intTypePromotion=1

Luận văn đề tài: Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp sông đà 11-3 – công ty cổ phần sông đà 11

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:75

0
56
lượt xem
14
download

Luận văn đề tài: Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp sông đà 11-3 – công ty cổ phần sông đà 11

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong điều kiện nước ta hiên nay, sự đổi mới cơ chế quản lý về kinh tế của Đảng và nhà Nước ta, từ cơ chế quản lý tâp trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước đã đặt các doanh nghiệp Nước ta trước những cơ hội mới và thách thức mới. Nhà Nước tạo ra một môi trường kinh tế năng động với sự đa dạng về các nghành nghề, các loại hình kinh doanh cũng như các đối tượng để hợp tác và sự cởi mở...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn đề tài: Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp sông đà 11-3 – công ty cổ phần sông đà 11

  1. LUẬN VĂN: Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp sông đà 11-3 – công ty cổ phần sông đà 11
  2. Mở Đầu Trong điều kiện nước ta hiên nay, sự đổi mới cơ chế quản lý về kinh tế của Đảng và nhà Nước ta, từ cơ chế quản lý tâp trung quan liêu bao cấp chuyển sang c ơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước đã đặt các doanh nghiệp Nước ta trước những cơ hội mới và thách thức mới. Nhà Nước tạo ra một môi trường kinh tế năng động với sự đa dạng về các nghành nghề, các loại hình kinh doanh cũng như các đối tượng để hợp tác và sự cởi mở của cơ chế hành chính, luật pháp đã giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, hình thưc công tác tổ chức sản xuất…một cách tối ưu nhất, hiệu quả nhất. Mặt khác các doanh nghiệp cũng phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, do vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được, thì doanh nghiệp phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng như: sản phẩm sản xuất ra phải nhiều về số lượng, nâng cao về chất lượng và đa dạng về loại hình sản phẩm, tất nhiên đi cùng với nó là giá thành phải thấp hơn với các mặt hàng mà doanh nghiệp khác cũng sản xuất ra. Mặt khác trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được, thì phải quan tâm chú trọng đến chất lượng sản phẩm, đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh. Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về chất lượng cũng như giá thành càng trở nên mạnh mẽ hơn. Vì vậy để cạnh tranh được các doanh nghiệp phải giảm chi phí sản xuất, hạ thấp giá thành sản phẩm thì mới có thể tồn tại và phát triển đứng vững trên thị trường được. Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp là làm thế nào để xác định được mức chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để xác định kết quả sản xuất kinh doanh, điêù đó chỉ có thể làm đươc ở công tác tổ chức tập hợp chi phi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đó là vấn đề rất quan trọng hiên nay. Việc tập hợp chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý chi phí giá thành, và đây cũng là điều kiện quan trọng để thị trường chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp.
  3. Những năm gần đây nền kinh tế chuyển đổi nhiều, nên nhiều doanh nghiệp đã không đứng vững, đặc biệt là các doanh nghệp Nhà Nước đã quen cơ chế bao cấp làm ăn theo kiểu lỗ thật lãi giả.Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp nhà nước đã tìm ra cho mình một con đường đi đúng đắn sản xuất ngày càng đi lên quy mô càng được mở rộng, trong những Công Ty đó có Công Ty cổ phần Sông Đà11 thuộc Tổng Công Ty Sông Đà, đây là một doanh nghiệp Nhà Nước với quy mô lớn đã đứng vững và không ngừng phát triển, sản xuất ngày càng đi lên và hoà nhịp với sự phát triển chung của nền kinh tế thị trường Nước ta hiện nay. Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý của Công Ty cũng như quản lý của Nhà Nước.Vì vậy trong thời gian thực tập ở Xí nghiệp Sông Đà 11-3 thuộc Công Ty cổ phần Sông Đà 11 em đã tìm hiểu về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với đề tài : Tổ chức công tác Kế Toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp Sông Đà 11-3 -Công Ty cổ phần Sông Đà 11. Thông qua đó em đã rút ra một số kinh nghiệm cho bản thân và hi vọng có thể đưa ra một số ý kiến đóng góp giúp cho việc hoàn thiện công tác này của Công Ty một cách tốt hơn. Chuyên đề thực tập gồm những nội dung sau: Phần 1:Những vần đề lý luận chung về Kế Toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Phần 2: Tình hình thực tế về Kề Toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Sông Đà 11-3 – Công Ty cổ phần Sông Đà 11 Phần 3: Một số ý kiến đóng góp nhầm hoàn thiện công tác Kế Toán về tổ chức công tác Kế Toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Sông Đà 11-3- Công Ty Sông Đà 11 Chương 1: lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 - đặc điểm của sản xuất xây lắp – yêu cầu của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp.
