intTypePromotion=1

Luận văn: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ PROTEIN TRÊN NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU SO VỚI LYSINE TRONG THỨC ĂN HỖN HỢ P CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA

Chia sẻ: Carol123 Carol123 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:92

0
82
lượt xem
15
download

Luận văn: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ PROTEIN TRÊN NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU SO VỚI LYSINE TRONG THỨC ĂN HỖN HỢ P CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc, ngành chăn nuôi gia súc đã có nhiều tiến bộ vƣợt bậc cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng. Giá trị sản lƣợng của ngành chăn nuôi tăng (giá cố định năm 1994) tƣ̀ 11.651 tỷ đồng năm 1992 lên đến 21.199,7 tỷ đồng năm 2002 và đến cuối năm 2007 đạt 29.200 tỷ đồng. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, ngành công nghiệp sản xuất thƣ́c ăn gia súc đã có nhƣ̃ng tiến bộ đáng kể. Sản xuất thức ăn công...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ PROTEIN TRÊN NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU SO VỚI LYSINE TRONG THỨC ĂN HỖN HỢ P CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA

  1. ĐẠI HỌC TH ÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -------------- TẠ VĂN DŨNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ PROTEIN TRÊN NĂNG LƢỢNG TRAO ĐỔI CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU SO VỚI LYSINE TRONG THỨC ĂN HỖN HỢ P CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thái Nguyên, năm 2008
  2. Đ ẠI H ỌC TH ÁI NGUY ÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -------------- TẠ VĂN DŨNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ PROTEIN TRÊN NĂNG LƢỢNG TRAO ĐỔI CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU SO VỚI LYSINE TRONG THỨC ĂN HỖN HỢ P CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA Chuyên ngành : Chăn nuôi Mã số : 60-62-40 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Liên PGS.TS Trần Văn Phùng Thái Nguyên, năm 2008
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả Tạ Văn Dũng
  4. 3 LỜI CÁM ƠN Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: - TS. Nguyễn Thị Liên, PGS.TS. Trần Văn Phùng, những người hướng dẫn khoa học trực tiếp đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng từ những bước nghiên cứu ban đầu và cả trong quá trình thực hiện viết luận văn. - Ban lãnh đạo Phòng thí nghiệm trung tâm- Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học được thuận lợi. - Tập thể các thầy cô giáo và sinh viên Khoa Chăn nuôi Thú y, Khoa sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, sinh viên thực tập của Trường trung học Kinh tế kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tác giả hoàn thành luận văn này. - Cảm ơn các nhà Khoa học trong ngành, các đồng nghiệp, lãnh đạo và cán bộ của Công ty giống vật tư nông nghiệp, Dự án RIDP, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình công tác và học tập. Tác giả Tạ Văn Dũng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. 4 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Cs : Cộng sự ĐVT: Đơn vị tính ĐC: Đối chứng IFAD: Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế KL: Khối lƣợng ME: Năng lƣợng trao đổi NL: Năng lƣợng TĂ: Thức ăn TN: Thí nghiệm TTTA: Tiêu tốn thức ăn FAO : Tổ chức Lƣơng nông Thế giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. 5 MỞ ĐẦU Trong thời gian qua, cùng với sự phát triể n cua nên kinh tê đât nƣơc , ̉ ̀ ́́ ́ ngành chăn nuôi gia súc đã có nhiều tiến bộ vƣợt bậc cả về số lƣợng lẫn chất lƣơng. Giá trị sản lƣợng của ngành chăn nuôi tăng ̣ (giá cố định năm 1994) tƣ ̀ 11.651 tỷ đồng năm 1992 lên đên 21.199,7 tỷ đồng năm 2002 và đến cuối năm ́ 2007 đạt 29.200 tỷ đồng. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi , ngành công nghiêp san xuât thƣc ăn gia suc đa co nhƣng tiên bô đang kê . Sản xuất thức ̣ ̉ ́ ́ ́ ̃́ ̃ ́ ̣́ ̉ ăn công nghiêp tăng ca vê sô lƣơng tuy ệt đối cũng nhƣ tƣơng đối so với tổng số ̣ ̉̀́ ̣ thƣc ăn gia suc tiêu thu . Chỉ tính riêng trong khoang tƣ năm 1990 đến nay, sản ́ ́ ̣ ̉ ̀ lƣơng thƣc ăn công ng hiêp tăng tƣ 0,04 triêu tân v ào năm 1990 tăng lên 1,05 ̣ ́ ̣ ̀ ̣́ triêu tân vào năm 1996, năm 2000 tăng lên đên 2,7 triêu tân ; đạt 3,5 triêu tân ̣́ ́ ̣́ ̣́ trong năm 2003 và đến cuối năm 2007 đạt sản lƣợng là 4,4 triệu tấn và có xu hƣơng cang ngay cang tăng. ́ ̀ ̀ ̀ Có đƣợc những thành tựu đó là nhờ chính sác h mơ cƣa cua Đang va Nha ̉̉ ̉ ̉ ̀ ̀ nƣớc ta cùng sƣ cô găng n ỗ lực của các doanh nghiệp , trong đó có đong gop ̣́́ ́ ́ không nho cua cac nha khoa hoc vê dinh dƣơng thƣc ăn gia suc ̉̉ ́ ̀ ̣ ̀ ̃ ́ ́ . Trong những năm gân đây , tình hình nghiên cứu và phát triển chăn n uôi va đăc biêt la trong ̀ ̣̀ ̣̀ lĩnh vƣc th ức ăn gia súc đã có nhiều tiến bộ rõ rệt . Nhƣng tiên bô trong lĩ nh vƣc ̣ ̃ ́ ̣ ̣ nghiên cƣu vê dinh dƣơng thƣc ăn gia suc đa gop phân cai thiên năng suât va ́ ̀ ̃ ́ ́ ̃́ ̀ ̉ ̣ ́̀ chât lƣơng san phâm chăn nuôi đap ƣng nhu câu ngay cang tăng cua xa hôi ́ ̣ ̉ ̉ ́́ ̀ ̀ ̀ ̉ ̣̃ và hƣơng tơi xuât khâu . Các nghiên cứu trong lĩnh vực dinh dƣỡng và thức ăn gia ́ ́ ́ ̉ súc trong những năm qua tâp trung vao: ̣ ̀ - Xác định thành phần hoá học gần đúng của các loại nguyên liệu làm thƣc ăn cho gia suc , gia câm . Xác đị nh thanh phân cac axit amin cung nhƣ cac ́ ́ ̀ ̀ ̀ ́ ̃ ́ phƣơng phap ƣơc tí nh gia trị năng lƣơng tiêu hoa, trao đôi cho lơn, gà. ́ ́ ́ ̣ ́ ̉ ̣ - Nghiên cƣu xac đị nh ty lê tiêu hoa va kha năng t hoa cac chât dinh dƣơng ́ ́ ̣̉ ́̀ ̉ iêu ́ ́ ́ ̃. - Nghiên cƣu xac đị nh nhu câu các chất dinh dƣỡng : năng lƣơng , protein, ́ ́ ̀ ̣ axít amin cho các loại gia suc , gia câm khac nhau ; xác định nhu cầu các axít ́ ̀ ́ amin và xem xet môi quan hê vơi nhu câu năng lƣơng. ́ ́ ̣́ ̀ ̣ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. 6 - Nghiên cƣu vê chê biên nguyên liêu đê tăng kha năng t iêu hoa cua thƣc ́ ̀ ́́ ̣ ̉ ̉ ́̉ ́ ăn, tân dung cac phu phê phâm đê ha gia thanh thƣc ăn chăn nuôi cung nhƣ loai ̣ ̣ ́ ̣ ́ ̉ ̣̉́̀ ́ ̃ ̣ trƣ cac đôc tô, kháng dinh dƣỡng trong các loại thức ăn gia súc, gia câm. ̀́ ̣́ ̀ Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, việc nghiên cứu về dinh d ƣỡng và thức ăn cho lợn con có một vai trò hết sức quan trọng, đây là một trong nhiều yếu tố quyết định năng suất chăn nuôi lợn nái sinh sản. Chúng ta biết rằng, quá trình sinh trƣởng và phát triển của của lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 5 - 15 kg đòi hỏi đầy đủ về nhu cầu dinh dƣỡng đặc biệt là protein. Về thực chất, nhu cầu protein của lợn con chính là nhu cầu về các axit amin. Nếu bổ sung không đầy đủ các axit amin thiết yếu cho lợn con về số lƣợng và tỷ lệ sẽ ảnh hƣởng xấu đến sinh trƣởng của lợn con, lợn chậm lớn, còi cọc, ảnh hƣởng đến khả năng sản xuất của các giai đoạn tiếp theo. Mặt khác nếu trong khẩu phần ăn cho lợn con trong giai đoạn này có đủ hoặc dƣ thừa lƣợng protein mà không đủ về số lƣợng và tỷ lệ các axit amin thiết yếu sẽ dẫn đến việc đào thải protein ra môi trƣờng, gây lãng phí thức ăn và ảnh hƣởng đến môi trƣờng sinh sống của cả gia súc lẫn con ngƣời. Việc nghiên cứu xác định tỷ lệ protein trên năng lƣợng trao đổi có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt khi ta có bổ sung các loại axit amin tổng hợp vào khẩu phần thức ăn cho lợn. Ta biết rằng nhu cầu năng lƣợng của lợn thịt gồm hai phần là năng lƣợng cho nhu cầu duy trì và năng lƣợng cho nhu cầu tăng trọng . Việc tăng năng lƣợng trong thức ăn không có ý nghĩa nếu tỷ lệ protein (g)/ năng lƣợng (Kcal) vƣợt quá 1/20 ( Từ Quang Hiển, 2002) [2]. Tỷ lệ protein trên năng lƣợng trao đổi không hợp lý dẫn đến lãng phí protein, lợn không tiêu thụ hết, giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Thông thƣờng khi tính toán nhu cầu về protein trong thức ăn cho l ợn con giai đoạn sau cai sữa có khối lƣợng cơ thể từ 5 - 15 kg, các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên nói riêng và các tỉnh miền núi nói chung thƣờng chỉ tính đến lƣợng protein mà ít khi đề cập đến lƣợng axit amin. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. 7 Do đó, chƣa phát huy hết khả năng sinh trƣởng của lợn con và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái sinh sản. Mặt khác các số liệu để áp dụng cân đối khẩu phần dinh dƣỡng cho lợn con thƣờng là kế thừa từ việc phân tích các nguyên liệu ở nơi khác, cho nên còn nhiều điểm chƣa phù hợp. Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tà i: " Nghiên cứu xác định tỷ lệ protein trên năng lƣợng trao đổi có bổ sung một số axit amin thiết yếu và tỷ lệ một số axit amin thiết yếu so với lysine trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa”. Với mục tiêu là: - Xác định tỷ lệ protein trên năng lƣợng trao đổi có bổ sung một số axit amin thiết yếu và tỷ lệ một số axit amin thiết yếu so với lysine trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 5 - 15 kg. - Xây dựng một số công thức thức ăn cho lợn con giai đoạn sau cai sữa (5 - 15 kg) để áp dụng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản tại tỉnh Tuyên Quang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam : 1.1.1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới Do nhu cầu tiêu thụ các loại thực phẩm từ lợn tăng, nên chăn nuôi lợn trên thế giới phát triển nhanh chóng. Nhóm các nƣớc xuất khẩu nhiều thịt lợn nhất thế giới bao gồm các nƣớc Đan Mạch, Canada, Ba Lan, Trung Quốc, các nƣớc nhƣ Nhật Bản, Nga, Hồng Kông, Hàn Quốc là những nƣớc nhập khẩu nhiều thịt lợn, Mỹ thuộc cả hai nhóm này. Theo thống kê năm 1999 của Tổ chức Lƣơng Nông thế giới (FAO), tổng đàn lợn trên thế giới năm 1991 là 857,891 triệu con, đến năm 1998 số lƣợng lợn là 957,469 triệu con, năm 2002 là 943,471 triệu con và năm 2003 là 956,016 triệu con. Trong đó đàn lợn phân bố không đồng đều giữa các châu lục: Châu á có số lƣợng đầu lợn cao nhất : 577,025 triệu con, kế đến là châu Âu: 199,254 triệu con, Bắc và Trung Mỹ là 94,074 triệu con, Nam Mỹ là 59,075 triệu con, châu Phi: 22,398 triệu con, ít nhất là châu Đại dƣơng: 5,016 triệu con. Nƣớc có đàn lợn cao nhất là Trung Quốc: 485,698 triệu con. Trong vòng 10 năm (1985-1995), tốc độ tăng đàn lợn hàng năm trên toàn thế giới là 1,1%. Trong đó tăng nhanh chủ yếu ở các nƣớc đang phát triển, châu Á tăng 2,7%, Việt Nam tăng 3,5%, Trung Quốc tăng 2,7%, tuy nhiên đối với Nhật Bản thì trong vòng 10 năm đầu lợn giảm đi mỗi năm là 0,7% (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [5]. Theo thống kê năm 2005 của FAO các nƣớc phát triển chăn nuôi lợn đứng đầu thế giới (tính theo số lƣợng) bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Ba Lan, Đan Mạch, Việt Nam, Đức, Nga, Canada, Bỉ,...Theo số liệu năm 1997 từ Cục nghiên cứu Nông nghiệp nƣớc ngoài của Mỹ, các nƣớc tiêu thụ nhiều thịt lợn (kg/ngƣời/năm) gồm Đan Mạch, Tây Ban Nha, Hồng Kông, Đức, Hungary, Đài Loan, Ba Lan, Thụy Điển, Pháp, Trung Quốc...(www.thuvienkhoahoc.com) [29]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. 9 Theo thông tin của Viện chăn nuôi tháng 12 năm 2007 (www.vcn.vnn.vn) [30]: “Đàn lợn nuôi tại Trung Quốc đã tăng 3,4% so với tháng trƣớc và số đàn lợn sẵn sàng xuất chuồng tăng 9,9%. Năm 2007, Trung Quốc có thể nhập khẩu 100.000 tấn thịt lợn, cao gấp 4 lần so với 2006 nhằm đáp ứng nhu cầu trong nƣớc”. Trong những năm qua ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đã đạt đƣợc những thành tựu trong việc tăng số lƣợng và nâng cao chất lƣợng đàn lợn. Ngành công nghiệp chăn nuôi lợn trên thế giới là một minh chứng thành công cho sự áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, mà mục đích cao cả là nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lƣợng của sản phẩm cuối cùng. 1.1.2 .Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam Trƣớc đây, nông dân chủ yếu nuôi lợn để tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp (cám gạo, cám ngô, khoai, sắn, rau, bèo...). Ngoài mục đích chăn nuôi để tăng thu nhập (từ bán lợn thịt, lợn giống), nông dân còn tận dụng các chất thải từ chăn nuôi lợn (phân, chất độn chuồng) làm nguồn phân hữu cơ chính cho nhiều loại cây trồng. Lợi nhuận từ chăn nuôi lợn không đáng là bao chủ yếu là lấy công làm lãi, tránh bỏ phí phụ phẩm nông nghiệp và nhiều ngƣời coi nuôi lợn nhƣ cách "bỏ tiền tiết kiệm vào ống". Ở trung du và miền núi còn có hình thức nuôi lợn thả rông. Tuy vậy, trƣớc đây ở nƣớc ta cũng đã phát triển mô hình trại chăn nuôi hợp tác xã, thành lập các nông trƣờng, trong đó có các trại chăn nuôi cùng với một số trung tâm giống