intTypePromotion=1

LUẬN VĂN:Doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:91

0
169
lượt xem
32
download

LUẬN VĂN:Doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế tư nhân, trong đó bộ phận quan trọng là doanh nghiệp tư nhân đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp trong cả nước. Nhất là từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp (năm 1999) đến nay, số lượng doanh nghiệp tư nhân đã tăng rất nhanh. Doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp phần quan trọng trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN:Doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế tư nhân, trong đó bộ phận quan trọng là doanh nghiệp tư nhân đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp trong cả nước. Nhất là từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp (năm 1999) đến nay, số lượng doanh nghiệp tư nhân đã tăng rất nhanh. Doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp phần quan trọng trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách cho nhà nước… Tuy vậy, doanh nghiệp tư nhân hiện nay còn gặp nhiều hạn chế, yếu kém. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ tay nghề của lao động thấp, sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân yếu. Nhiều doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn về cơ chế chính sách, trong việc vay vốn, mở rộng mặt bằng sản xuất… Do đó, cần phải tạo điều kiện và giúp đỡ doanh nghiệp tư nhân phát triển. Thái Bình là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, do đó, có nhiều thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Thời gian qua, doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình đã thể hiện được vai trò to lớn của nó trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương: Doanh nghiệp tư nhân Thái Bình đã huy động được mọi nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh; tạo thêm việc làm; cải thiện đời sống nhân dân, đóng góp phần quan trọng cho nguồn thu nội địa của tỉnh; tạo được sự liên kết kinh tế giữa Thái Bình và các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển… Nhưng so với yêu cầu đặt ra, doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình còn gặp những hạn chế nhất định. Điều đó thể hiện trên những khía cạnh như: quy mô sản xuất của doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình còn nhỏ; công nghệ sản xuất lạc hậu, mặt bằng sản xuất chật hẹp, vốn ít; trình độ quản lý doanh nghiệp còn yếu kém, trình độ tay nghề của người lao động còn thấp; nhiều doanh nghiệp tư nhân hoạt động còn vi phạm luật pháp của nhà nước; gây ô nhiễm môi tr ường sinh thái… Do đó, cần phải có những giải pháp đồng bộ để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình phát triển đúng hướng và thúc đẩy kinh tế
  3. - xã hội của tỉnh phát triển. Vì vậy, đề tài: " Doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bỡnh hiện nay " được lựa chọn làm luận văn cao học là nhằm góp phần đáp ứng những yêu cầu đó. 2. Tình hình nghiên cứu Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế tư nhân và doanh nghiệp tư nhân. Đáng kể nhất trong số đó là: "Con đường nào cho kinh tế tư nhân Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế?" của TS. Vũ Thị Bạch Tuyết (Tạp chí Tài chính, số tháng 4- 2003). Trong công trình này, tác giả đã đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân trong thời gian qua. Từ đó công trình nêu lên một số đề xuất nhằm tháo gỡ những vướng mắc hiện nay cho khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm những đề xuất về đổi mới cơ chế chính sách, đổi mới từ phía các cơ quan quản lý của nhà nước và đổi mới từ phía khu vực kinh tế tư nhân. "Doanh nghiệp tư nhân và khả năng giải quyết việc làm qua một cuộc điều tra" của Đào Quang Vinh (Tạp chí Lao động và xã hội, số 190, năm 2002). Trong công trình này, tác giả đã đánh giá tổng quan về khả năng giải quyết việc làm của các doanh nghiệp tư nhân. Theo tác giả thì hiện có 90% số lao động đang làm việc tại khu vực kinh tế tư nhân, 57% số lao động được ký hợp đồng dài hạn. Tác giả cũng đã có những nghiên cứu về chủ doanh nghiệp tư nhân; về đặc điểm lao động - việc làm trong doanh nghiệp tư nhân; về tiền công và xu hướng tăng lao động trong doanh nghiệp tư nhân. "Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Quảng Bình: Thực trạng và một số đề xuất về c ông tác quản lý" của Đoàn Xuân Triếm (Tạp chí Tài chính, tháng 6/2002). Theo đánh giá của tác giả thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Quảng Bình đã có bước phát triển nhanh chóng, đóng góp cho ngân sách nhiều hơn, làm ăn có hiệu quả hơn, tham gia tốt vào 4 chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh. Tuy vậy, theo tác giả việc khuyến khích doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có những tồn tại, vướng mắc cần được quan tâm giải quyết như: Công tác cấp và đăng ký kinh doanh phân bổ chưa cân đối; công tác tài chính kế toán ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn nhiều bất cập; tình trạng trốn thuế còn nhiều, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để tăng cường công tác quản lý doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Quảng Bình có hiệu quả hơn. "Giải pháp nào để huy động có hiệu quả vốn của các doanh nghiệp tư nhân và dân c ư" của thạc sĩ Trần Đức Lộc (Tạp chí Tài chính, tháng 2/2004). Trong bài viết của mình, tác giả đã đánh giá những chính sách của Đảng và Nhà nước khuyến khích các doanh