  4. 1.1.1 - Đặc điểm của nghành xây lắp. Xây dựng cơ bản là nghành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân. Do là nghành sản xuất công nghiệp đặc biệt so với nghành sản xuất vật chất khác nên XDCB có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật riêng biệt như: Thứ nhất. Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn kết cấu phức tạp và mang tính chất đơn chiếc, nhưng được xây dựng theo thiết kế kỹ thuật và dự toán riêng biệt, hơn thế nữa sản phảm xây lắp có thời gian sử dụng lâu dài và mang tính chất tổng hợp về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, kỹ thuật và cả tính nghệ thuật. Thứ hai. Quá trình sản xuất sản phẩm là quá trình thi công xây dựng các công trình kéo dài từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành và đưa vào sử dụng, quá trình này được chia làm nhiều giai đoạn khác nhau. Thứ ba. Sản phẩm xây lắp gắn liền với một địa điểm nhất định, nơi sản xuất cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm. Vật tư, lao động, máy thi công phải di chuyển theo địa điểm công trình, hơn thế nữa hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời nên thường xuyên chịu tác động về điều kiện tự nhiên, do vậy mà ảnh hưởng đến việc quản lý vật tư, máy móc thiết bị dễ hư hỏng và ảnh hưởng đến viêc thi công và hoàn thành công việc. Thứ tư. Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc theo giá thoả thuận với chủ đầu tư từ trước, do vậy mà tính chất của hàng hoá sản phẩm thể hiện không được rõ ràng. Thứ năm. Đối tượng hạch toán chi phí là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục công trình Vì thế cần phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình. Những đặc điểm trên có ảnh hưởng lớn đến công tác Kế Toán tổng hợp của các doanh nghiệp xây lắp và tổ chức công tác Kế Toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 1.1.2 - Yêu cầu của công tác Kế Toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
  5. Để đảm bảo thi công đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình…..với các chi phí hợp lý thì các doanh nghiệp xây lắp phải có phương pháp quản lý, tổ chức thi công, quản lý chi phí sản xuât và tính giá thành sản phẩm xây lắp chăt chễ, hợp lý và có hiệu quả nhất. Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao thầu xây lắp. Vì vậy muốn trúng thầu, được nhận thầu thi công một công trình thì doanh nghiệp phải xây dựng được một mức giá thầu hợp lý dựa trên cơ sở các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà Nước ban hành, giá thị trường và bản thân doanh nghiệp phải có năng lực trong xây dựng. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là đảm bảo khả năng kinh doanh có lãi. Thực hiện được các yêu cầu trên doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý kinh tế mà trọng tâm là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp, đó là chỉ tiêu rất quan trọng mà các nhà quản lý kinh tế luôn quan tâm, vì nó phản ánh chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản xuất xây lắp do Kế Toán cung cấp những nhà quản lý doanh nghiệp nắm được chi phí sản xuất và giá thành thực tế của từng công trình, hạng mục công trình cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá thực hiện các định mức chi phí, dự toán chi phí, tình hình sử dụng tài sản vật tư, lao động, vốn, tình hình thực hiện giá thành để nhà quả lý đưa ra những quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp của mình . Yêu cầu chủ yếu đặt ra cho công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là: - Xác định đối tượng chi phí sản xuất, đối tượng và phương pháp tính giá thành có tính khoa học nhất. - Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương pháp đã chọn, cung cấp kịp thời thông tin, số liệu tổng hợp về các khoản mục chi phí, những yếu tố chi phí quy định và xác định đúng đắn chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ. - Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính giá thành sản phẩm xây lắp theo đúng các khoản mục quy định và kỳ tính giá đã xác định
  6. - Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành cho lãnh đạo doanh nghiệp, tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí, dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và các kế hoạch hạ giá thành sản phẩm, phát hiện kịp thời khả năng tiềm tàng, đề xuất các biện pháp để không ngừng tiết kiệm và hạ giá thành sản phảm của doanh nghiệp. 1.2 - những vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. 