ở các địa phƣơng, cung cấp giống cho bà con nông dân. Một số trung tâm mổ và chế biến thịt lợn đã hoạt động và nƣớc ta đã xuất khẩu thịt lợn sang các nƣớc thuộc Liên Xô cũ và một số nƣớc Đông Âu. Từ khi có những chính sách kinh tế mới nói chung và những chính sách trong nông nghiệp nói riêng của thời kỳ đổi mới, nền nông nghiệp của ta, trong đó có ngành chăn nuôi đã có những thay đổi rất lớn trong tất cả các khâu từ nghiên cứu lai tạo giống, quy trình chăn nuôi, đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hình thức chăn nuôi truyền thống của bà con ta vẫn còn, nhƣng cũng xuất hiện không ít các mô hình chăn nuôi hiện đại từ quy mô hộ gia đình đến các trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. 10 tâm, công ty v.v. Trƣớc sự cạnh tranh về chất lƣợng và giá sản phẩm ở cả thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, chăn nuôi lợn của ta đang tiếp tục đứng trƣớc các vấn đề cần giải quyết, nhƣ nâng cao chất lƣợng giống, nhập và lai tạo giống bên cạnh bảo tồn và phát huy ƣu điểm của các giống bản địa, hiện đại hóa quy trình chăn nuôi, quy trình chế biến, đảm bảo tiêu chuẩn trong nƣớc và quốc tế về vệ sinh thực phẩm...(www.thuvienkhoahoc.com) [29]. Việt Nam là một trong những nƣớc nuôi nhiều lợn. Theo số liệu thống kê của FAO năm 1998 Việt Nam có 18,06 triệu con, đứng hàng thứ 7 trên thế giới, sau các nƣớc: Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đức, Ba Lan, Tây Ban Nha, đứng hàng đầu các nƣớc Đông Nam Á và đứng hàng thứ 2 ở Châu Á. Theo niên giám thống kê của Tổng cục thống kê năm 2002 đàn lợn cả nƣớc có 23,169 triệu con. Trong giai đoạn từ năm 1990 -2002, đàn lợn tăng bình quân 6,84 %/năm, đàn nái tăng 2,6%, tổng sản lƣợng thịt hơi tăng 16,75%. Bình quân khối lƣợng xuất chuồng tăng 2,75% và bình quân thịt hơi trên đầu ngƣời tăng 8,43%. Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngành chăn nuôi lợn đã có những bƣớc phát triển đáng phấn khởi. Tổng đàn lợn năm 1969 là 9,023 triệu con, trong giai đoạn 1974 -1976 có xu hƣớng giảm xuống, chỉ có 8,867 triệu con vào năm 1976. Trong giai đoạn từ 1979-1981 đàn lợn bắt đầu tăng lên, đạt 9,396 triệu con vào năm 1981 và tiếp tục tăng một cách vững chắc trong các năm tiếp theo. Năm 1990 đạt 12,9 triệu con, năm 1995 đạt 16,307 triệu con, năm 2003 đạt 24,884 triệu con và đến cuối năm 2007 đàn lợn cả nƣớc đạt 26,561 triệu con. Về sản lƣợng thịt lợn, trong các năm qua sản lƣợng thịt lợn đã tăng rất nhanh, từ 0,292 triệu tấn năm 1980 đã tăng lên 1,653 triệu tấn vào năm 2002, 1,800 tấn vào năm 2003. Khối lƣợng xuất chuồng từ 48 kg năm 1980 tăng lên 69 kg năm 1996. Hiện nay chăn nuôi lợn cung cấp khoảng 70% nhu cầu v ề thịt cho nhu cầu trong nƣớc (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [5]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. 11 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở nƣớc ta không đồng đều giữa các địa phƣơng, kể cả việc phát triển số đàn lợn cũng nhƣ năng suất chăn nuôi lợn. Vùng Đồng bằng sông Hồng có số lƣợng đàn lợn cao nhất, chiếm 27,34% tổng đàn lợn trong cả nƣớc, vùng Tây Nguyên và Đông nam bộ có số lƣợng đàn thấp nhất chỉ chiếm từ 5,58-6,66%. Về năng suất chăn nuôi cũng không đồng đều giữa các vùng sinh thái. Về chỉ tiêu sản lƣợng thịt lợn hơi sản xuất ra của 1 l ợn nái trong 1 năm nhƣ sau: bình quân cả nƣớc, 1 lợn nái 1 năm sản xuất đƣợc 478,5 kg, trong khi ở Miền Bắc thành tích ấy là 419,7 kg, Miền đông Nam Bộ là 662,0 kg, ở Đồng bằng sông Cửu Long là 761,7 kg; còn ở Trung du Miền núi 1 lợn nái 1 năm chỉ sản xuất đƣợc 322,5 kg (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [5]. Về công tác giống lợn đã tiến hành điều tra cơ bản ở từng khu vực và toàn quốc; kết quả điều tra đã góp phần vẽ nên bức tranh hiện trạng chăn nuôi trong toàn quốc và khu vực. Để cải tiến giống lợn, đã tiến hành nhập các giống lợn ngoại nhƣ: lợn Landrace từ Liên Xô (cũ) năm 1968, lợn Yorkshire từ Cu Ba năm 1981, lợn Edel (Đông Đức) năm 1974, năm 1970 nhập lợn Landrace từ Trung Quốc, lợn Duroc từ năm 1978…Trong các năm về sau đã tiến hành nhập các giống lợn nhƣ Duroc, Pietrain, Landrace, Yorkshire.. từ nhiều nƣớc khác nhau nhƣ Nhật, Bỉ, Anh, Pháp, Canada, Mỹ… nhằm