  4. nghiệp ngoài quốc doanh phát triển như: Chính sách thuế, chính sách tài chính đối với kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ; chính sách về đất đai,… Tác giả cũng đã nêu lên những hạn chế về huy động vốn của các doanh nghiệp tư nhân và dân cư, từ đó nêu lên một số giải pháp khắc phục như: xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp về quyền và nghĩa vụ về tài chính; thực hiện khuyến khích đầu tư qua ưu đãi về thuế, tạo dựng môi trường tài chính bình đẳng, ổn định… đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, xóa bỏ các thủ tục, các khoản phí bất hợp lý… "Giải thể, phá sản và tạm ngừng hoạt động của doanh nghiệp tư nhân" của Nguyễn Trí Tuệ (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2002). Công trình này đề cập đến giải thể, phá sản và tạm ngừng hoạt động của doanh nghiệp tư nhân dưới góc độ luật học, đó là cơ sở để công tác quản lý doanh nghiệp tư nhân có hiệu quả hơn. "Khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc: Chính sách, quá trình phát triển và những trở ngại trước mắt" của Hạ Tiểu Lâm (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2, năm 2002). "Một số vấn đề về xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh" của Phạm Bá Nhiễu (Tạp chí Khoa học chính trị, số 4-2004). Trong công trình này, tác giả nêu lên sự cần thiết phải xây dựng các tổ chức chính trị trong doanh nghiệp tư nhân của Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả cũng đã đánh giá khái quát công tác xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp tư nhân. Từ đó nêu lên những vấn đề đặt ra trong xây dựng tổ chức chính trị ở các doanh nghiệp tư nhân như: vai trò của cấp ủy và bí thư cơ sở đảng ở doanh nghiệp tư nhân; vấn đề điều hành và bảo đảm hoạt động của cơ sở đảng ở doanh nghiệp tư nhân, vấn đề tạo nguồn và bồi dưỡng để phát triển đảng viên, củng cố hoặc thành lập ban chuyên trách công tác xây dựng lực lượng chính trị ngoài quốc doanh. "Tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước - sự lựa chọn cho vấn đề tài chính? Nghiên c ứu trường hợp một số nước ASEAN chủ yếu (ASEAN.5) " của thạc sĩ Nguyễn Huy Hoàng (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 3, 2002). Tác giả Nguyễn Huy Hoàng đã phân tích quá trình tư nhân hóa ở các nước ASEAN. Chỉ rõ kết quả của quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước là tăng nguồn vốn, giải quyết được tình trạng thiếu vốn trong nền kinh tế. Cuối cùng tác giả nêu lên một số kết luận và gợi ý cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. Theo tác giả thì giải pháp tốt nhất ở Việt Nam là "nhà
  5. nước quản lý các doanh nghiệp có điều tiết và kiểm soát cộng với thực thi một môi trường cạnh tranh lành mạnh". "Vai trò của Chính phủ trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước ASEAN" của TS. Nguyễn Hồng Nhung (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 3, 2003). Trong công trình này, tác giả đã phân tích chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các Chính phủ Malaixia, Singapo, Indonexia và Thái Lan. Trên cơ sở đó tác giả rút ra bốn nhận xét quan trọng trong các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước này, đó là: Hỗ trợ phải thường xuyên, toàn diện và rộng khắp thông qua kế hoạch, chương trình cụ thể; thu hút các cơ quan, các tổ chức, các bộ ngành liên quan; xác định nguyên nhân chủ yếu cần hỗ trợ và xây dựng quan hệ qua lại giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp cỡ lớn, các công ty nước ngoài để tạo mạng lưới sản xuất quy mô quốc gia, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò là vệ tinh. "Doanh nghiệp tư nhân đầu tiên ở Bình Thuận xuất khẩu trực tiếp trái thanh long" của Hà Thu Thủy (Tạp chí Nông thôn mới, số 80, 2002). "Môi trường tài chính và doanh nghiệp tư nhân" của Nguyễn Anh Đào (Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, năm 2003, số 3). "Mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp dân doanh" của Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu (Tạp chí Thuế nhà nước, tháng 4 năm 2005, số kỳ 1). "Một số nhân tố chi phối hành vi tiêu dùng của người dân đối với sản phẩm của c ác doanh nghiệp tư nhân" của Lê Hương (Tạp chí Tâm lý học, 4/2005, số 4). "Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong doanh nghiệp tư nhân" của Nguyễn Công Huyên (Tạp chí Xây dựng Đảng, năm 2004, số9). "Nhìn nhận của người dân về một số vấn đề liên quan đến doanh nghiệp tư nhân v à ảnh hưởng của nó đến đánh giá của họ về các chủ doanh nghiệp tư nhân" của Lê Hương (Tạp chí Tâm lý học, năm 2005, số5). "Tài chính với sự phát triển của khu vực tư nhân" của Nguyễn Thị Tâm (Tạp chí Tài chính năm 2002, số 7). "Việc thực hiện chính sách lao động trong các doanh nghiệp dân doanh ở thành phố Hồ Chí Minh" của Trần Anh Tuấn (Tạp chí Lao động và xã hội, năm 2002, số 192).