1.2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 1.2.1.1 Chi phí sản xuất Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp là quá trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào, sản xuất tạo thành các công trình lao vụ nhất định. Cũng như các doanh nghiệp khác, để tiến hành các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm thì doanh nghiệp xây lắp cần phải có được 3 yếu tố cơ bản đó là: - Tư liệu lao động: nhà xưởng, máy móc thiết bị và những tài sản cố định khác - Đối tượng lao động như: nguyên vật liệu….. - Lao động của con người Xong sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất có khác nhau dẫn đến sự hình thành những chi phí tương ứng. - Chi phí về tư liệu lao động như chi phí về khấu hao các loại tài sản cố định - Chi phí về các loại đối tượng lao động như chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu…. - Chi phí về lao động như: tiền công tiền lương, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí trên đều được biểu hiện bằng tiền, trong đó chi phí về tiền công là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, còn chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí về vật liệu ngyên liệu, nhiên liệu….là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động vật hoá.
  7. Như vậy, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định. Một Doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động có liên quan đến sản xuất ra sản phẩm hay lao vụ, còn có những hoạt động kinh doanh, hoạt động khác không có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý…..chỉ những chi phí để tiến hành các hoạt động sản xuất, mới được coi là chi phí sản xuất. Chi phí của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ cho viêc quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán, ập hợp theo từng thời kỳ, hàng tháng, hàng quý, hàng năm sao cho phù hợp với kỳ báo cáo. Về mặt lượng thì chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai nhân tố: - Khối lượng lao động, nhiên liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định. - Tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí và giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất . 1.2.1.2 Phân loai chi phí sản xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp chi phí bao gồm có nhiều loại, nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất thi công cũng khác nhau, việc quản lý sản xuất, Tài chính, quản lý về chi phí sản xuất không thể chỉ dựa vào số liệu phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất mà còn phải căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí riêng biệt để phục vụ cho yêu cầu kiểm tra và phân tích toàn bộ các chi phí sản xuất hoặc từng yếu tố chi phí ban đầu của chúng, theo từng công trình, hạng mục công trình từng nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Vì vậy phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Phân loại chi phí sản xuất có tính khoa học, thống nhất có tính chất quan trọng trong việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp, h ơn nưã giúp kiển tra, phân ttích chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. * Phân loại chi phí sản xuất được phân loại theo các cách sau: - Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí.
  8. Căn cứ vào nội dung và tính chất kinh tế của các chi phí để sắp xếp các chi phí có cùng tính chất, nội dung kinh tế vào một yếu tố ở đầu, dùng vào mục đích gì, tác dụng của chúng ra làm sao. Vì thế cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, và toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được được chia thành các yếu tố chi phí sau: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu; bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiêt bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ. + Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ tiền công phải trả, tiền trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của công nhân và nhân viên hoạt động trong doanh nghiệp. + Chi phí khấu hao TSCĐ: đây là hao phí về thiết bị lao động, là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như: Chi phí thuê máy, tiền điện, tiền nước. + Chi phí khác bàng tiền: Là toàn bộ chi phí phát sinh trong hoạt động SXKD ngoài bốn yếu tố chi phí kể trên. - Phân loại chi phí theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí có tác dụng lớn đối với công tác quản lý và công tác kế toán thể hiển những vấn đề sau: + Phân loại chi phí sản xuất thêo yếu tố cho biết kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, là căn cứ để lập bảng thuyết minh báo cáo tài chinh ( phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố ) phục vụ cho yêu cầu quản trị của doanh nghiệp. + Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ sau. + Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để tập hợp chi phí theo yếu tố, lập báo cáo các chi phí sản xuất theo yếu tố, cung cấp tài liệu để tham khảo, lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vât tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau.