làm tƣơi máu các giống lợn ngoại đã có ở trong nƣớc và cải tạo đàn lợn nội trong nƣớc. Việc cải tạo đàn giống địa phƣơng bằng việc tăng cƣờng công tác chọn lọc và lai tạo với các giống lợn nhập nội cao sản n hƣ: Pietrain, Landrace, Yorkshire… đã góp phần nâng cao đáng kể năng suất chăn nuôi lợn. Các công thức lai kinh tế giữa đực ngoại với cái nội rất có hiệu quả trong các năm qua là: Lợn đực đại Bạch x nái Móng Cái (hoặc nái Ỉ, Thuộc Nhiêu, Ba Xuyên…), Landrace x Móng cái, Landrace x Lang Hồng… Ở các tỉnh phía Bắc công thức lai (Đại Bạch x Móng cái) đƣợc áp dụng rộng rãi nhất nhờ chủ trƣơng “Móng Cái hoá” đàn lợn nái, hiện nay đàn lợn nái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. 12 Móng Cái chiếm 40-45% và nái lai (Đại Bạch x Móng cái) chiếm 35-40% trong tổng đàn lợn nái của các tỉnh phía Bắc. Ở các tỉnh phía Nam, đàn lợn nái lai 50%, máu ngoại chiếm 60-65%, nái nội chiếm 30% tổng đàn nái. Hiện nay, do nhu cầu của nhân dân về thịt lợn nạc ngày càng cao, việc nghiên cứu đƣa vào chăn nuôi đại trà lợn lai có tỷ lệ máu ngoại cao hoặc giữa các giống lợn ngoại với nhau là một việc làm cần thiết và đã đạt đƣợc những tiến bộ đáng kể. Trong thời gian qua, chăn nuôi lợn đã tăng tỷ lệ thịt nạc từ 33,6% ở lợn nội lên 40,6% ở lợn lai (Miền bắc) và từ 34,5 % ở lợn nội lên 42,6% ở lợn lai (Miền nam). Hiện nay, cả nƣớc sản xuất khoảng 3,5 triệu lợn ngoại có tỷ lệ nạc trung bình trên 51% chất lƣợng tốt, khối lƣợng thịt trung bình 80-95 kg, sản xuất 12 triệu lợn lai nội với lợn ngoại, khối lƣợng trung bình 65-85 kg, tỷ lệ nạc trung bình 38-51% tuỳ từng công thức lai. Khoảng 6 triệu lợn nội thuần, chủ yếu nuôi ở vùng sâu, vùng xa, khối lƣợng trung bình 35-55 kg/con. Thức ăn chăn nuôi chiếm 70% chi phí giá thành sản ph ẩm chăn nuôi. Do đó nghiên cứu và đầu tƣ công nghệ cho chế biến thức ăn chăn nuôi trong những năm gần đây đƣợc quan tâm nhiều hơn. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng từ 3,8-4,0 kg giảm xuống còn 2,9-3,1 kg đối với lợn trong nghiên cứu. Công nghiệp sản xuất và chế biến thức ăn cho lợn đã và đang phát triển rất nhanh, là một trong những yếu tố cơ bản góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở nƣớc ta. Tuy nhiên, trong những năm tới, ngành chăn nuôi còn rất nhiều thách thức, đó là giá thức ăn gia súc cao, chất l ƣợng thức ăn chƣa đƣợc kiểm soát, năng suất ngành chăn nuôi thấp, hệ thống giống vật nuôi chƣa hình thành, nƣớc ta vẫn cơ bản không tránh khỏi tình trạng thiếu nghiêm trọng nguyên liệu làm thức ăn dùng cho chăn nuôi, thị trƣờng tiêu thụ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tình hình dịch bệnh vẫn là mối đe doạ đối với vật nuôi, hội nhập kinh tế khu vực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. 13 (AFTA) và kinh tế thế giới (WTO) vừa là thuận lợi, vừa là thách thức đối với ngành chăn nuôi. Trong những giải pháp góp phần đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển chăn nuôi đó là hệ thống chính sách, trong đó quan trọng nhất là chính sách liên quan đến giống vật nuôi, chính sách đối với sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi. Trong sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi, phải tạo đƣợc nguyên liệu thức ăn với giá thành hạ. Tạo điều kiện để ngƣời sản xuất ngô lai trong nƣớc, nâng sản lƣợng từ 2,13 triệu tấn (trong đó dành cho chăn nuôi khoảng 1,2 triệu tấn) tăng lên 5 triệu tấn cho chăn nuôi vào năm 2010. Hỗ trợ nghiên cứu dinh dƣỡng vật nuôi và khuyến nông trong áp dụng sản xuất, chế biến và sử dụng thức ăn chăn nuôi khoa học và hợp lý (Nguyễn Đăng Vang, 2002) [13]. Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nƣớc ta đã tăng trƣởng khá về tổng đàn, chất lƣợng đàn cũng nhƣ quy mô sản xuất, kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, so với yêu cầu và khả năng thì kết quả này còn quá khiêm tốn. Tình hình chăn nuôi lợn ở các tỉnh cũng có sự khác biệt. Hầu hết những tỉnh có số lƣợng đầu lợn cao tập trung ở phía Bắc, bởi vì các tỉnh này vừa qua đã phát triển mạnh loại lợn sữa và lợn choai xuất khẩu. Các tỉnh có đàn lợn lớn nhất là: Hải Dƣơng: 0, 6 triệu con, Bắc Giang: 0,7 triệu con, Hà Tây: 0,9 triệu con, Thái Bình 0,7 triệu con, Thanh Hóa: 1,1 triệu con, Nghệ An: 0,8 triệu con, Đồng Nai: 0,6 triệu con. Các tỉnh còn lại đều có số lƣợng lợn nuôi dƣới 400.000 con (www.vcn.vnn.vn) [30]. 