  6. "Về phát triển kinh tế dân doanh trong nông nghiệp" của Vũ Trọng Khải (Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2002, số 6). "Về đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh trong giai đoạn hiện nay" của Lê Tâm Minh (Tạp chí Thanh tra, năm 2003, số 8). "Để doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển đúng hướng" của Đàm Oanh (Báo Nhân dân ngày 16/3/2002, tr.2). "Định chế tài chính cho sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân: khía cạnh về lý thuyết" của Trương Quang Thông (Tạp chí Phát triển kinh tế, năm 2003, số 3). "Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với c ác doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội" của Nguyễn Thế Quang (Tạp chí Quản lý nhà nước, năm 2004, số 10)… Ngoài ra, có một số luận văn, luận án nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở các địa phương. Nhìn chung các công trình nói trên đã nghiên cứu về doanh nghiệp tư nhân ở những khía cạnh như: - Thực trạng doanh nghiệp tư nhân ở nước ta trong thời gian qua về: vốn, công nghệ, tạo việc làm, đóng góp vào ngân sách nhà nước… - Các cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý doanh nghiệp tư nhân. - Công tác xây dựng các tổ chức chính trị trong các doanh nghiệp tư nhân. - Kinh nghiệm của một số nước, một số địa phương về phát triển doanh nghiệp tư nhân. Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về doanh nghi ệp tư nhân ở n hững phạm vi khác nhau. Nh ưng chưa có côn g trình nào nghiên c ứu doanh nghiệp t ư nhân ở T hái Bình hiện nay một cách có hệ thống d ưới góc độ khoa học kinh tế c hính tr ị. Do đó, đ ề tài luận v ăn không trùng v ới các công trình khoa học đã được c ông bố. 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn * Mục đích:
  7. Luận văn phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng của doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình phát triển đúng hướng. * Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau: - Phân tích cơ sở lý luận về doanh nghiệp tư nhân. - Đánh giá thực trạng về doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Thái Bình. - Nêu lên một số quan điểm và giải pháp để nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay. * Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình từ năm 1990 đến nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c ứu - Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về kinh tế tư nhân và doanh nghiệp tư nhân. - Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử - lôgíc, thống kê, phương pháp chuyên gia… 5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn - Luận văn góp phần khái quát những vấn đề lý luận về doanh nghiệp tư nhân. - Đánh giá thực trạng của doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình trong thời gian tới. 6. ý nghĩa của luận văn Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập ở trường chính trị tỉnh; giúp các nhà quản lý ở tỉnh tham khảo trong việc hoạch định chính sách phát triển các thành phần kinh tế của địa phương. 7. Kết cấu của luận v ăn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu với 3 chương, 7 tiết. Chương 1 Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp t ư nhân
  8. 1.1. Sự hình thành doanh nghiệp t ư nhân 1.1.1. Sự hình thành doanh nghiệp t ư nhân ở nước ta Doanh nghiệp tư nhân là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân gắn liền với quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Do đó, sự vận động và phát triển của DNTN gắn liền với sự vận động và biến đổi của quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. ở nhiều nước, DNTN là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế, giải quyết việc làm, tăng cường khả năng xuất khẩu... ở Việt Nam, sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung và DNTN nói riêng mới thực sự bắt đầu từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới từ Đại hội VI năm 1986. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đ ảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Đại hội lần này đã chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm khi chỉ đạo về bố trí cơ cấu kinh tế, không thừa nhận tồn tại nhiều thành phần kinh tế; nhanh chóng xóa bỏ kinh tế tư nhân, thành lập kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách nóng vội, chủ quan. Điều đó đã làm triệt tiêu động lực phát triển của xã hội. Kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN vì thế cũng không phát triển được. Bước đột phá của Đại hội VI là chấp nhận và vận dụng nền kinh tế nhiều thành phần nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế. Từ đó, Đại hội đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân bao gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, tiểu thương, tư sản nhỏ. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội VII đã khẳng định rõ sự cần thiết phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Đảng ta khẳng định chủ trương phát triển các thành phần kinh tế, sắp xếp, củng cố, đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, đổi mới kinh tế tập thể. Tập trung c hỉ đạo khắc phục những cơ chế, chính sách, tâm lý xã hội đang c ản trở sự phát triển c ủa các thành phần kinh tế. Hội nghị cũng đã tập trung bàn các giải pháp phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đề ra một số chủ trương, biện pháp lớn để đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, cá thể, trong đó nhấn mạnh phát triển kinh tế hộ cá thể, t ư nhân trong nông nghiệp là một chính sách nhất quán, lâu dài của thời kỳ quá độ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đánh giá những thành tựu đã đạt được trong 10 năm đổi mới. Trong đó, đã nêu lên những thành tựu trong chiến lược phát triển kinh tế