  9. – Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí. Mỗi yếu tố sản xuất phát sinh trong kỳ đều có công dụng và mục đích nhất định với hoạt động sản xuất, theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục các chi phi khác nhau, mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích, công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nó như thế nào, những chi phí phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục sau: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm, không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu sử dụng vào mục đích sản xuất chung, và những hoạt động ngoài sản xuất. + Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất, không trích vào khoản mục này số tiền công và trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên sản xuất chung, nhân viên quẩn lý và nhân viên bán hàng. + Chi phí sử dụng máy thi công: Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động thi công xây lắp ở những doanh nghiệp có công trình áp dụng phương pháp thi công hỗn hợp bao gồm: chi phí nhân công như lương, tiền công, phụ cấp trả cho công nhân trực tiếp điều khiển và phục vụ xe, máy thi công; chi phí vật liệu như vật liệu, nhiên liệu; chi phí dụng cụ; chi phí khấu hao máy thi công và các chi phí khác. + Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ sản xuất chung tại bộ phận sản xuất bao gồm: Các khoản trích BHXH, KPCĐ theo lương của công nhân trực tiếp thi công và phục vụ thi công lắp máy, công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công, các chi phí dùng vào việc quản lý phục vụ chung cho bộ phận quản lý và bộ phận sản xuất thi công nh ư tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý đội, chi phí vật liệu ,dụng cụ chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng phục vụ quản lý chung ở đội, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác. Ngoài các khoản mục chi phí sản xuất nêu trên còn có các chi phí như :
  10. + Chi phí nhân viên ( phân xưởng, đội, trại sản xuất ): Phản ánh các chi phí liên quan và phải trả cho nhân viên như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trích bảo hiểm….cho nhân viên quản lý, nhân viên kế toán, thống kê, thủ kho, công nhân vận chuyển, sửa chữa phân xưởng (đội trại sản xuất). + Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng lại tài sản cố định, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xưởng tổ đội sản xuất. + Chi phí dụng cụ sản xuất : Phản ánh chi phí về dụng cụ công cụ dùng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng, tổ đội sản xuất như khuôn mẫu dụng cụ giá lắp, dụng cụ cầm tay, ván khuôn, dụng cụ bảo hộ lao động….. + Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định hữư hình, tài sản cố định thuê tài chính sử dụng ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất như khấu hao máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải, nhà xưởng, cây lâu năm, súc vật làm việc….. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh những chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất như chi phí về điện nước, khí nén, điện thoại, chi phí sửa chữa thuê ngoài…. + Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh những chi phí bằng tiền ngoài những chi phí trên phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng, tổ đội sản xuất. Cách phân loại này có tác dụng cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở để kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức cho kỳ sau. Ngoài hai cách phân loại trên còn có các cách phân loại chi phí khác như: - Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và quy mô sản xuất, theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi. - Phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. - Phân loại chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm…… Như vậy mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng, phục vụ cho từng đối tượng quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể, chúng luôn bổ
