 3.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.2.1. Đối tượng khảo sát - Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tục ngữ của dân tộc Tày. - Tƣ liệu phục vụ cho nghiên cứu trong luận văn đƣợc thống kê chủ yếu dựa vào cuốn “ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam" (2008), Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6
  12. Viện nghiên cứu văn hóa, Hà Nội và cuốn “ Từ điển thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày” (1996) của tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết. Ngoài ra, chúng tôi còn thống kê tục ngữ Tày qua việc điền dã ở một số đị a phƣơng và một số gia đình trong tỉnh Cao Bằng Luận văn khảo sát và tổng hợp đƣợc 2089 câu tục ngữ dân tộc Tày. 3.2.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi chú trọng vào việc tìm hiểu và phân tích đặc điểm về cấu trúc hìn h thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày, nghĩa là tập trung nghiên cứu tục ngữ Tày ở phƣơng diện ngôn ngữ học. 3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Để miêu tả, phân tích cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày một cách chính xác, trƣớc hết, luận văn cần phải xác định đƣợc cơ sở lí luận của tục ngữ. - Đối chiếu phần dịch nghĩa tiếng Việt với nghĩa trong ngôn ngữ dân tộc Tày của các câu tục ngữ đã sƣu tầm, tổng hợp đƣợc, để dạt tới cách hiểu nghĩa của các đơn vị tục ngữ Tày một cách chân thực và chuẩn xác nhất. - Khảo sát, thống kê, phân tích và phân loại các câu tục ngữ để chỉ ra đƣợc các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Lựa chọn phƣơng pháp nghiên cứu là căn cứ vào mục đích và đối tƣợng nghiên cứu của đề tài. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp sau. 5.1. Phương pháp thống kê phân loại đƣợc sử dụng trong quá trình thống kê và thu thập tƣ liệu, đó là toàn bộ các đơn vị tục ngữ Tày để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài. Luận văn tiến hành thu thập và xử lí 2.089 câu tục ngữ Tày. 5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ những đặc điểm về cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày có sự so sánh với tục ngữ Việt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7
  13. Ngoài ra các thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, phƣơng pháp quy nạp, tổng hợp cũng đƣợc chúng tôi sử dụng để tìm ra các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày và rút ra những kết luận cần thiết trong quá trình nghiên cứu về tục ngữ Tày. 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Về mặt lí luận Luận văn bổ sung cho việc nghiên cứ u tục ngữ dân tộc Tày ở bình diện hình thức và ngữ nghĩa. Đặc biệt luận văn cung cấp những tƣ liệu về tục ngữ Tày xét từ phƣơng diện ngôn ngữ học, đồng thời góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng hơn cho các công trình nghiên cứu về tục ngữ Tày. 6.2. Về mặt thực tiễn Luận văn góp phần thúc đẩy việc sƣu tầm và nghiên cứu tục ngữ của dân tộc Tày trong kho tục ngữ chung của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Bên cạnh đó luận văn còn là nguồn tƣ liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh, những ngƣời có nhu cầu tìm hiểu tục ngữ Tày và văn hoá Tày. 7. Bố cục luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2: Đặc điểm cấu trúc của tục ngữ dân tộc Tày Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8