  9. thị trường định hướng XHCN. Đại hội tiếp tục bổ sung, hoàn thiện những chủ trương, giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế nhiều thành phần. Trong đó nhấn mạnh vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân đối với sự phát triển của đất nước. Việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân là nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực quan trọng của xã hội để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN đã tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Nhằm phát huy vai trò của nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân [5, tr.96]. "Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài",... khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm" [5, tr.98]. Những chủ trương lớn về phát triển kinh tế tư nhân được Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX tiếp tục khẳng định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế [6, tr.57-58]. Cụ thể hóa những chủ trương chung của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của kinh tế tư nhân. Đặc biệt là sự ra đời của Luật doanh nghiệp (1999) đã tạo ra những cơ chế, chính sách thuận lợi để các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có DNTN phát triển nhanh chóng và đa dạng. Và kể từ 1/7/2006, Luật doanh nghiệp (thay thế các Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước trước đây) có hiệu lực sẽ là điều kiện thuận lợi để các loại hình doanh nghiệp phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần đẩy
  10. nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 1.1.2. Quan niệm về doanh nghiệp t ư nhân Có thể khẳng định những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra những hành lang pháp lý rất thuận lợi để DNTN phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực và quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, việc nhìn nhận DNTN cũng còn có những quan niệm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, các DNTN trong nước trong đó có cả các HTX nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Quan điểm này hiểu DNTN theo nghĩa rộng, bao quát cả khu vực HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp. Điều này phản ánh tiềm năng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của DNTN khác hẳn với HTX. Trên thực tế mức đóng góp của kinh tế HTX hiện nay còn thấp hơn nhiều so với các DNTN. Do đó việc đánh giá vai trò của DNTN còn khó khăn. Quan điểm khác cho rằng, DNTN là những doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Quan điểm này xem xét DNTN bao gồm những doanh nghiệp không thuộc sở hữu vốn nhà nước. Đó là những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quan điểm này hiểu DNTN bao gồm các loại hình doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước. Theo Luật doanh nghiệp năm 1999 thì "DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp" (Điều 99) [1, tr.72]. Nhưng về quan hệ sở hữu và nghiên cứu dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị thì DNTN là các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nếu xét theo loại hình doanh nghiệp thì KTTN ở nước ta theo luật doanh nghiệp gồm: - Công ty trách nhiệm hữu hạn (có 2 thành viên trở lên). - Công ty cổ phần. - Công ty hợp danh. - Doanh nghiệp tư nhân. Nếu xét theo nội dung kinh doanh thì DNTN kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực mà luật pháp không cấm, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù có hình thức
  11. sở hữu tư nhân, nhưng theo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX được ấn định là một thành phần kinh tế riêng. Do quá trình thực hiện có nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra cần điều chỉnh, bổ sung, Luật doanh nghiệp năm 2005 (có hiệu lực từ 1/7/2006), điều 141 quy định: "1 - DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. 2- DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. 3- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân" [18, tr.162]. Như vậy, quan niệm và phát triển nhận thức về DNTN là một quá trình phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn. Theo chúng tôi, quan niệm về DNTN trong luật doanh nghiệp có hiệu lực từ 7-2006 là phù hợp với tình hình hiện nay. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, luôn biến đổi, trong giới hạn nhất định, quan niệm như vậy là tương đối phù hợp. Theo khái niệm trên, DNTN có những đặc trưng cơ bản sau: DNTN do một cá nhân làm chủ. Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh, tuyển dụng lao động; tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, DNTN phát huy được năng lực sáng tạo của chủ doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chủ doanh nghiệp là người lao động chính có thể tự quản lý doanh nghiệp của mình hoặc cũng có thể thuê người khác quản lý, điều hành doanh nghiệp. Điều này là do nhận thức mới về sở hữu trong đó quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh có thể thống nhất trong một chủ thể hoặc có sự tách biệt t ương đối giữa các chủ thể khác nhau. Do đó, một mặt vừa khai thác có hiệu quả của nguồn vốn vừa phát huy n ăng lực sáng tạo c ủa nhiều nhà quản lý sản xuất kinh doanh, là hoàn toàn phù hợp với tình hình nước ta hiện nay khi nhiều người có trình độ quản lý giỏi nhưng không có điều kiện để tự thành lập doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định quy mô, ph ương thức hoạt động quản lý kinh doanh cũng như sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn, có nghĩa là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với DNTN, việc tách biệt giữa tài sản doanh nghiệp với tài sản của