  11. sung cho nhau nhằm quản lý hiệu quả nhất về toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. 1.2.2 Khái niệm và các loại giá thành trong doanh nghiệp xây dựng: 1.2.2.1 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp : Để lắp đặt được một công trình hay hoàn thành một lao vụ … thì Công Ty phải đầu tư vào quá trình sản xuất, thi công một lượng chi phí nhất định. Những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình thi công, đã tham gia cấu thành nên giá thành công tác xây lắp và hoàn thành quá trình xây lắp đó. Như vậy, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác ….tính cho công trình, hạng mục công trình hay khối lượng hoàn thành cho đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và đươc chấp nhận thanh toán. Do vậy mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành đều có một giá thành riêng. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản vật tư lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như những giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất, được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí tiết kiệm và hạ giá thành. Giá thành sản phẩm còn là cơ sở để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Bản chất của giá thành sản phẩm là biểu hiện sự di chuyển của các yếu tố chi phí cho từng sản phẩm công tác lao vụ đã hoàn thành trong kỳ, giá thành có hai chức năng chủ yếu là: lập giá và bù đắp chi phí, toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để sản xuất sản phẩm, công tác lao vụ dịch vụ đã hoàn thành được bù đắp chi phí bằng chính giá bán do tiêu thụ các sản phẩm, công tác lao vụ dịch vụ hoàn thành đó, mới đầu chỉ để tái sản xuất giản đơn và sau đó là tái sản xuất mở rộng để thu lợi nhuận. Giá bán sản phẩm = Giá thành tiêu thụ + Thuế + Lãi
  12. Để xác định giá bán sản phẩm, công tác lao vụ dịch vụ hoàn thành phải căn cứ vào chính giá thành của chính sản phẩm, công tác lao vụ dịch vụ đó, thông qua giá bán mà xác định được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả mà chi phí đó đã bỏ ra. Khác với các doanh nghiệp công nghiệp, người ta có thể tính toán giá thành cho một loại sản phẩm sản xuất ra trong kỳ và giá thành đơn vị của sản phẩm sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để xác định giá bán. ở doanh nghiệp xây lắp giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt cho mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp sau khi đã hoàn thành đều có một giá thành riêng. Mặt khác khi nhận thầu một công trình xây lắp thì giá bán ( giá nhận thầu) đã có ngay trước khi thi công công trình, nghĩa là giá bán có trước khi xác định được giá thành thực tế của sản phảm xây lắp đó. Do đó giá thành thực tế của một công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành chỉ quyết định đến lãi hay lỗ của doanh nghiệp do thi công công trình đó mà thôi. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự cho phép của Nhà Nước một số doanh nghiệp xây lắp đã linh hoạt chủ động xây lắp một số công trình ( chủ yếu là các công trình dân dụng như nhà ở, văn phòng, cửa hàng….) sau đó bán lại cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng với giá hợp lý, thì giá thành sản phẩm xây lắp cũng là nhân tố quan trọng để xác định giá bán. Giá thành là một giá trị biểu hiện bằng tiền, do đó nó là một phạm trù kinh tế khách quan vì sự di chuyển và kết tinh của giá trị tư liệu sản xuất và lao động sống đã hao phí vào sản xuất là cần thiết tất yếu. Mặt khác trước đây người ta quan niệm rằng. Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất và ngoài sản xuất tính theo số lượng và loại sản phẩm đã hoàn thành. Như vậy giá thành sản phẩm sẽ không phản ánh đúng đắn bản chất của nó và ít nhiều cũng mang tính chủ quan. Bởi vì tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất thu nhập thuần tuý của xã hội như bảo hiểm xã hội, các khoản trích nộp cho cơ quan cấp trên…… 1.2.2.2. Phân biệt khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. Trên cơ sở tìm hiểu các khái niệm, có thể nhận thấy chi phí sản xuất là cơ sở hình thành lên giá thành sản phẩm, giá thành sản phẩm kỳ này là cơ sở để xác định