1.1.3. Tình hình chăn nuôi lợn ở Tuyên Quang Tuyên Quang là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc, có diện tích: 5.868 km2, dân số: 727.751 ngƣời. Tỉnh Tuyên Quang có quy mô diện tích ở mức trung bình so với cả nƣớc, bình quân diện tích tự nhiên theo đầu ngƣời là 0,87 ha/ngƣời (năm 2004). Đất đai Tuyên Quang tƣơng đối tốt, có thể tạo ra vùng chuyên canh chè, mía, lạc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Diện tích đất nông nghiệp: 70.195 ha, chiếm 11,96%, đất lâm ngh iệp có rừng 445.848 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. 14 ha, chiếm 76,16%, đất ở 5.156 ha và đất chƣa sử dụng 26.765 ha (www.tuyenquang.gov.vn) [31]. Định hƣớng phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 của tỉnh đã xác định là: Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, phấn đấu tốc độ tăng trƣởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm trên 14%. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hƣớng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế (đến năm 2010) : Công nghiệp, xây dựng 40%; Các ngành dịch vụ 35%; Nông lâm nghiệp 25%. Đẩy mạnh phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế của tỉnh, phát triển nhanh các ngành dịch vụ, nhất là du lịch, đồng thời tiếp tục co i trọng phát triển kinh tế nông lâm nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá, gắn với thị trƣờng. Khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, lợi thế của tỉnh, mở rộng hợp tác, liên doanh, liên kết, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, chủ động hội nhập kinh tế; đột phá mạnh trên các lĩnh vực quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phát triển công nghiệp, giao thông, thông tin, các chính sách khuyến khích ƣu đãi và kêu gọi đầu tƣ, cải cách hành chính. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng để có giá trị kinh tế cao; đổi mới công nghệ chế biến nâng cao chất lƣợng sản phẩm trong nông nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế chính sách ƣu đãi đầu tƣ, tạo môi tr ƣờng thông thoáng và thuận lợi thu hút các nguồn lực để đầu tƣ, phát triển kinh tế. Phát huy hiệu quả nội lực, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Triển khai thực hiện các dự án phát triển công nghiệp, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Phấn đấu đƣa Tuyên Quang trở thành một tỉnh có nền kinh tế phất triển cân đối, vững chắc theo cơ cấu Công nghiệp-dịch vụ-nông lâm nghiệp (1www.tuyenquang.gov.vn) [32]. Đối với tỉnh Tuyên Quang có tiềm năng về phát triển chăn nuôi, với nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn tƣơng đối dồi dào ; trong đó chủ yếu là lúa, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. 15 ngô, đậu đỗ, khoai lang, sắn; hiện nay đang áp dụng các loại giống mới để nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm (IFAD, 2001) [26]. Tổng đàn lợn của Tuyên Quang tăng dần qua các năm, năm 2005 tổng đàn lợn của tỉnh là 343.011 con, năm 2006 là 390.445 con và năm 2007 là 418.106 con. Tốc độ tăng đàn lợn của tỉnh bình quân từ năm 2005 đến năm 2007 là 10,41%. Mô hình chăn nuôi lợn của tỉnh đang phát triển theo hƣớng chăn nuôi tập trung với quy mô lớn tạo sản phẩm hàng hoá. Đã xuất hiện nhiều hộ gia đình nuôi lợn hƣớng nạc. Chăn nuôi lợn nái sinh sản tại tỉnh đã bắt đầu đƣợc quan tâm và từng bƣớc phát triển. Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi còn nhỏ, qua điều tra 1.347 hộ chăn nuôi tại 5 huyện trong tỉnh, chỉ có 477 hộ nuôi lợn nái chiếm 35,41%, trong đó đa phần chỉ nuôi 1 con chiếm 87,21%, số hộ nuôi 2 con chiếm 12,79%. Các chỉ tiêu về khối lƣợng lợn con ở các độ tuổi khác nhau còn thấp, điều này cho thấy mức độ đầu tƣ về kỹ thuật và thức ăn củ a các hộ chăn nuôi còn hạn chế (Trần Văn Phùng, 2005) [6]. Mô hình chăn nuôi theo kiểu tận dụng của hộ gia đình vẫn còn là chủ yếu tại các địa phƣơng trong tỉnh, hình thức chăn nuôi này chƣa thực sự phát huy đƣợc hiệu quả (Vũ Quốc Huy và cs, 2006 ) [3]. 