  12. gia đình chủ doanh nghiệp là rất khó khăn. Vì vậy, khi có xảy ra những tranh chấp kinh tế hoặc phát sinh các quan hệ khác thường rất khó giải quyết. Cũng chính điều này mà DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, điều này sẽ khó khăn khi thị trường chứng khoán phát triển, đòi hỏi một lực lượng hàng hóa giao dịch lớn thì DNTN chưa thể tham gia vào thị trường này. 1.1.3. Đ ặc điểm hoạt động của doanh nghiệp tư nhân ở nước ta Với quan điểm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển nhằm giải phóng sức sản xuất, khai thác các tiềm năng, thế mạnh, do đó việc thành lập DNTN ở nước ta hiện nay khá dễ dàng. Từ ý tưởng thành lập doanh nghiệp đến khi DNTN ra đời chỉ trong thời gian ngắn. Điều này có thể tiết kiệm được những khoản chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp và sự ra đời của DNTN xuất phát từ thực tế cuộc sống theo nguyên tắc "ở đâu có cầu thì ở đó có cung". Vì vậy, nếu có một cơ chế chính sách phù hợp, đầy đủ, mềm dẻo từ phía cơ quan quản lý nhà nước sẽ tạo điều kiện để DNTN phát triển nhanh chóng. Đồng thời, sự hình thành DNTN một cách dễ dàng, nhanh chóng cũng cho thấy các cơ quan quản lý nhà nước không thể dùng mệnh lệnh hành chính để ngăn ngừa, cấm đoán hoặc dùng các biện pháp khác để hạn chế sự phát triển của DNTN. Tuy nhiên, nếu không quản lý tốt sẽ dẫn tới sự hình thành bừa bãi của các DNTN gây lãng phí cho nhà nước, xã hội và các mặt trái của nó như buôn bán hóa đơn, làm hàng giả, lừa đảo người lao động. Hiện nay ở nước ta các DNTN được thành lập phần nhiều là các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, các doanh nghiệp sản xuất ít, điều đó phản ánh năng lực sản xuất còn hạn chế của khu vực này. DNTN ra đời, phát triển hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan trong thời kỳ quá độ lên CHXH. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, DNTN ra đời vận động và phát triển chịu sự chi phối của các quy luật của nền kinh tế thị tr ường. Sự quản lý, điều tiết của cơ quan quản lý nhà nước cũng phải dựa trên sự vận động khách quan của kinh tế thị trường. Nghĩa là nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, do đó so với doanh nghiệp quốc doanh, DNTN dễ dàng thích ứng với những biến động của thị trường. Chủ DNTN có thể ra quyết định nhanh chóng trong việc điều chỉnh các hành vi kinh tế của mình mà không phải chịu sự ràng buộc nào. Điều này sẽ làm cho
  13. DNTN dễ đạt được những mục đích đề ra trong sản xuất kinh doanh. DNTN do một cá nhân làm chủ, vì vậy việc lựa chọn hình thức, quy mô sản xuất kinh doanh cũng hết sức linh hoạt. Chủ doanh nghiệp có thể chủ động lựa chọn các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, khoa học - công nghệ... phù hợp với năng lực của mình. Việc sử dụng các nguồn lực một cách linh hoạt sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế tối đa. Dù có trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp hay thuê người quản lý thì DNTN tìm mọi cách để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình. Nhất là trong việc sử dụng nguồn nhân lực với chế độ trả lương hợp lý. DNTN có thể thu hút được nguồn lao động có chất lượng. Ngược lại, đối với những lao động chất lượng kém thì chủ DNTN có toàn quyền sa thải. Những mức lương do DNTN áp dụng về cơ bản do thị trường lao động tự điều tiết trong khuôn khổ của Bộ luật lao động. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, DNTN dễ dàng lựa chọn những công nghệ sản xuất tối ưu, phù hợp với khả năng đầu tư của doanh nghiệp, vừa có khả năng tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Khi có sự biến động về thị trường hoặc khi có sự xuất hiện của máy móc, thiết bị mới, doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh việc chuyển giao công nghệ sản xuất một cách nhanh chóng. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp dự báo được những khả năng sẽ xảy ra và kịp thời điều chỉnh chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh. ở nước ta, các DNTN hầu hết có quy mô vừa và nhỏ, sử dụng ít lao động, dây chuyền thiết bị sản xuất giản đơn. Các doanh nghiệp loại này dễ dàng tiếp cận với các nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước. Do đó, các DNTN tổ chức sản xuất thường gọn nhẹ, chủ doanh nghiệp có thể phát huy tính năng động, sáng tạo của mình một cách tốt nhất. DNTN vì thế càng dễ dàng thay đổi nhanh chóng mặt hàng và chiến lược kinh doanh của mình. Các DNTN có khả năng đáp ứng mọi biến đổi nhanh chóng, đa dạng, phong phú của thị trường. Từ đó cho thấy, hệ thống DNTN ở nước ta có tác động tích cực đến nền kinh tế, làm cho nền kinh tế thị trường trở nên năng động, có hiệu quả. Hiện nay, với quy mô chủ yếu là vừa và nhỏ, những DNTN ở n ước ta có xu hướng vận động vừa cạnh tranh với nhau vừa tạo khả năng liên kết chặt chẽ với nhau. Trong quá trình đó buộc các DNTN phải tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn. Đó là cơ sở để hình thành các DNTN lớn có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước đối với tác động của quá trình toàn cầu hóa.