  13. chi phí sản xuất cho kỳ sau, chúng có mối quan hệ với nhau hết sức chặt chẽ tuy nhiên cũng cần phân biệt rõ ràng hai khái niệm này. Trước hết, về mặt chất thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự giống nhau như chúng đều là những chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên. Hai khái niệm về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp lại có sự khác biệt như: - Chi phí sản xuất luôn luôn gắn liền với từng thời kỳ phát sinh chi phí, còn giá thành sản phẩm xây lắp lại gắn với từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao. - Trong giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh ( chi phí trả trước) hoặc một phần chi phí sẽ phát sinh ở các kỳ sau ( chi phí trả sau) nhưng đã ghi nhận là chi phí của kỳ này. - Giá thành sản phẩm xây lắp chứa đựng cả một phần chi phí của kỳ trước chuyển sang (chi phí về sản phẩm làm dở đầu kỳ). Hiểu một cách nhanh chóng nhất thì giá thành là chi phí đã chi ra để sản xuất và tiêu thụ một khối lượng công việc nhất định, trong mỗi doanhh nghiệp không ngừng phấn đấu hạ thấp giá thành sản phẩm, vì đây là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của công tác quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp và đây cũng là yêu cầu bức thiết của mỗi doanh nghiệp. 1.2.2.3 Các loại giá thành sản phẩm xây lắp: - Giá thành dự toán. Sản phẩm xây lắp của nghành xây dựng cơ bản thường có giá trị lớn, thì gian thi công dài, mang tính đơn chiếc, kết cấu phức tạp, quy mô lớn, đồng thời việc đầu tư xây dựng mỗi công trình đều liên quan đến nguồn vốn đầu tư. Do đó mỗi giai đoạn thiêt kế có một dự toán tương ứng với mức độ chính xác và cụ thể khác nhau phù hợp với nội dung của mỗi giai đoạn thiết kế. Căn cứ vào giá trị dự toán của mỗi công trình, hạng mục công trình ta có thể xác định được giá thành dự toán của mỗi công trình hay hạng mục công trình như sau:
  14. Giá trị dự toán Giá thành dự toán của từng công = của từng công trình + Lãi định trình hạng mục hạng mục công trình mức công trình Do đó: Giá thành dự toán của từng công trình hạng mục công trình sẽ là: Giá thành dự toán Giá trị dự toán của của từng công = từng công trình _ Lãi định trình hạng mục hạng mục công mức công trình trình Nếu giá thành dự toán của công trình hạng mục công trình được xác định dựa trên cơ sở các định mức, đơn giá của các cơ quan có thẩm quyền ban hành và dựa trên mặt bằng giá của thị trường. Nó chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với các đơn vị chủ đầu tư. - Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch sản phẩm xây lắp được dựa vào những định mức chi phí nội bộ của doanh nghiệp xây lắp, về nguyên tắc định mức nội bộ này phải tiên tiến hơn định mức dự toán. Nó là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành sản phẩm xây lắp trong giai đoạn kế hoạch, phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch được xác định theo công thức sau: Giá thành kế hoạh Giá thành dự toán của Mức hạ của công trình hạng = từng công trình hạng + giá thành mục công trình mục công trình kế hoạch - Giá thành thực tế: Giá thành thực tế công tác xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tất cả chi phí trực tiếp thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một khối lượng xây lắp nhất định và được xác định theo dõi do kế toán cung cấp. Giá thành thực tế công tác xây lắp không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn có thể bao gồm những chi phí thực tế phát sinh như: thiệt hại do phá đi
  15. làm lại, thiệt hại do ngừng sản xuất, mất mát thiếu hụt vật tư do nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp. Từ ba loại giá thành trên ta có thể dưa ra mối quan hệ giữa chúng như sau: Giá thành dự toán ≥ Giá thành kế hoạch ≥ Giá thành thực tế - Giá thành sản xuất. Còn gọi là giá thành công xưởng của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, tính vào những sản phẩm công việc hoặc lao vụ hoàn thành. Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp để đáp ứng yêu cầu của của công tác quản lý về chi phí quản lý, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, trong Công Ty xây lắp còn được theo dõi trên hai chỉ tiêu là giá thành của khối lượng hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành quy ước. + Giá thành của khối lượng xây lắp hoàn chỉnh: là giá thành của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành đảm bảo kỹ thuật và chất lượng phải đúng thiết kế, hợp đồng bàn giao và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán hợp đồng. Chỉ tiêu này còn cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất, thi công toàn vẹn cho một công trình, hạng mục công trình. Tuy nhiên cũng không đáp ứng được kịp thời các số liệu cần thiết cho việc quản lý sản xuất và giá thành trong suốt quá trình thi công, do đó để đáp ứng yêu cầu quản lý và đảm bảo chỉ đạo sản xuất kịp thời, đòi hỏi phải xác định được khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước. + Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước: là khối lượng xây lắp hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn được các điều kiện sau:  Phải nằm trong thiết kế và bảo đảm chất lượng kỹ thuật.  Khối lượng này phải xác định được một cách cụ thể và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.  Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý
  16. Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây lắp trong quá trình thi công, từ đó giúp cho công ty phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tựợng để có biện pháp quản lý thích hợp cụ thể. Tuy nhiên chỉ tiêu này có nhược điểm là không phản ánh được toàn diện chính xác giá thành toàn bộ công trình. Do đó: Trong công việc quản lý giá thành đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng cả hai loại chỉ tiêu trên để đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về quản lý giá thành đó là :kịp thời, chính xác, toàn diện và phải có hiệu quả. 1.3 . phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. 1.3.1 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất 1.3.1.1 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát và yêu cầu tính giá thành. Việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của công tác kế toán chi phí sản xuất. Có xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của doanh nghiệp, mới giúp cho tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế toán chi phí sản xuất đã xác định. Lựa chọn đối tượng kế toán tập hợp chi phí giữa các doanh nghiệp có thể giống nhau và cũng có thể khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất cũng như đối tượng kế toán chi phí sản xuất phải căn cứ vào một số yếu tố cơ bản sau: - Cơ cấu tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp : Trong doanh nghiệp có bao nhiêu phân xưởng, tổ đội sản xuất….trên cơ sở đó có thể chọn đối tượng kế toán chi phí sản xuất là toàn doanh nghiệp hay từng phân xưởng tổ đội. - Địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí: Xem chi phí đó có dùng chung cho toàn doanh nghiệp không hay chỉ dùng cho một bộ phận tổ đội, phân xưởng sản xuất nào, dùng cho mục đích sản xuất sản phẩm hay dùng cho quản lý doanh nghiệp…từ đó mà lưa chọn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là toàn doanh nghiệp hay từng phân xưởng, tổ đội sản xuất.
  17. - Yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng và trình độ quản lý hạch toán của doanh nghiệp. Nếu khả năng và trình độ quản lý, hạch toán của doanh nghiệp chưa cao thì có thể lựa chọ đối tượng kế toán tập hợp chi phí là toàn doanh nghiệp, ngược lại thì chọn đố tượng là các phân xưởng, tổ đội, quy trình công nghệ, giai đoạn công nghệ, nhóm sản phẩm hay từng mã sản phẩm. Trong sản xuất xây lắp với tính chất quy trình công nghệ phức tạp, loại hình sản xuất đơn chiếc, các đơn vị sản xuất phân chia ra làm nhiều khu vực, bộ phận thi công, đơn vị tính giá thành có thể làm công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành. Do trình độ quản lý không đồng đều giữa các Xí nghiệp nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là hạng mục công trình hay đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, khu vực thi công, bộ phận thi công tuỳ thuộc vào trình độ của từng đơn vị xây lắp. 1.3.1.2 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính như (gạch, đá, sắt, cát …), vật liệu kết cấu như ( trụ bê tông đan đúc sẵn…), vât liệu phụ như (sơn,sút,silicát….), nhiên liệu như ( xăng, dầu ,mỡ..) phụ tùng và bảo hộ lao động khác.Thông thường, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp liên quan trực tiếp đến từng đối tựng tập hợp chi phí. Do vậy khi có chứng từ liên quan đến chi phí nguyên vật liệu đều phải ghi đúng đối tượng chịu chi phí. Trong trường hợp nguyên vật liệu liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, không ghi trực tiếp cho từng đối tượng được, ta phải tiến hành lựa chọn phương thức phân bổ cho các đối tượng liên quan theo công thức sau: C Ci = * Ti  Ti Trong đó: Ci Là chi phí nguyên vật liệu phân bổ cho đối tượng i C Là tổng chi phí nguyên vật liệu đã tập hợp còn phân bổ