  14. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1.Tục ngữ trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học * Khái quát Trong nghiên cứu văn học dân gian, các nhà nghiên cứu đã xem tục ngữ nhƣ một thể loại ra đời vào loại sớm nhất, có số lƣợng phong phú và có sức sống lâu bền trong "folklore" của các dân tộc trên thế giới. Họ quan niệm tục ngữ là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân dân lao động, vì thế mỗi câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lí mà còn là một văn bản nghệ thuật có giá trị. Trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học, tục ngữ đƣợc xem xét ở một góc độ khác. Có thể khẳng định, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã kế thừa thành tựu nghiên cứu về tục ngữ của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, đƣa ra những quan điểm riêng về tục ngữ dƣới góc nhìn của mình . Dƣới đây là một số quan niệm về tục ngữ của các nhà ngôn ngữ học. 1.1.1. Quan niệm của hai nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh Cả hai nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh đều có chung quan điểm cho rằng tục ngữ không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là lời nói liên quan đến cụm từ cố định. Trong cuốn "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại", tác giả Nguyễn Văn Tu đƣa ra chủ trƣơng: "Trong tiếng Việt, những tục ngữ, phƣơng ngôn, ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ. Chúng không phải là đối tƣợng của từ vựng học mà là đối tượng của văn học dân gian. Nhƣng chúng là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ đƣợc dùng đi dùng lại để trao đổi tƣ tƣởng, cho nên chúng có điểm gần với cụm từ cố định. Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thành phần ngữ pháp nào cả" 58; 87]. Tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn "Hoạt động của từ Tiếng Việt" cũng viết: "Cụm từ tiếng Việt bao gồm cả thành ngữ lẫn tục ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ, cùng là những đơn vị có sẵn trong tiếng nói" [40; 25]. Có thể thấy hai tác giả Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh chịu ảnh hƣởng của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, đều xem tục ngữ là đơn vị của lời nói chứ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9
  15. không phải đơn vị của ngôn ngữ. Quan niệm này đã chứng tỏ rằng tục ngữ là một đơn vị trung gian giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa từ vựng học và cú pháp học. Đây là gợi mở quan trọng cho các nhà nghiên cứu tục ngữ về sau. 1.1.2. Nhà ngôn ngữ học Cù Đình Tú trong bài báo trao đổi ý kiến với tác giả Nguyễn Văn Mệnh "Góp ý kiến phân biệt tục ngữ với thành ngữ" [56], quan niệm rằng, về mặt ngôn ngữ học thì tục ngữ có chức năng khác với thành ngữ, khác với các sáng tác dân gian ở chỗ tục ngữ là những thông báo ngắn gọn, thông báo một nhận định, một kết luận về một vấn đề nào đó của hiện thực khách quan. Do vậy "mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng". Xét về quan hệ kết cấu và chức năng, tác giả đã chỉ ra điểm khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ: Thành ngữ thƣờng có kết cấu một trung tâm với chức năng định danh, còn "tục ngữ có kết cấu hai trung tâm và thường có chức năng thông báo". Để làm rõ hơn kết cấu của tục ngữ, tác giả còn nhấn mạnh thêm yếu tố cân đối của tục ngữ: "Tục ngữ triệt để sử dụng các hình thức cân đối, tỉnh lƣợc, bởi vậy, ở nhiều tục ngữ ta có thể chêm xen thêm các yếu tố tỉnh lược, nhất là các hư từ ". Sử dụng chức năng làm tiêu chí khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ là một đóng góp quan trọng của tác giả Cù Đình Tú về mặt kết cấu của tục ngữ. Có thể thấy rằng đây là một cái nhìn mới, những gợi ý mới mở ra những nghiên cứu mới về tục ngữ . 