1.2. Cơ sở khoa học của đề tài 1.2.1. Một số vấn đề liên quan đến công tác giống lợn: Lai tạo là một biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lƣợng sản phẩm thông qua tận dụng ƣu thế lai. Hiện nay, rất nhiều chƣơng trình lai tạo, nhân giống lợn nuôi thịt. Thuật ngữ ƣu thế lai lần đầu tiên đƣợc nhà khoa học ngƣời Mỹ tên là Shull đề xuất vào năm 1914. Theo ông, ƣu thế lai là tập hợp của những hiện tƣợng li ên quan đến sức phát triển nhanh hơn, khả năng chống chịu bệnh tốt hơn và năng suất cao hơn ở thế hệ đời con so với bố mẹ. Hiện nay ở nhiều nƣớc có chăn nuôi lợn phát triển, 70 - 90% lợn nuôi thịt là lợn lai hybrid. Tại đó, ƣu thế lai đƣợc coi nhƣ là một nguồn lực sinh học để tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. 16 Định hƣớng nghiên cứu và phát triển đàn lợn lai đến năm 2010 là phải “chọn lọc và nhân thuần các giống lợn ngoại có năng suất và chất lƣợng cao theo dòng, có đặc điểm năng suất khác nhau: Dòng có khả năng tăng trọng cao và tỷ lệ nạc nhiều. Dòng có khả năng sinh sản tốt và chuyển hoá thức ăn hiệu quả cao” (Nguyễn Thiện, 1998) [9]. Tại Việt Nam hiện nay, rất nhiều chƣơng trình lai tạo ra lợn nuôi thịt có 4 - 5 máu trong đó có hệ thống nhân giống hình tháp của công ty PIC (Công ty giống lợn Anh Quốc, hiện đã đƣợc chuyển giao cho Việt Nam). Đây là một mô hình giống chiếm khoảng 30% thị phần sản xuất giống lợn lai hybrid của Việt Nam. Với 3 dòng thuần đàn cụ kỵ là dòng L11 (giống Yorkshire, c huyên hóa theo tăng khối lƣợng, tỷ lệ nạc), dòng L06 (giống Landrace chuyên hoá theo khả năng sinh sản) và dòng L64 (giống Pietran chuyên hoá theo tỷ lệ nạc cao) và 2 dòng tổng hợp là L19 và L95. Để tạo ra lợn lai nuôi thịt, ngƣời ta thƣờng cho lợn đực giống dòng 402 lai với lợn nái CA và C22. Lợn đực 402 đƣợc tạo ra từ việc cho lai tạo giữa lợn đực dòng L64 và lợn nái dòng L11. Lợn nái C22 và CA thuộc cấp giống bố mẹ, đƣợc tạo ra bằng cách cho lai giữa lợn đực L19 với lợn nái C1050 và C1230. Lợn nái C22 có đặc điểm là toàn thân có màu trắng, bốn chân chắc khoẻ, thân hình phát triển cân đối. Khả năng sinh sản cao, đẻ sai con (từ 10 - 12 con/ổ), nuôi con khéo. Khi cho lai với đực 402 sẽ tạo ra lợn lai nuôi thịt có 4 máu. Lợn nái CA có đặc điểm ngoại hình là toàn thân có màu trắng, tầm vóc trung bình, đẻ sai con (11 - 13 con/ổ), nuôi con khéo. Khi cho lai với lợn đực 402 sẽ tạo ra con lai hybrid 5 máu để nuôi thịt. Lợn lai hybrid nuôi thịt 4 hoặc 5 máu có năng suất chăn nuôi cao, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao), phù hợp với phƣơng thức chăn nuôi công nghiệp hiện nay, đƣợc thị trƣờng ƣa chuộng. Tuy nhiên, để đạt đƣợc mục tiêu này, cần phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về dinh dƣỡng (số lƣợng và chất lƣợng thức ăn), về chăm sóc nuôi dƣỡng. Lợn Landrace xuất phát từ Đan Mạch; là một giống đã đƣợc cải tiến theo hƣớng chóng thành thục, tăng trọng nhanh và tỷ lệ nạc cao. Lợn Landrace có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. 17 màu lông trắng tuyền; mình dài, tai to cúp về phía trƣớc, bụng thon. Lợn đực trƣởng thành nặng 300-320 kg, con cái nặng 220-250 kg. Lợn nuôi thịt 6 tháng đạt 100 kg, tỷ lệ nạc 56%. Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba năm 1970. Những năm 1975-1986 nhập lợn Landrace từ Bỉ và Nhật. Ở Việt Nam lợn Landrace dùng để lai kinh tế và nuôi thuần nhằm thực hiện nạc hoá đàn lợn. Sử dụng công thức lai 1/2 máu Landrace, 1/4 máu lợn Đại bạch, 1/4 máu lợn Móng cái, con lai có thể đạt 100 kg lúc 6 tháng tuổi, đ ạt tỷ lệ nạc 46-48% thịt xẻ ( Nguyễn Thiện và cs, 1998) [9]. Một trong những kết quả nổi bật về nghiên cứu chăn nuôi gia súc trong 20 năm (1985-2005) đã đánh giá kết quả về công tác giống “Nhập nội và thích nghi các dòng lợn mới thuộc các giống Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain để làm tƣơi máu các dòng lợn cũ và để lai kinh tế” (Nguyễn Văn Thiện, 2005) [10]. Nghiên cứu về giá trị di truyền và kiểu hình của một số tính trạng sản xuất trên giống lợn Landrace có nguồn gốc nhập nội khác nhau, cho thấy nguồn giống nhập từ Đan Mạch có kết quả tốt nhất về khả năng sinh sản, khả năng nuôi con và khả năng sinh trƣởng; tiếp theo là giống nhập từ Mỹ, Úc (Nguyễn Hữu Tỉnh và cs, 2006) [28]. 