  18.  Ti Là tổng đại lượng tiêu chuẩn dùng Ti Là đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i Đối với chi phí nguyên liệu vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài có thể chọn tiêu chuẩn phân bổ là : chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất. Để tính toán tập hợp chính xác chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán cần chú ý kiểm tra xác định nguyên liệu, vật liệu đã lĩnh nhưng cuối kỳ chưa sử dụng hết và giá trị của phế liệu thu hồi (nếu có) để loại ra khỏi chi phí về nguyên liệu,vật liệu trực tiếp trong kỳ. Chi phí thực Trị giá NVL Trị giá Trị giá tế NVL trực = xuất đưa vào - NVL còn - phế liệu tiếp trong kỳ sử dụng lại cuối kỳ thu hồi Kế toán sử dụng TK621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, TK621 không có số dư cuối kỳ. Các nghiệp vụ kế toán chủ yếu phát sinh sau: 1. Khi xuất kho nguyên liệu, vật liệu,công cụ dụng cụ để sử dụng sản xuất trực tiếp sản phẩm trong kỳ cho từng đối tượng, kế toán ghi : Nợ TK 621 ( Chi tiết liên quan ) Có TK 152, 153 ( Chi tiết liên quan ) 2. Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua về không nhập kho mà mà sử dụng ngay cho sản xuất trực tiếp sản phẩm thì căn cứ vào hoá đơn mua hàng và chứng từ trả tiền liên quan thì kế toán ghi : Nợ TK 621 ( chi tiết liên quan ) Có TK 111, 112 Có TK 331 ( chi tiêt liên quan ) 3. Cuối tháng số nguyên vật liệu chưa dùng hết vào sản xuất kinh doanh và giá trị phế liệu thu hồi được (nếu có ) nhập kho, kế toán ghi : Nợ TK 152,153 ( chi tiết liên quan ) Có TK 621 ( chi tiết liên quan )
  19. 4. Cuối tháng tính toán kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp thực tế vào TK154 kế toán ghi : Nợ TK 154 ( chi tiết liên quan ) Có TK 621 ( chi tiết liên quan ) 1.3.1.3 Kế toán tập hợp và phân bổ nhân công trực tiếp. Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân viên trực tiếp sản xuất thi công công trình, bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản tiền phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hộ i, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính trực tiếp vào từng đối tượng chịu chi phí có liên quan. Nếu chi phí nhân công trực tiếp sản xuất thi công nh ưng có liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được tiền lương phụ, các khoản phụ cấp hoặc tiền lương chính trả theo thời gian mà người lao động thực hiện nhiều công tác khác nhau trong ngày… kế toán có thể chọn tiêu chuẩn thích hợp tính toán phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan. Để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể dựa vào chi phí tiền công định mức, chi phí tiền công kế hoạch, giờ công định mức hay thực tế, khối lượng xây lắp hoàn thành…tuỳ theo từng điều kiện cụ thể như các khoản trích BHXH, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, mà kế toán căn cứ tỷ lệ quy định để tính số tiền công đã tập hợp hoặc phân bổ cho từng đối tượng. Kế toán sử dụng TK622 để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp, tài khoản này không có số dư cuối kỳ. Các nghiệp vụ kế toán chủ yếu phát sinh : 1. Toàn bộ tiền công và các khoản khác phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, khi có chi phí phát sinh thì kế toán ghi : Nợ TK 622 ( chi tiết liên quan ) Có TK 335 2. Cuối kỳ tính toán trực tiếp hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp để kết chuyển cho các đối tượng chịu chi phí, kế toán ghi : Nợ TK 154 ( chi tiết liên quan ) Có Tk 622 ( chi tiết liên quan )
  20. 1.3.1.4 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung Kế toán sử dụng TK 627 “Chi phí sản xuất chung” là những chi phí phục vụ sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp hoặc thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ ở các tổ đội sản xuất, các bộ phận khác….gồm các khoản chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ, tiền lương nhân công…dùng cho việc quản lý phục vụ sản xuất sản phẩm xây lăp ở các tổ đội sản xuất. Các nghiệp vụ kế toán chủ yếu khi phát sinh những chi phí, kế toán ghi : Nợ TK 627 Có TK liên quan (152, 153 ,142, 214 ,334 ,338…)  Lưu ý : Khi xuất công cụ dụng cụ dùng cho công tác quản lý sản xuất xây lắp mà có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài thì kế toán ghi vào TK142, 242 và phân bổ dần. Nợ TK142, 242 Có TK 153 Sau khi phân bổ công cụ dụng cụ có giá trị lớn thì kế toán ghi : Nợ TK 627 Có TK 142 , 242 Cuối tháng toàn bộ chi phí sản xuất chung đã tập hợp được kết chuyển vào TK154 , kế toán ghi : Nợ TK 154 ( chi tiết liên quan ) Có TK 627 ( chi tiết liên quan ) Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2