1.1.3. Tác giả Nguyễn Đức Dân trong bài báo "Ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ" lại dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa để phân biệt thành ngữ với tục ngữ. Tác giả đƣa ra khái niệm: "Thành ngữ phản ánh các khái niệm, hiện tƣợng, còn tục ngữ phản ánh các quan niệm, những suy nghĩ, những tri thức và cách tư duy của một dân tộc về các hiện tượng, các quy luật tự nhiên và xã hội " [10; 1]. Từ sự khác nhau đó đã dẫn tới sự khác nhau cơ bản trong sự hình thành nghĩa: "Nghĩa của thành ngữ đƣợc hình thành qua sự biểu trƣng nghĩa của cụm từ. Nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của một câu và qua sự biểu trưng các quan hệ, còn các thành ngữ không có thuộc tính này" [10; 5]. Nhƣ vậy, quan niệm về tục ngữ dựa vào mặt ngữ nghĩa của tác giả Nguyễn Đức Dân đã góp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên10 http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. phần hoàn chỉnh thêm cách nhìn tục ngữ trên lập trƣờng của các nhà ngôn ngữ học. 1.1.4. GS.TS Đỗ Hữu Châu trong cuốn "Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt" cho rằng đứng về mặt nghiên cứu, do tính chất cố định nên " tục ngữ cũng có thể và là một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học , là một đơn vị nghiên cứu của ngành cú học (phrasesolorie) là hợp lí" [9; 75]. Tác giả còn chỉ ra sự khác nhau giữa ngữ cố định và tục ngữ và phƣơng ngôn. Tính chất của ngữ cố định là tƣơng đƣơng với từ, còn tính chất của tục ngữ lại tương đương với câu, ý nghĩa của cụm từ cố định tƣơng đƣơng với cả cụm từ tự do, thì ý nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về chân lí, một lẽ thƣờng đối với một nền văn hoá nào đó, nghĩa là một tƣ tƣởng hoàn chỉnh, do đó tục ngữ không thuộc phạm vi của từ vựng ngữ nghĩa học mà thuộc phạm vi lớn hơn là câu. Tác giả cũng chỉ rõ rằng thành ngữ có thể có cấu trúc là ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ, lúc đó tục ngữ có cấu trúc câu, hoặc có t hể có cấu trúc đơn phần, ví dụ: vải Quang, húng Láng, ngổ Dầm, cá rô Đầm Sét, sâm cầm Tây Hồ...hoặc cấu trúc là câu phức, ví dụ: Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa, con hư tại mẹ, cháu hư tại bà... [dẫn theo 6; 29], tuy nhiên trong quá trình sử dụng vẫn có lúc đơn vị này dùng nhƣ đơn vị kia, lúc này diễn ra sự thay đổi trong tính chất cơ bản của các đơn vị vốn khác nhau về nguyên tắc. 1.1.5. Trong cuốn "Thành ngữ học tiếng Việt" (2004), tác giả Hoàng Văn Hành trong quá trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, đã dựa trên những quan điểm về tục ngữ của những ngƣời đi trƣớc, đƣa ra những quan điểm khá mới mẻ về tục ngữ. Tác giả cho rằng, nếu chỉ nói tục ngữ tự thân là một câu hay những câu cố định, diễn đạt trọn vẹn, một phán đoán... đó chỉ là những căn cứ để phân biệt với thành ngữ. Song, trong cách nhìn của ngữ nghĩa học có thể nhận định "tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật" [23; 32]. Nghĩa là tục ngữ mang hai tƣ cách: tục ngữ là câu, nhƣng khác với câu thông thƣờng ở chỗ nó có đặc trƣng là thông điệp nghệ thuật, nhƣng khác với thông điệp nghệ thuật khác ở chỗ nó có hình thức một câu. Từ hai đặc trƣng này, có thể thấy tục ngữ là một chỉnh thể có cấu trúc đa diện. Từ đó khi đi sâu phân tích các đơn vị tục ngữ sẽ cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên11 http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. thấy cấu trúc và ngữ nghĩa của t ục ngữ là một cấu trúc phức tạp nhiều tầng nghĩa, ở tục ngữ "có sự gặp gỡ giữa chức năng phản ánh và chức năng thông tin, sự hoà quyện giữa cấu trúc văn học với cấu trúc ngôn ngữ thành một thể thống nhất không tách rời" [23; 37]. Quan niệm trên đây của tá c giả HoàngVăn Hành là một cái nhìn mới mẻ hơn, hoàn thiện hơn đối với tục ngữ Việt Nam. Nó phù hợp với việc phân tích, xử lí các đơn vị tục ngữ trong thực tiễn nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học. Tóm lại, xét về mặt thời gian, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến tục ngữ và đƣa ra cái nhìn ngày càng đầy đủ và trọn vẹn về tục ngữ. Họ đều xem tục ngữ là một hiện tƣợng ngôn ngữ đặc biệt, nhƣ nhận định của nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Thái Hoà "Tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa đơn vị ngữ cú và câu, giữa câu và văn bản và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật" [19; 25]. 