1.2.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con: Để đạt đƣợc mục đích chăn nuôi lợn con đạt khối lƣợng cai sữa cao, lợn sinh trƣởng phát triển nhanh, bên cạnh việc chăm sóc tốt, chúng ta cần hiểu rõ các đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ, đặc biệt là đặc điểm của cơ quan tiêu hoá lợn con để từ đó bố trí khẩu phần thức ăn phù hợp. Đặc điểm cơ quan tiêu hoá của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức n ăng: Dung tích của dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít). Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc s ơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần. Dung tích ruột già của lợn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. 18 con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần. Chức năng tiêu hoá của một số men ở lợn con mới sơ sinh chƣa có hoạt lực cao, trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hoá của men tiêu hoá đƣợc hoàn thiện. - Men pepsin: Lợn con dƣới một tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chƣa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này trong dịch vị dạ dày lợn không có HCl tự do, lƣợng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy của dạ dày, gây ra hiện tƣợng thiếu axit hay còn gọi là "Hypoclohydric". Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con. Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt men pepsinogen và men này mới có khả năng tiêu hoá.Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nẩy nở và phát triển gây ra các bệnh về đƣờng tiêu hoá ở lợn con. Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 5-7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể đƣợc tiết ra từ ngày tuổi thứ 14. - Men amylaza và maltaza: Hai men này có trong nƣớc bọt và trong dịch tụy lợn con từ lúc mới đẻ, nhƣng dƣới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con còn kém, chỉ tiêu hoá đƣợc 50 % lƣợng tinh bột ăn vào. Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém. Sau 3 tuần tuổi , men amylaza và maltaza mới có hoạt tính mạnh, nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn. - Men saccaraza: Đối với lợn con dƣới 2 tuần tuổi men saccaraza hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đƣờng mía vào giai đoạn này thì rất dễ bị ỉa chảy. Nếu có bổ sung đƣờng nên bổ sung loại đƣờng 6 cacbon nhƣ glucose, fructose. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. 19 - Men trypsin: Là men tiêu hoá protein của thức ăn, ở thai lợn lúc 2 tháng tuổi, trong chất tiết đã có men trypsin, thai càng lớn, họat tính của men trypsin càng cao. Khi lợn con mới đẻ ra, men trypsin của dịch tuỵ là rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày. - Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa. Đối với lợn con ở 3 tuần tuổi đầu, men catepsin có hoạt tính mạnh, sau đó hoạt tính giảm dần. - Men lactaza: Có tác dụng tiêu hoá đƣờng lactoza trong sữa. Men này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần. - Men lipaza và chymosin: Hai men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó sau đó hoạt tính giảm dần. Vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện phát triển gây bệnh đƣờng dạ dày, ruột non lợn con, men pepsin không hoạt động hoặc hoạt động kém. Tác dụng tiêu hoá lúc này chủ yếu là men chymosin. Men này tăng dần lên từ lúc lợn mới sinh đến lúc 1 tháng tuổi và sau đó thì giảm xuống. Bù vào đó men pepsin lúc này đã có khả năng hoạt động và đƣợc tiết ra tăng dần (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [2]. Lợn con dƣới 30 ngày tuổi HCl ở dạng tự do hầu nhƣ chƣa có vì lúc này lƣợng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy của dạ dày (Nguyễn Thiện và cs, 2005) [10]. Lợn con mới đẻ trong cơ thể gần nhƣ chƣa có kháng thể. Lƣợng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con đƣợc bú sữa đầu của lợn mẹ. Trong sữa đầu của lợn nái có hàm lƣợng protein rất cao (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [6]. Thông thƣờng lợn con sau cai sữa thƣờng rất hay bị tổn thƣơng nhung mao ở thành ruột non do ảnh hƣởng của thức ăn, khi đó sẽ giảm khả năng sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2