  14. Sự phát triển mạnh mẽ của các DNTN góp phần tạo nên một môi trường kinh tế có sức cạnh tranh cao, có tác động tích cực trong việc chống lại những xu thế độc quyền trong kinh doanh, khắc phục được những yếu tố gây cản trở, trì trệ cho nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, sự phát triển của các DNTN bên cạnh các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác, nhất là những doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo ra một sức ép buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, khi có sự tham gia của DNTN, khách hàng có điều kiện lựa c họn hàng hóa, dịch vụ cho mình dễ dàng hơn. Bằng cách đó, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải cạnh tranh với nhau để tìm chỗ đứng trên thị tr ường. Vì vậy, xu thế độc quyền trong kinh doanh sẽ bị hạn chế. Những đặc điểm trên chứng tỏ DNTN có nhiều ưu thế. Chính vì vậy, Nhà nước ta chủ trương khuyến khích các DNTN phát huy ở những ngành nghề mà pháp luật không cấm là hoàn toàn đúng đắn, không những phù hợp với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế thị trường hiện nay mà còn đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với từng bước xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Mặc dù có những mặt tích cực nhưng trong quá trình phát triển, DNTN cũng bộc lộ những mặt hạn chế nhất định, đó là: - Mục tiêu chính của DNTN là theo đuổi lợi nhuận tối đa. Các chủ DNTN thường chú ý đầu tư vào những ngành có điều kiện thuận lợi, chi phí thấp và mang lại nhiều lợi nhuận. Chính vì vậy, sự phát triển của DNTN cũng chứa đựng nhiều nhân tố tiềm ẩn dẫn đến tình trạng vô chính phủ trong sản xuất kinh doanh. Các DNTN thường do mục tiêu lợi nhuận chi phối, do đó dẫn đến tình trạng kinh doanh chồng chéo, làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, mất cân đối giữa cung và cầu, đồng thời, gây ra lãng phí nguồn lực xã hội. - Sự phát triển của DNTN cũng chứa đựng những nhân tố gây ra tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, các DNTN có những điều kiện kinh tế kỹ thuật khác nhau, do đó dẫn đến tình trạng một bộ phận có khả năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh, giảm được chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm hạ sẽ có thu nhập cao hơn. Bên cạnh đó, một bộ phận khác trong xã hội lại hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh yếu kém, cộng với những rủi ro khách quan trong nền kinh tế tác động vào sẽ gây khó khăn trong quá
  15. trình cạnh tranh với các DNTN khác. Điều đó dẫn đến khả năng phân hóa giàu nghèo là không tránh khỏi. Chính vì vậy, vai trò điều tiết của nhà nước đối với DNTN nói riêng và nền kinh tế nói chung để vừa đảm bảo những cấn đối chung, vừa đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội là cần thiết. - DNTN có thể chạy theo mục tiêu lợi nhuận tối đa mà dễ dẫn đến vi phạm pháp luật và đi ngược lại truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc như: nạn làm hàng giả, trốn và lậu thuế, đầu cơ tích trữ, nâng giá, ép giá, gây ô nhiễm môi trường sinh thái... Những vấn đề đó sẽ gây nên sự rối loạn trong nền kinh tế, gây khó khăn cho việc ổn định kinh tế vĩ mô và làm thất thu cho ngân sách nhà nước. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh nhiều DNTN làm ăn chân chính, đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế thì cũng có những DNTN lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, móc nối với những cán bộ thoái hóa của Nhà nước, thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh mờ ám, làm ăn bất chính, gây ra nạn tham ô, lãng phí trong các cơ quan quản lý nhà nước, cản trở sự phát triển của xã hội. Như vậy, phát triển DNTN một mặt phải khai thác những ưu thế của nó để huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, phải có sự quản lý của Nhà nước để hạn chế những nhược điểm của DNTN trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, sự quản lý của Nhà nước phải được thực hiện trên cơ sở tạo ra hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ. Đồng thời, sử dụng tổng hợp các công cụ quản lý kinh tế và thực lực kinh tế để điều tiết, quản lý DNTN. Nhà nước tạo điều kiện cho các DNTN tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm mục tiêu cơ bản là phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. 1.1.4. Vai trò c ủa doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế nước ta Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, các DNTN ở nước ta đã đóng góp phần tích cực và quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. DNTN đã đóng vai trò to lớn trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, tay nghề truyền thống... DNTN cũng góp phần to lớn trong việc tăng cường khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Về cơ bản, vai trò của DNTN thể hiện:
  16. 1.1.4.1. Doanh nghiệp tư nhân tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống nhân dân Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. ở Việt Nam, lực lượng lao động dồi dào hàng năm có thêm khoảng 1,2 - 1,4 triệu lao động. Từ năm 2000 đến 2005, cả nước đã tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động. Bên cạnh đó, số lao động khu vực nông thôn có nhiều cần chuyển sang làm việc các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng đáng kể. Giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động mỗi năm đang là một áp lực lớn đối với nền kinh tế. Đây là nhiệm vụ của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế trong đó có vai trò tích cực của DNTN. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của DNTN đã thu hút một lực lượng lao động lớn của xã hội. Theo thống kê năm 2000 tổng số lao động làm việc trong các DNTN thuộc mọi thành phần kinh tế là 3.356.998 lao động. Trong đó lao động làm việc trong các DNTN là 236.253 người, chiếm 6,68%. Năm 2001 lao động làm việc tại các DNTN là 277.562 người, chiếm 7,06%. Năm 2002 số lao động làm việc trong DNTN tăng đáng kể với tổng số là 339.638 người, chiếm 7,29%. Như vậy, từ năm 2000 - 2002, các DNTN đã tạo thêm được việc làm cho 103.385 người. Điều này là do tác động của Luật doanh nghiệp đã làm cho số lượng DNTN và số lượng các văn phòng, chi nhánh của DNTN tăng lên. Mặt khác, do một số DNTN mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nên nhu cầu về lao động của những doanh nghiệp này cũng tăng đáng kể. Đến năm 2004, số lao động việc làm trực tiếp trong các DNTN đã gần bằng tổng số lao động trong các DNNN, giải quyết khoảng 1,6 đến 2 triệu việc làm. Riêng số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 96% tổng số doanh nghiệp ngoài nhà nước đã thu hút 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, khoảng 25-26% lực lượng lao động cả nước. Các DNTN không chỉ tạo ra công ăn việc làm mới cho người lao động mà còn góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế, nhất là thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở vùng nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động [19, tr.121-122]. Các DNTN còn có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động. Bộ phận lớn lao động trước khi vào làm việc tại cơ sở tư nhân là những lao động phổ thông, tay nghề thấp, chưa quen với tác phong lao động công nghiệp, còn mang nặng tư duy sản xuất tự cung, tự cấp, chưa quen với cơ chế thị trường. Chính vì vậy DNTN phải đào tạo, hướng dẫn họ. Hình thức đào tạo cũng hết sức phong phú, đa dạng. Nhiều DNTN liên kết, phối hợp với các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho
  17. người lao động "theo địa chỉ". Một số DNTN tự xây dựng các xưởng đào tạo nghề, hoặc giao cho những người có tay nghề cao kèm cặp, hướng dẫn những người có tay nghề thấp... Hình thức đào tạo như vậy vừa phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và người lao động vừa mang lại hiệu quả thiết thực. 1.1.4.2. Các doanh nghiệp tư nhân đóng góp ngày càng lớn cho GDP của cả nước Chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi để phát huy mọi nguồn lực trong xã hội. Đặc biệt từ khi Luật doanh nghiệp (1999) ra đời (có hiệu lực năm 2000), số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh tăng đáng kể. Trong đó có phần nhiều DNTN. Với số lượng DNTN ngày càng đông đảo đã tạo ra một khối lượng hàng hóa, dịch vụ hết sức phong phú, đóng góp đáng kể cho GDP của cả n ước. Năm 1995, khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN đã đóng góp vào GDP là 136.915 tỉ đồng. Năm 2003 đóng góp c ủa khu vực này đạt 605.586 tỉ đồng. Tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế tư nhân bao gồm cả DNTN tăng đáng kể. N ăm 1995, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 59,82% vào GDP c ủa cả nước. Số lượng tương ứng của năm 2000 là 60,47%; năm 2001 là 61,60%, năm 2002 là 61,62%. Năm 2003 chiếm 60,9%. Năm 2005, riêng khối DNTN đóng góp 37,7% GDP [19, tr.124- 125]. Sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong đó có DNTN ngày càng tăng chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh nước ta đã cải thiện đáng kể. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNTN trở nên có hiệu quả. Năng lực về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý của DNTN được nâng lên. Đội ngũ doanh nghiệp dần trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, thích ứng với cơ chế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. DNTN là lực lượng quan trọng góp phần lớn vào ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn 1996-1998, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp khoảng 1/6 nguồn thu ngân sách nhà nước. Ngoài việc đóng góp vào ngân sách nhà nước các DNTN còn đóng góp một phần không nhỏ thông qua các tổ chức hoạt động từ thiện, giúp đỡ các gia đình chính sách, đóng góp cho các địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tôn tạo, cải tạo công trình văn hóa... 1.1.4.3. Phát triển doanh nghiệp tư nhân là điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu
  18. tư trong xã hội Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thuận lợi, số lượng DNTN gia tăng, quy mô của DNTN được mở rộng thì số vốn được huy động trong các tầng lớp nhân dân càng lớn. Cùng với những nguồn vốn bằng tiền, những tài sản cố định như đất đai, nhà cửa, phương tiện, công cụ sản xuất trong dân cư cũng được huy động ngày càng nhiều cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt là từ khi Luật doanh nghiệp được thực thi vào năm 2000 số lượng vốn của DNTN được tăng lên đáng kể. Năm 2000 vốn đầu tư của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh (không kể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) là 34.593,7 tỉ đồng. Năm 2001 là 38.512,0 tỉ đồng chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Năm 2002 số vốn đầu tư của DNTN là 52.111,8 tỉ đồng chiếm 26,5% [19, tr.115-116]. Tỷ trọng đầu tư của các DNTN trong nước cũng tăng liên tục trong thời gian gần đây và có xu hướng vượt tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Khi Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư (có hiệu lực từ 1-7-2006) đi vào cuộc sống, dự báo nguồn vốn trong các DNTN sẽ tăng lên. Mặt khác quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO, thị trường trong nước và quốc tế mở rộng sẽ tạo nên động lực mạnh mẽ để các DNTN mở rộng quy mô vốn đầu tư sản xuất kinh doanh. 1.1.4.4. Doanh nghiệp tư nhân góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra sự liên kết kinh tế giữa các vùng, làm c ho nền kinh tế trở nên năng động, hiệu quả Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tiến bộ, phù hợp với xu thế vận động khách quan của nền kinh tế thế giới và trong nước, khai thác có hiệu quả các nguồn lực xã hội. Giai đoạn 1990 - 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%, GDP năm 2000 gấp 2 lần so với năm 1990. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Từ năm 1988 đến nay tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng nhanh và liên tục (năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8 năm 2003 là 40% năm 2005 là 41%). Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm 1988 là 46,3% năm 2003 còn 21,8% năm 2005 là
  19. 20,5%. Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,2% năm 2003 và 38,5% năm 2005 [7, tr.73]. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm, tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ lao động qua đào tạo ngày càng tăng. Năm 1990 lao động nông - lâm ngư nghiệp chiếm 73,02% tổng lao động toàn xã hội, năm 2004 còn 58% năm 2005 còn 57%. Lao động trong công nghiệp và xây dựng gần 18% và trong dịch vụ là 25% [7, tr.74]. Đã hình thành được những vùng kinh tế, khu vực kinh tế trọng điểm, có sự chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh và quan tâm hỗ trợ các vùng còn nhiều khó khăn. Ba vùng kinh tế trọng điểm đã phát triển với tốc độ cao hơn mức hàng năm của cả nước chiếm hơn 60% GDP. Các vùng kinh tế còn khó khăn đang từng bước vươn lên... Nền kinh tế chuyển từ trạng thái đóng cửa, khép kín, sang nền kinh tế mở cửa, hội nhập với thị trường quốc tế. Đồng thời có sự chuyển dịch từ trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp sang nền kinh tế ngày càng ứng dụng rộng rãi những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao. Sản phẩm tạo ra phong phú, đa dạng, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế trên thị trường. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động có vai trò rất lớn của các DNTN. Bởi vì, DNTN có khả năng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ làm cho tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên. DNTN có khả năng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, làm cho trình độ sản xuất của nền kinh tế được nâng cao. Điều đó càng làm cho số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nước có khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhiều DNTN đóng vai trò tích cực trong việc xuất khẩu hàng hóa. Một số sản phẩm hàng hóa chất lượng cao như hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ tinh chế, nông sản, thủy sản, linh kiện máy móc... đều do các DNTN sản xuất. Chính vì vậy khu vực kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế đóng cửa, khép kín, sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là quy luật khách quan và là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển. Khi có sự tham gia của các DNTN môi trường cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Do đó DNTN góp phần làm cho nền kinh tế thị trường năng động hơn, hiệu quả hơn. Bởi vì quá trình cạnh tranh buộc các DNTN phải không ngừng đổi mới
  20. công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động, đổi mới cách thức tổ chức quản lý doanh nghiệp. Đồng thời quá trình cạnh tranh đó buộc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là DNNN cũng phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Sự phát triển đa dạng và phong phú của các DNTN trong các ngành kinh tế tạo ra khả năng liên kết với nhau, từ đó tạo ra sự liên kết giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNTN đòi hỏi thị trường về tư liệu sản xuất, thị trường lao động, thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa mở rộng vượt ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động của mình. Các DNTN vì thế vươn ra với thị trường rộng lớn bên ngoài. Quá trình đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các DNTN với nhau, giữa doanh nghiệp vùng này với doanh nghiệp vùng khác và doanh nghiệp các thành phần kinh tế khác, nhất là liên kết với các DNNN. 1.1.4.5. Doanh nghiệp tư nhân tạo ra khả năng khai thác có hiệu quả các nguồn lực, giữ gìn và phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương DNTN không chỉ huy động có hiệu quả nguồn vốn trong xã hội mà còn huy động các nguồn lực khác của đất nước. Trước hết khối doanh nghiệp này khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai, mặt nước, diện tích rừng, khoáng sản... ở các địa phương. Đây là những tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Khi Nhà nước giao cho các tổ chức cá nhân trong đó có DNTN phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì các nguồn lực này sẽ phát huy được tác dụng của nó. Nhờ có sự phát triển c ủa DNTN, kinh tế trang tr ại trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản phát triển nhanh chóng, tạo ra khối l ượng sản phẩm hàng hóa phong phú, ph ục vụ tiêu dùng trong n ước và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Hiện nay cả n ước có hàng chục ngàn trang trại nông - lâm - thủy sản. Các trang tr ại này đã khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, mặt nước, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã làm cho n ền nông nghiệp về c ơ bản chuyển sang nền sản xu ất hàng hóa, những vùng sản xuất hàng hóa được hình thành, tỷ trọng sản phẩm hàng hóa ngày càng cao, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn đư ợc tăng cường. Những kết quả đó có va i trò rất lớn của DNTN.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2