1.2. Tục ngữ trong sự phân biệt với thành ngữ, ca dao Nhƣ ở phần trình bày bên trên, ta thấy không phải ngay từ đầu khái niệm tục ngữ đã rõ ràng, mà phải trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài, các nhà nghiên cứu mới có đƣợc những quan niệm tƣơng đối rõ và cụ thể về tục ngữ. Để có đƣợc điều đó các nhà nghiên cứu đã đặt tục ngữ trong mối tƣơng quan v ới đơn vị thành ngữ, ca dao... Trên thực tế, việc xác định ranh giới giữa các đơn vị ngôn ngữ này còn có nhiều ý kiến khác nhau. 1.2.1. Phân biệt tục ngữ với thành ngữ Xét về mặt lịch sử các công trình nghiên cứu về tục ngữ, ta thấy ngƣời đầu tiên đƣa ra sự phân định giữa tục ngữ và thành ngữ là nhà nghiên cứu Dƣơng Quảng Hàm. Trong cuốn "Việt Nam văn học sử yếu", xuất bản năm 1943, ông chỉ ra rằng: "Một câu tục ngữ tự nó có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là l ời nói có sẵn để ta tiện dùng nhằm diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè " [21;15] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên12 http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. Cùng chia sẻ với quan điểm này nhƣng Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa nhƣ vậy chƣa đƣợc rõ ràng, vì thế chƣa thấy đƣợc tác dụng khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ. Vũ Ngọc Phan đã đƣa ra quan điểm: "Tục ngữ là một câu tự nó đã diễn đạt một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn" [47; 108]. Điểm khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ mà tác giả chỉ ra đó là, tục ngữ tự thân nó là một câu, còn thành ngữ là bộ phận của câu. Ta thấy, tiêu chí phân biệt của Vũ Ngọc Phan là một nội dung có tính kết cấu ngữ pháp. Những kiến giải của ông đƣợc nhiều ngƣời đồng tình nhƣng cũng không ít ngƣời còn băn khoăn, bởi thực tế có thành ngữ có kết cấu là một câu, còn tục ngữ lại có kết cấu chỉ là một cụm từ, nhóm từ (ví dụ: " mèo mù vớ cá rán", hay “lươn ngắn chê chạch dài” có kết cấu chủ - vị nhƣng lại là thành ngữ) Vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học đã tranh luận khá sôi nổi về vấn đề này và đã đƣa ra đƣợc những tiêu chí phân định giữa thành ngữ và tục ngữ khá cụ thể và rõ ràng hơn. Nguyễn Văn Mệnh cho rằng về nội dung thì tục ngữ mang tính quy luật còn thành ngữ mang tính hiện tượng, về hình thức ngữ pháp tục ngữ tối thiểu là một câu, còn thành ngữ chỉ là một cụm từ. Nhƣng tác giả Cù Đình Tú ở bài báo "Góp ý kiến phân biệt tục ngữ với thành ngữ", đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2, xuất bản năm 1970 lại không hoàn toàn thống nhất với những tiêu chí phân định trên của Nguyễn Văn Mệnh vì ông cho rằng "Nội dung của tục ngữ và thành ngữ đều là đúc kết kinh nghiệm, là kết tinh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hoá hiện thực để rút ra bản chất quy luật mà có" [56; 39] Tác giả Cù Đình Tú cho rằng khác nhau cơ bản giữa tục ngữ và thành ngữ là về mặt chức năng, ông cho rằng, tục ngữ có chức năng thông báo nào đó (nhận định, kết luận) về hiện thực khác quan, còn thành ngữ có chức năng định danh, vì thế thành ngữ tương đương với từ còn tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tƣởng. Xét về mặt kết cấu, tục ngữ có kết cấu hai trung tâm, có thể chêm xen các yếu tố khác vào nhƣ các hƣ từ, còn thành ngữ có kết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên13 http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. cấu một trung tâm, và không thể chêm xen các yếu tố nào khác vào nhƣ tục ngữ. [56; 41] Hoàng Văn Hành trong cuốn" Thành ngữ học tiếng Việt", xuất bản năm 2004 lại đƣa ra một tiêu chí nữa về sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, ông cho rằng "Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật" [23, 31], có nghĩa là xét về mặt nội dung và cách diễn đạt của những đơn vị thành ngữ và tục ngữ, ta thấy nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm, còn nội dung của tục ngữ là nội dung của những phán đoán. Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ và thành ngữ phản ánh quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán. Ví dụ: Để diễn đạt khái niệm về sự uổng công, phí công vô ích, đƣợc khái quát qua hàng loạt các hiện tƣợng có trong các thành ngữ nhƣ "công dã tràng", "nước đổ lá khoai", "nước đổ đầu vịt"... đây là những hiện tƣợng riêng rẽ đƣợc nhận thức bằng những tri giác của giác quan. Sự nhận thức ấy nhằm khẳng định một đặc điểm, một thuộc tính của các hiện tƣợng đó, sự khẳng định ấy đƣợc thể hiện ra bằng bằng những phán đoán mang tính quy luật "Dã tràng xe cát biển đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì", "Nước đổ đầu vịt thì nước lại trôi đi hết ", "Nước đổ lá khoai thì nước lại trôi đi hết"... Tuy nhiên trong thực tế sử dụng ta thấy giữa tục ngữ và thành ngữ vẫn có hiện tƣợng trung gian. Chẳng hạn có những câu có thể dùng làm thành ngữ hay tục ngữ đều đƣợc bằng cách thêm vào một số từ nào nhƣ: thì, mà, lại, mà lại... Ví dụ: - Giòn cười tươi khóc (thành ngữ)-> Giòn cười thì tươi khóc (tục ngữ) (hiện tƣợng) (quy luật) - Trứng chọi đá (thành ngữ) -> Trứng mà lại chọi với đá (tục ngữ) (hiện tƣợng) (quy luật) - Khôn nhà dại chợ (thành ngữ) -> Khôn nhà mà dại chợ (tục ngữ) (hiện tƣợng) (quy luật) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên14 http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. Từ đó ta thấy giữa tục ngữ và thành ngữ còn có nhiều điểm giống nhau về hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện. Điểm giống nhau giữa thành ngữ và t ục ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật hiện tƣợng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân. Điểm khác nhau ở đây có thể nhận thấy là, ở thành ngữ thì nội dung thƣờng mang tính hiện tƣợng còn ở tục ngữ lại mang tính quy luật. Vì thế, những đặc điểm khác nhau nêu trên là những đặc điểm tiêu biểu, mang tính lí luận cho việc nghiên cứu tục ngữ. Từ những tiêu chí phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ của các nhà nghiên cứu, có thể khái quát nhƣ sau: Những đặc trƣng Tục ngữ Thành ngữ dùng làm tiêu chí nhận diện Tối thiểu là một câu hoàn chỉnh, có Cụm từ, tổ hợp từ, có kết cấu 1.Về hình thức cấu kết cấu hai trung tâm, có thể thêm, một trung tâm, không thể tạo bớt các yếu tố (hƣ từ) thêm bớt các yếu tố Biểu thị phán đoán mang tính chất Biểu thị khái niệm mang tính hiện tƣợng 2. Về nội dung quy luật Thông báo (nhận định, kết luận) về Định danh sự vật hiện tƣợng, 3. Về chức năng một phƣơng diện của hiện thực tính chất, hành động khách quan 1.2.2. Phân biệt tục ngữ với ca dao Theo nhận định chủ quan, chúng tôi thấy sự phân biệt tục ngữ và ca dao có phần rõ ràng hơn sự phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ. Có thể thấy nếu nhƣ ca dao là thơ ca dân gian mang đậm sắc thái tình cảm th ì tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm theo đạo lí của dân tộc, mang tính triết lí. Trong sinh hoạt, tục ngữ thƣờng nói còn ca dao thƣờng hát và ngâm. Hoàng Tiến Tựu trong cuốn "Văn học dân gian" nhận xét: " Tục ngữ thiên về lí trí, nhằm nêu lên những nhận xét khách quan, còn ca dao thiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên15 http://www.lrc-tnu.edu.vn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản